Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang thị trường nhật bản tại công ty cổ phần thủy sản nha trang - Pdf 22


i

MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các sơ đồ iv
Danh mục các đồ thị v

Mở đầu 1
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý thuyết về hoạt động xuất khẩu và duy trì thị trường xuất
khẩu 4
1.1. Khái quát về hoạt động xuất khẩu 4
1.1.1. Khái niệm 4
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu 4
1.1.2.1. Xuất khẩu trực tiếp 4
1.1.2.2. Xuất khẩu gián tiếp 4
1.1.2.3. Tái xuất khẩu 4
1.1.3. Nội dung của công tác xuất khẩu 5
1.5.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu 5
1.5.2. Tìm kiếm khách hàng 5
1.5.3. Đánh giá lại khả năng xuất khẩu của Doanh nghiệp 6
1.5.4. Lập phương án giao dịch 6
1.5.5. Tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng ngoại thương 6
1.5.6. Tổ chức thực hiện hợp đồng 8
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Doanh nghiệp 8
1.2.1. Các yếu tố vĩ mô 8
1.2.1.1. Yếu tố lợi thế so sánh 8
1.2.1.2. Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước 8
1.2.1.3. Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ 8
1.2.1.4. Các cơ hội đặc biệt trong thị trường xuất khẩu 8

2.1.4.2. Chức năng – Nhiệm vụ của từng bộ phận 25
2.1.4.3. Cơ cấu tổ chức sản xuất 35
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Doanh nghiệp 36

iii

2.2.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 36
2.2.2. Các yếu tố thuộc về môi trường vi mô 40
2.3. Tình hình hoạt động xuất khẩu của công ty CP thủy sản Nha Trang giai đoạn từ
năm 2009 đến năm 2011 52
2.3.1. Giơí thiệu về hoạt động xuất khẩu của công ty 52
2.3.1.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu và tìm kiếm khách hàng 52
2.3.1.2. Đánh giá lại khả năng xuất khẩu của công ty 54
2.3.1.3. Tổ chức thực hiện hợp đồng 54
2.3.2. Hình thức xuất khẩu 57
2.3.3. Thực trạng của hoạt động xuất khẩu 58
2.3.3.1. Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp 58
2.3.3.2. Thị trường xuất khẩu trực tiếp 59
2.3.3.3. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trực tiếp 62
2.3.3.4. Giá xuất khẩu bình quân 64
2.3.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2008-2010 67
2.3.4.1. Chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận của công ty 68
2.3.4.2. Chỉ tiêu chi phí của Công ty 69
2.4. Tình hình xuất khẩu tại thị trường Nhật Bản của công ty 70
2.4.1. Nội dung của công tác xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản 70
2.4.1.1. Tìm hiểu chung về thị trường Nhật Bản 70
2.4.1.2. Tìm kiếm khách hàng 80
2.4.1.3. Đánh giá lại khả năng xuất khẩu của Công ty 80
2.4.1.4. Tiến hành đàm phán và kí kết hợp đồng 81
2.4.1.5. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu 83

1

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài:
Trong vòng 10 năm trở lại đây, thủy hải sản luôn là một trong những mặt
hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam. Từ năm 2007, Việt Nam trở
thành một trong 10 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới với mức kim
ngạch đạt 3.75 tỷ USD, tăng gần 12% so với năm 2006. Đồng thời, Việt Nam là
quốc gia có nhiều tiềm năng trong việc phát triển nuôi trồng thủy hải sản do có điều
kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi, cùng với truyền thống về khai thác thủy hải sản từ
lâu đời. Trong những năm gần đây, có nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước giúp
cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy hải sản ngày càng phát triển, khiến hoạt
động xuất khẩu thủy hải sản cũng được mở rộng hơn.
Hiện nay, những thị trường lớn của thủy sản Việt Nam bao gồm: Nhật Bản,
Mỹ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc… đã và đang đem lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu
cho hoạt động xuất khẩu. Tuy vậy, những thị trường này cũng đặt ra ngày càng
nhiều các yêu cầu buộc các Doanh nghiệp xuất khẩu phải đáp ứng, nhất là các hàng
rào phi thuế quan để bảo hộ nền sản xuất của nước họ, đặc biệt là tại Mỹ và EU. Thị
trường Nhật Bản cũng ngày càng khắt khe hơn trong vấn đề kiểm soát dư lượng các
chất cấm trong thủy hải sản. Trong năm 2011, theo số liệu Bộ Y tế, Lao động và
Phúc lợi Nhật Bản, đã có 132 lô hàng của Việt Nam xuất sang thị trường này bị
cảnh báo nhiễm các chất nằm trong danh mục cấm của Nhật, trong đó có nhiều lô
hàng đã bị trả lại 100%. Từ cuối năm 2011, Nhật Bản đã tiến hành kiểm tra 100% lô
hàng thủy sản nhập vào thị trường họ. Nhu cầu thủy sản của thị trường Nhật Bản có
sự gia tăng trong một số năm trở lại đây, nhất là từ sau lo ngại về chất phóng xạ sau
đợt sóng thần tháng 3 năm 2011. Nhờ vậy mà kim ngạch xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam sang thị trường Nhật Bản cũng gia tăng. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, năm 2010, giá trị xuất khẩu sang Nhật đạt 898 triệu USD (chiếm
16.36% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam) tăng 19% so với năm

