Trường Đại học Nha Trang
Khoa Kinh tế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢNG NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Sinh viên: Lê Thị Thu Hà
Lớp: Quản trị kinh doanh du lịch
Đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu mua sắm của khách du lịch quốc tế đối với
các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Khánh Hòa”
Nhận xét:
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Nha Trang, ngày… tháng 07 năm 2012
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
ThS. Lê Chí Công
MỤC LỤC
1.3.4.1 Yếu tố văn hóa 27
1.3.4.2 Yếu tố xã hội 27
1.4 Tổng quan về sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch 28
1.4.1 Khái niệm 28
1.4.2 Đặc điểm của sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch 29
1.4.2.1 Tính văn hóa 29
1.4.2.2 Tính thẩm mỹ 30
1.4.2.3 Tính đơn chiếc 30
1.4.2.4 Tính đa dạng 31
1.4.2.5 Tính thủ công 31
1.4.3 Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam phục vụ du lịch 31
1.4.3.1 Hàng gốm sứ 32
1.4.3.2 Mây tre đan 33
1.4.3.3 Đồ thủ công mỹ nghệ làm từ gỗ 34
1.4.3.4 Thêu ren 34
1.4.4 Tình hình phát triển hiện nay 35
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU NHU CẦU MUA SẮM SẢN PHẨM THỦ
CÔNG MỸ NGHỆ TẠI KHÁNH HÒA CỦA KHÁCH DU LỊCH QUỐC
TẾ 38
2.1 Giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch tại
Khánh Hòa 38
2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ của khách du lịch quốc tế tại Khánh Hòa 44
2.2.1 Một số thông tin liên quan đến du lịch Khánh Hòa 44
2.2.2 Thông tin về kết quả điều tra nhu cầu của du khách đối với sản
phẩm thủ công mỹ nghệ Khánh Hòa 48
2.2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 48
2.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 48
2.2.2.3 Phân tích kết quả điều tra thị trường 48
2.2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm các sản
của khách du lịch quốc tế 55
Biểu đồ 2.5 Độ tuổi của khách du lịch quốc tế 58
Biểu đồ 2.6 Trình độ học vấn của khách du lịch quốc tế 59
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ tình trạng hôn nhân của Khách du lịch quốc tế trong
quá trình điều tra 59
Biểu đồ 2.8 Mức độ chi tiêu cho mỗi chuyến du lịch của khách du lịch
quốc tế 68
Biểu đồ 2.9: Cách thức tổ chức du lịch của du khách 72
Biểu đồ 2.10: Đối tượng tham gia du lịch cùng khách du lịch quốc tế 73
Biểu đồ 3.1 Nhu cầu mua lại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của
khách du lịch quốc tê 82
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội của ngành
Du lịch Khánh Hòa 47
Bảng 2.2 Thống kê số liệu lượt khách quốc tế đến Khánh Hòa trong 3
năm gần 48
Bảng 2.3: Mô tả mẫu nghiên cứu 50
Bảng 2.4: Đánh giá của du khách quốc tế về tài nguyên du lịch lớn
nhất của Khánh Hòa 51
Bảng 2.5 Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Khánh Hòa mà khách
du lịch quốc tế đã từng mua 53
Bảng 2.6 Địa điểm mua các sản phẩm thủ công mỹ nghệ 54
Bảng 2.7 Nguồn thông tin nhận biết sản phẩm thủ công mỹ nghệ của
khách du lịch quốc tế 56
Bảng 2.8 Nhu cầu mua sắm của khách du lịch quốc tế theo các yếu tố
thuộc về đặc điểm cá nhân 60
Bảng 2.9 Mục đích mua sản phẩm thủ công mỹ nghệ của khách du
lịch quốc tế theo các nhóm 62
Bảng 2.10 Đánh giá của khách du lịch QT về sự đa dạng các sản phẩm
TCMN Khánh Hòa 64
Bảng 2.11 Đánh giá của khách du lịch quốc tế về kiểu dáng của các
Chính vì những lí do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu
nhu cầu mua sắm của khách du lịch quốc tế dối với các sản phẩm thủ công
mỹ nghệ Khánh Hòa” cho khóa luận tốt nghiệp. Tác giả hy vọng rằng với
những khảo sát thực tế nhu cầu mua sắm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của
du khách quốc tế nhằm đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản phẩm, và
thu hút được sự quan tâm của du khách, mang lại giá trị cho du lịch Khánh
Hòa đáp ứng yêu cầu lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm của khách du
lịch quốc tế đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Khánh Hòa.
Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
để đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách du lịch Quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khách du lịch quốc tế đã từng và chưa từng có nhu
cầu mua sắm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khi đi du lịch tại Khánh Hòa.
Phạm vi nghiên cứu: Trong địa bàn Thành phố Nha Trang và các địa
phương lân cận. Thời gian thực hiện từ 01/03 đến 15/06/2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính để tìm ra các nhân tố và các biến quan sát ảnh
hưởng tới nhu cầu mua sắm của khách du lịch Quốc tế đối với sản phẩm thủ
công mỹ nghệ tại Khánh Hòa.
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp (điều tra khách du lịch quốc tế về
nhu cầu đối với việc mua sắm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khi đến du lịch
tại Khánh Hòa); một số dữ liệu thứ cấp về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
phục vụ du lịch.
Sử dụng phần mềm Excel và phương pháp thống kê mô tả để phân tích
các kết quả nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận thì đề tài được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về nhu cầu của khách du lịch quốc tế
đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ.
Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và Krapf (hai nhà khoa học được xem là người
đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra khái niệm "Du lịch là tập
SVTH: Lê Thị Thu Hà 2
hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và
lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành
cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời".
Đại hội lần thứ 5 của Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học
về du lịch chấp nhận khái niệm này làm cơ sở cho môn khoa học du lịch.
Nhìn chung, các tác giả định nghĩa đã thành công trong việc mở rộng và bao
quát đầy đủ hơn hiện tượng du lịch. Khái niệm đã tiến một bước về lý thuyết
trong việc nghiên cứu nội dung của du lịch. Nhìn chung, mặc dù khái niệm có
những thành công nhất định, song nó vẫn chưa giới hạn được đầy đủ những
đặc trưng về lĩnh vực du lịch và các hiện tượng của mối quan hệ du lịch (kinh
tế, xã hội, văn hóa v.v ). Thêm vào đó, khái niệm bỏ qua hoạt động của các
doanh nghiệp giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ
sản xuất hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách du lịch.
Tác giả Michael Coltman cho rằng "Du lịch là sự kết hợp và tương tác
của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà
cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du
lịch".
Khoa Du lịch và Khách sạn (trường Đại học Kinh tế quốc dân) đã tổng
hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt
Nam trong thời gian qua và đưa ra quan điểm "Du lịch là một ngành kinh
doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi
hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi
lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của
khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội
thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp".
SVTH: Lê Thị Thu Hà 4
1.1.2 Khách du lịch
Định nghĩa khách du lịch xuất hiện đầu tiên vào cuối thế kỷ XVIII tại
Pháp, theo đó "Khách du lịch là người thực hiện một cuộc hành trình lớn".
Vào năm 1800, người Anh cũng định nghĩa "Khách du lịch là người thực hiện
cuộc hành trình lớn trên đất liền xuyên nước Anh".
Định nghĩa của Liên Hiệp các quốc gia thì: “Khách du lịch nước ngoài –
(FT) là bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của
mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”.
Năm 1978, tiểu ban về các vấn đề kinh tế - xã hội trực thuộc Liên Hiệp
Quốc (UNDESA) cho rằng: “Khách viếng thăm quốc tế (IV) là tất cả những
người từ nước ngoài đến thăm một đất nước (given country) - chúng ta gọi là
khách du lịch chủ động (Inbound tourist); hoặc tất cả những người từ một
nước đi ra nước ngoài viếng thăm - chúng ta gọi là khách du lịch thụ động
(Outbound tourist) với khoảng thời gian nhiều nhất là một năm”. “Khách du
lịch nội địa (DT) là công dân của một nước (không kể quốc tịch) hành trình
đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong
khoảng thời gian ít nhất là 24h hay 01 đêm với mọi mục đích trừ mục đích
hoạt động để trả thù lao tại nơi đến”. Tiểu ban cũng thống nhất về động cơ
của mỗi cuộc hành trình, có thể chia thành 02 nhóm động cơ như sau:
Thứ nhất, nghỉ ngơi, giải trí, kỳ nghỉ, sức khỏe, học tập, tôn giáo, thể
thao.
Thứ hai, kinh doanh, gia đình, công vụ, gặp gỡ.
Mặc dù con rất nhiều định nghĩa khác có liên quan đến khách du lịch -
khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa, song xét một cách tổng quát
chúng đều có một số điểm chung nổi bật như sau:
SVTH: Lê Thị Thu Hà 5
1.1.3.1 Khái niệm
Năm 1937, Ủy ban thống kê Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về khách
du lịch quốc tế như sau: “Du khách quốc tế là những người thăm viếng một
quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất
là 24h”.
Pháp lệnh du lịch của Việt Nam năm 1999 cho rằng: “Khách du lịch
quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt
Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
Từ khái niệm trên ta thấy rằng những người được coi là khách du lịch
quốc tế bao gồm:
Những người đi vì lý do giải trí, lý do sức khỏe, gia đình, …
Những người tham gia các hội nghị, hội thảo của tổ chức quốc tế, các
đại hội thể thao, Olympic…
Những người đi với mục đích kinh doanh công vụ (tìm hiểu thị trường,
kí kết hợp đồng…).
Những người không được coi là khách quốc tế bao gồm:
Những người đi sang nước khác hành nghề, những người tham gia vào
các hoạt đọng kinh doanh ở các nước đến.
Những người nhập cư.
Các học sinh, sinh viên đến để học tập.
Những người cư dân ở vùng biên giới, những người cư trú ở một quốc
gia và đi làm ở một quốc gia khác.
Những người thường xuyên qua một quốc gia và không dừng lại cho dù
cuộc hành trình kéo dài trên 24h.
1.1.3.2 Đặc điểm khách du lịch Quốc tế
SVTH: Lê Thị Thu Hà 7
Khách du lịch quốc tế được xem là phân khúc quan trọng nhất của hoạt
động kinh doanh du lịch bởi vì họ có những đặc điểm quan trọng như sau:
Thường là những đối tượng có thu nhập khá cao;
đánh giá chất lượng của sản phẩm du lịch vô cùng khó khăn vì thường mang
tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ
thuộc vào khách du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch được xác định dựa vào
sự chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của
khách du lịch.
Chính vì đặc điểm này của sản phẩm du lịch nên đã có nhiều ý kiến cho
rằng trong lĩnh vực du lịch việc sử dụng thuật ngữ "sản phẩm du lịch" để chỉ
kết quả của quá trình lao động du lịch là không chính xác bằng thuật ngữ
"dịch vụ du lịch". Tuy vậy, theo quan điểm của tác giả, việc sử dụng thuật ngữ
"sản phẩm du lịch" là phù hợp bởi lý do sau:
Trước hết, sản phẩm du lịch thường gắn liền với yếu tố tài nguyên du
lịch. Theo đó, tài nguyên du lịch là tất cả những gì tạo nên sức hấp dấn thu
hút đối với người ngoài địa phương nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh
du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên vật chất (địa hình hấp dẫn, vị
trí địa lý thuận lợi, khí hậu phù hợp v.v ) và tài nguyên phi vật chất (giá trị
văn hóa địa phương). Do vậy, sản phẩm du lịch thường không thể dịch
chuyển được (hay nói cách khác không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có
du khách mà buộc khách du lịch phải đến với nơi có sản phẩm du lịch nhằm
thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch. Đặc
điểm này là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà kinh
doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm nhưng đồng thời cũng là cơ hội để
họ phát triển các hoạt động dịch vụ đi kèm của mình trong quá trình cung cấp
sản phẩm du lịch.
SVTH: Lê Thị Thu Hà 9
Thứ hai, phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch
trùng nhau về không gian và thời gian. Chúng không thể cất giữ, lưu kho như
các hàng hóa thông thường khác. Do đó, để tạo nên sự ăn khớp giữa quá trình
sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn. Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu
thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với nhà kinh doanh du
Tầm quan trọng của nhu cầu theo trình tự từ mức độ thấp đến mức độ
cao, các nhu cầu ở mức độ thấp được thỏa mãn trước khi các nhu cầu ở mức
độ cao phát sinh. Xét một cách cụ thể, thì nhu cầu du lịch mang tính tổng hợp,
đa dạng nó bao gồm cả nhu cầu sinh lí (như nhu cầu vận chuyển, ăn uống, lưu
trú…) và nhu cầu tinh thần (nghỉ ngơi, tham quan giải trí, nhu cầu tự khẳng
định) của con người. Tuy nhiên, xét một cách khái quát, nhu cầu du lịch ở
một thứ bậc cao vì nó phụ thuộc vào nhu cầu đặc trưng (nhu cầu nghỉ ngơi, tự
khẳng định…) của khách. Nhu cầu đặc trưng là nhu cầu cơ bản chi phối các
loại nhu cầu khác. Ngay cả nhu cầu thiết yếu (nhu cầu sinh lí) của khách du
lịch cũng phụ thuộc vào nhu cầu đặc trưng (nhu cầu tinh thần) của họ.