 Phạm vi nghiên cứu: Tình hình xuất khẩu thủy sản của công ty trong giai đoạn từ
năm 2009 đến năm 2011, tập trung chủ yếu vào thị trường Nhật Bản. 3

4. Phương pháp nghiên cứu:
a. Phương pháp luận:
Dựa trên các lý thuyết về thị trường xuất khẩu và duy trì – phát triển thị trường
xuất khẩu trong môn Marketing cơ bản.
b. Phương pháp phân tích:
Phương pháp so sánh và phương pháp phân tích số liệu dựa trên dữ liệu thứ cấp
được cung cấp bởi công ty Cổ phần thủy sản Nha Trang cùng với các thông tin liên quan
đến hoạt động xuất khẩu thủy sản từ các trang web chuyên ngành.
5. Nội dung của khóa luận:
Khóa luận này gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hoạt động xuất khẩu và duy trì – phát triển thị trường xuất
khẩu.
Chương 2: Tình hình kinh doanh xuất khẩu thủy sản của công ty trong giai đoạn từ 2009 đến
2011.
Chương 3: Các giải pháp nhằm duy trì và phát triển hoạt động xuất khẩu sang thị trường
Nhật Bản của công ty.
đó có thể thay đổi sản phẩm và những điều kiện bán hàng cho phù hợp hơn.
1 2.2. Xuất khẩu gián tiếp (Inrect Exporting)
Xuất khẩu gián tiếp hay còn gọi là xuất khẩu ủy thác: là hình thức kinh doanh
trong đó đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản
xuất, tiến hành ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương, làm thủ tục hợp tác để xuất
khẩu hàng hóa cho nhà sản xuất. Đơn vị ngoại thương thu lợi bằng khoản phí do
nhà sản xuất chi trả (thường là tỷ lệ % nhất định trên giá trị lô hàng xuất khẩu).
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là mức độ rủi ro thấp, không cần chi phí
cho hoạt động sản xuất sản phẩm – dịch vụ.
1 2.3. Tái xuất khẩu
Tái xuất khẩu là đem hàng hóa đã nhập khẩu trước đây xuất khẩu trở lại ra nước ngoài
mà chưa qua chế biến ở nước tái xuất.

5

Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao
mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng, máy móc, thiết bị, khả năng thu
hồi vốn cũng nhanh hơn. Sở dĩ có hoạt động tái xuất khẩu là do sự thuận lợi và khó khăn
trong quan hệ thương mại giữa các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Chủ thể tham gia vào hoạt động tái xuất khẩu nhất thiết phải có sự tham gia của ba
quốc gia: Nước xuất khẩu, nước tái xuất khẩu, nước nhập khẩu. Vì thế tái xuất khẩu còn
được gọi là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác (Triangular transaction).
Hàng hóa xuất khẩu có thể đi thẳng từ nước xuất khẩu tới nước khác, hoặc từ
nước xuất khẩu sang nước tái xuất và sau đó mới tới nước nhập khẩu.
Tóm lại: Có rất nhiều các hình thức xuất khẩu để các doanh nghiệp có thể lựa
chọn. Trong thực tế hoạt động xuất khẩu đối với một doanh nghiệp ngoại thương có
thể thực hiện cùng một lúc một hay nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau, tùy thuộc
vào điều kiện và năng lực thực tế của từng doanh nghiệp.
1.1.3. Nội dung của công tác xuất khẩu
1.1.3.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu

vận chuyển.
- Khả năng đáp ứng các yêu cầu, thủ tục cần thiết cho xuất khẩu.
- Lực lượng lao động và năng suất lao động hiện tại của doanh nghiệp có thể
đáp ứng các hợp đồng xuất khẩu có quy mô ở mức độ nào.
Đây là những vấn đề cơ bản đòi hỏi các doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ trước khi
bắt tay vào ký kết hợp đồng xuất khẩu nhằm tạo dựng uy tín cho doanh nghiệp
trước các đối tác.
.1.3.4. Lập phương án giao dịch
- Lựa chọn mặt hàng để chào hàng.
- Lựa chọn khách hàng.
- Lựa chọn phương án giao dịch hiệu quả, bao gồm các nội dung sau:
 Mục tiêu.
 Biện pháp thực hiện.
 Dự báo hiệu quả sản xuất.
.1.3.5. Tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng ngoại thương
 Nội dung của hợp đồng xuất khẩu