1.2.1.2 Sự phát triển của nhu cầu du lịch
Nhu cầu du lịch được xem là một nhu cầu thứ yếu. Vì thế nó chỉ có thể
được hình thành và phát triển khi cá nhân đã thỏa mãn được các nhu cầu bậc
SVTH: Lê Thị Thu Hà 11
thấp của mình, nói rộng ra nhu cầu du lịch của xã hội chỉ có thể phát triển khi
điều kiện kinh tế, chính trị văn hóa của xã hội được nâng cao.
Ngành du lịch ngày càng phát triển vì nhu cầu du lịch của con người
ngày càng phát triển, sự phát triển này do nhiều nguyên nhân trong đó có một
số nguyên nhân sau:
Khả năng thanh toán cao;
Chi phí du lịch ngày càng giảm dần;
Mức sống của người dân ngày càng được cải thiện;
Thời gian nhàn rỗi tăng lên;
Đi du lịch đã trở nên dễ dàng hơn với nhiều người;
Thay đổi trong cơ cấu độ tuổi (người nghỉ hưu nhiều, có điều kiện đi du
lịch);
Mức độ giáo dục cao hơn;
Cơ cấu nghề nghiệp đa dạng;
Quá trình đô thị hóa;
sinh, đặc điểm tiêu dùng của khách, các yếu tố ảnh hưởng đến từng loại nhu
cầu du lịch.
Thứ nhất, nhu cầu vận chuyển:
Nhu cầu vận chuyển là những đòi hỏi tất yếu về các phương tiện, dịch vụ
vận chuyển mà khách cần được thỏa mãn để thực hiện chuyến du lịch của
mình.
Do đặc điểm sản phảm du lịch mang tính cố định, vì vậy nó không thể
đến với người tiêu dùng như những hàng hóa thông dụng khác. Muốn tiêu
dung du lịch theo đúng nghĩa của nó tất yếu đòi hỏi con người phải di chuyển
từ nơi ở thường xuyên của mình đến điểm du lịch, điều này đòi hỏi phải có
SVTH: Lê Thị Thu Hà 13
những phương tiện dịch vụ vận chuyển đáp ứng. Mặc khác trong hoạt động
du lịch, khi khách đã di chuyển từ nơi ở thường xuyên đến điểm du lịch,
thường phải lưu trú tạm thời đến những điểm tham quan, giải trí ở điểm du
lịch.
Đối tượng thỏa mãn nhu cầu này đầu tiên phải đề cập đến chính là các
phương tiện vận chuyển như: máy bay, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, xe máy, xích
lô, xe đạp… Do chất lượng về cơ sở hạ tầng cũng như về phương tiện và dịch
vụ vận chuyển cho khách du lịch (đặc biệt là khách du lịch quốc tế, vì họ có
những yêu cầu đòi hỏi cao hơn) cần chú ý đến điều kiện tư nhiên, địa hình,
chất lượng, mức độ an toàn của phương tiện, tính chính xác và chuẩn mực
trong phục vụ của lái xe và hướng dẫn viên du lịch.
Bên cạnh các phương tiện vận chuyển, có thể xem các dịch vụ vận
chuyển cũng là đối tượng đáp ứng nhu cầu vận chuyển của khách. Các dịch
vụ vận chuyển thường lien quan đến khách du lịch như: các hang hàng không,
đường sắt, đường thủy, các công ty vận chuyển, công ty lữ hành, công ty du
lịch…
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vận chuyển có thể kể đến là:
Khoảng cách;
Các đặc điểm tâm sinh lí cá nhân của khách (độ tuổi, giới tính, nghề
nghiệp, thói quen tiêu dùng…).
Các hiện tượng tâm lí xã hội phổ biến (phong tục, tập quán, truyền
thống, tôn giáo tín ngưỡng, bầu không khí tâm lí xã hội, dư luận xã hội, thị
hiếu, tính cách dân tộc…).