7

1. Điều khoản về tên hàng.
2. Điều khoản về chất lượng.
3. Điều khoản về số lượng.
4. Điều khoản về giao hàng.
5. Điều khoản về giá cả.
6. Điều khoản thanh toán.
7. Điều khoản về bao bì và ký mã hiệu.
8. Điều khoản bảo hành.
9. Điều khoản bảo hiểm.
10. Điều khoản bất khả kháng.
11. Điều khoản khiếu nại.

 Kiểm tra hàng xuất khẩu.
 Làm thủ tục hải quan.
 Thuê tàu.
 Mua bảo hiểm.
 Giao hàng.
 Làm thủ tục thanh toán.
 Khiếu nại.
.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
1.2.1. Các yếu tố vĩ mô
Đây là các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
của doanh nghiệp.
1.2.1.1. Yếu tố lợi thế so sánh
Lợi thế so sánh của nước xuất khẩu trong một số mặt hàng so với các quốc gia
khác cùng xuất khẩu đến từ khí hậu, đất đai, tài nguyên thiên nhiên… khiến sản
phẩm của nước đó có chất lượng tốt hơn hoặc giá thành thấp hơn so với các sản
phẩm cùng loại do các nhà xuất khẩu ở các nước khác cung ứng. Đối với Việt Nam,
lợi thế so sánh của nước ta ở các sản phẩm như thủy hải sản, nông sản…
1.2.1.2. Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước

9

Các chính sách xuất khẩu của Nhà nước như: giảm thuế xuất khẩu, cấp tín dụng ưu
đãi với lãi suất thấp cho công ty xuất khẩu, có cơ quan nghiên cứu thị trường để hỗ trợ
thông tin cho nhà xuất khẩu…
1.2.1.3. Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ
Sự tăng hay giảm giá của đồng nội tệ so với các ngoại tệ mạnh để thanh toán
xuất – nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường quốc tế. Nếu nội tệ mất giá so với ngoại tệ như USD, yên, Euro thì
hàng hóa xuất khẩu sẽ được chào bán với giá thấp hơn, làm tăng tính cạnh tranh.
Ngược lại, nôi tệ tăng giá sẽ khiến cho giá bán ra của hàng xuất khẩu sẽ cao hơn so

1.2.2.3. Khả năng tài chính
Khả năng tài chính của Doanh nghiệp thể hiện thông qua lượng vốn mà Doanh
nghiệp có khả năng huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiềm lực tài
chính của Doanh nghiệp được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như: Tổng nguồn
vốn, khả năng huy động vốn, khả năng thanh toán…
Có một nguồn lực tài chính mạnh không thể quyết định khả năng cạnh tranh của
Doanh nghiệp trên thị trường, mà quan trọng hơn cả là năng lực sử dụng nguồn tài
chính một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, nếu Doanh nghiệp có nguồn lực tài chính
dồi dào, đồng nghĩa với sẽ có được nhiều sự lựa chọn hơn khi đề xuất các chiến
lược kinh doanh. Có nguồn lực tài chính mạnh sẽ giúp Doanh nghiệp có thể thực
hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, chuẩn bị kênh phân phối hiệu quả hơn,
cũng như có thể tiến hành các hoạt động nghiên cứu sản phẩm mới hay đầu tư cho
công nghệ mới áp dụng vào sản xuất. Từ đó có thể nâng cao chất lượng sản phẩm,
đi trước các Doanh nghiệp khác trong ngành về kỹ thuật, quản lý… và có thể chuẩn
bị sẵn sàng mọi thứ để tiếp nhận các hợp đồng lớn hơn với các đối tác giàu tiềm
năng hơn. Những điều này sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp trên
thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao vị thế của Doanh
nghiệp trên thị trường.
1.2.2.4. Bí quyết về Marketing
Đặc biệt trong hoạt động xuất nhập khẩu thì Marketing đóng vai trò vô cùng
quan trọng. Các nguồn thông tin sẵn có của Doanh nghiệp về đối tác hay của đối tác