Thứ ba, nhu cầu ăn uống:
SVTH: Lê Thị Thu Hà 15
Tương tự như nhu cầu lưu trú, đây cũng là nhu cầu thuộc loại thiết yếu
của khách. Nhu cầu ăn uống là những đòi hỏi về các hàng hóa, dịch vụ ăn
uống mà khách cần thỏa mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình.
Đối tượng thỏa mãn nhu cầu ăn uống của khách gồm hai bộ phận cơ bản
như sau: các dịch vụ phục vụ ăn uống (nhà hàng, quán rượu, khách sạn, quán
ăn bình dân…) và các sản phẩm ăn uống.
Thông thường trong quá trình kinh doanh ăn uống cần chú ý đến nhiều
vấn đề, trong đó nhất thiết phải chú ý đến: Giá cả, chất lượng, vệ sinh, an
toàn, phong cách – quy trình phục vụ, cơ cấu, chủng loại sản phẩm… Tâm lý
nói chung của du khách biểu hiện rất rõ ở tính hiếu kì và hưởng thụ, họ
thường mong muốn có những sự thoải mái vui vẻ khi đi du lịch. Ngoài việc
thỏa mãn mục đích chính cần thỏa mãn trong chuyến đi mà thường được biểu
hiện trong nhu cầu tham quan giải trí, họ còn mong được chiêm ngưỡng
hưởng thụ những điều mới lạ, được nghỉ ngơi trong những căn phòng sạch sẽ
, tiện nghi. Được thưởng thức những món ăn ngon, độc đáo, được phục vụ
chu đáo, chính xác, tận tình… Cần tuyệt đối tránh việc mang lại cho khách
những phiền toái, đơn điệu, khó chịu… vì khi những mong đợi của mình
không thể trở thành hiện thực nó sẽ nhanh chóng chuyển sang một thái cực
khác đó là sự thất vọng, khó chịu, tiếc công, tiếc của… và đây chính là
nguyên nhân dẫn đến thất bại của cơ sở phục vụ.
Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu ăn uống:
Khả năng thanh toán của khách;
tượng này tạo nên. Sự hấp dẫn, quyến rũ của các sản phẩm phụ thuộc vào tính
hấp dẫn của các đối tượng này. Việc tạo ra các sản phẩm mới là một đòi hỏi
SVTH: Lê Thị Thu Hà 17
tất yếu, ngoài yếu tố tạo nên tính độc đáo, dị biệt, mới lạ trong sản phẩm du
lịch còn nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng, phong phú của khách.
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham quan, giải trí:
Khả năng thanh toán của khách;
Mục đích chính cần thỏa mãn trong chuyến đi;
Mức độ hấp dẫn, độc đáo của các tài nguyên du lịch, của các đối tượng
thỏa mãn nhu cầu này;
Các đặc điểm tâm sinh lí cá nhân của khách (đặc biệt phải lưu ý đến thị
hiếu, thẩm mỹ, đến trình độ học vấn, văn hóa, nghề nghiệp, giai cấp, dân
tộc…);
Các hiện tượng tâm lí xã hội phổ biến (phong tục, tập quán, truyền
thống, tôn giáo tín ngưỡng, bầu không khí tâm lí xã hội, dư luận xã hội, thị
hiếu, tính cách dân tộc…);
Thứ năm là nhu cầu bổ sung
Nhu cầu bổ sung là những đòi hỏi của khách du lịch về các đối tượng
khác nhau ngoài những nhu cầu nói trên.
Nhu cầu này phát sinh do tính đa dạng, phong phú trong hoạt động du
lịch.
Đối tượng thỏa mãn nhu cầu này chính là các dịch vụ bổ sung. Dựa trên
việc đặt khách du lịch là đối tượng trung tâm của hoạt động du lịch chúng ta
có thể rút ra, bất kể những nhu cầu nào khác của khách trong hoạt động du
lịch đều là những nhu cầu bổ sung. Tuy nhiên việc đáp ứng các nhu cầu bổ
sung còn phụ thuộc vào khả năng phục vụ của từng doanh nghiệp du lịch, lữ
hành, từng điểm du lịch. Thông thường hạng của khách sạn tùy thuộc vào số
lượng dịch vụ bổ sung của khách sạn, hạng của khách sạn càng cao thì số
lượng dịch vụ bổ sung càng nhiều. Ngoài ra dịch vụ bổ sung còn do các mạng