11

về Doanh nghiệp không thể đảm bảo chắc chắn và thiếu sự rõ ràng do khoảng cách
về địa lý cũng như ngôn ngữ. Hoạt động Marketing là vô cùng cần thiết để Doanh
nghiệp có thể tiếp cận với các thông tin về đối tác một cách chính xác và cụ thể nhất
theo đúng mục đích của mình, trong đó hoạt động nghiên cứu thị trường là không
thể thiếu. Mục tiêu của hoạt động Marketing là tìm ra đối tác phù hợp nhất với năng
lực hiện có của Doanh nghiệp và phương án xuất khẩu hàng hóa hiệu quả nhất

phát triển. Tập trung vào các khách hàng tiềm năng “có thể sẽ mua hàng của mình”
và chú trọng chăm sóc cho các khách hàng quen thuộc “đã và đang mua hàng của
mình”, đơn giản ta có thể thấy đâu là phương án mang lại lợi ích lớn hơn cho sự
phát triển bền vững của Doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, chính các khách hàng
trung thành mới tạo nên thị trường ổn định cho Doanh nghiệp có thể đứng vững,
nhất là trong giai đoạn cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn như hiện nay, khách
hàng càng ngày có càng nhiều sự lựa chọn về sản phẩm thay thế và các nhà cung
ứng mới. Nếu doanh nghiệp không có các phương án phù hợp và liên tục thay đổi
thì rất khó có thể giữ chân các khách hàng vốn có và bị mất họ vào tay các đối thủ
cạnh tranh, đồng nghĩa với việc tự đánh mất thị trường vào tay đối thủ. Đó chính là
tầm quan trọng của việc duy trì thị trường sẵn có của Doanh nghiệp.
Vậy, duy trì thị trường tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp là các biện pháp mà
Doanh nghiệp sử dụng để giữ vững được các thị trường đã chiếm lĩnh, chính là các
khách hàng đã từng đến với Doanh nghiệp, tạo nên một thị trường ổn định cho
Doanh nghiệp.
Các biện pháp để duy trì thị trường cho Doanh nghiệp khá đa dạng, nhưng hiện
nay được chú trọng nhiều nhất là các dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng sau
bán hàng. Đây là biện pháp dễ dàng tạo nên sự khác biệt cho Doanh nghiệp trong số
các nhà cung ứng cùng loại sản phẩm.
Nhưng nếu chỉ cố gắng duy trì thị trường chỉ có thể giúp doanh nghiệp tồn tại
chứ không thể phát triển. Một doanh nghiệp chỉ hài lòng với những thị trường sẵn
có sẽ chỉ khiến doanh nghiệp thụt lùi và tự nhường cơ hội phát triển cho các công ty
khác. Tiếp cận và thuyết phục các khách hàng mới là biện pháp duy nhất khiến
doanh nghiệp đạt được vị thế cao hơn trên thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh

13

với doanh nghiệp khác. Đồng thời, đây cũng sẽ là động lực cho doanh nghiệp liên
tục đổi mới để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường.
Phát triển thị trường là cách thức Doanh nghiệp đưa hàng hóa hiện có của mình vào

và nguồn lực sẵn có để đảm bảo thành công, nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh
của Doanh nghiệp.
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc duy trì và phát triển thị trường của
Doanh nghiệp:
1.3.2.1. Các yếu tố chủ quan:
Các yếu tố chủ quan ở đây là các yếu tố bên trong thuộc về nguồn lực sẵn có của
Doanh nghiệp làm cơ sở để xây dựng chiến lược phù hợp. Các yếu tố này bao gồm:
 Chiến lược sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm:
Nói đến thị trường, yếu tố đầu tiên cần được nhắc đến là sản phẩm. Lựa chọn
một sản phẩm phù hợp cho các thị trường khác nhau là nhân tố cốt lõi cho sự kinh
doanh thành công. Mỗi phân khúc thị trường đối với cùng một loại sản phẩm như
nhau lại có những thị hiếu khác nhau tùy vào đặc điểm của phân khúc đó. Thị hiếu
này có thể không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, nhưng lại đặt yêu cầu khá
lớn lên đặc tính bên ngoài của sản phẩm đó hoặc cách đưa sản phẩm tiếp cận đến
với mỗi phân khúc thị trường. Đối với các sản phẩm khác nhau trên cùng một thị
trường cũng vậy. Các đặc tính, công dụng của mỗi sản phẩm là khác nhau, do đó
cách tiếp cận khách hàng và thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm cũng khác
nhau. Từ đó, đặt ra những yêu cầu về việc phải xây dựng các chiến lược tiêu thụ sản
phẩm khác nhau cho các sản phẩm khác nhau, hay cho cùng một loại sản phẩm trên
nhiều thị trường khác nhau. Nếu không có được sự lựa chọn đúng đắn về sản phẩm
và chiến lược sản phẩm hợp lý, Doanh nghiệp sẽ khó có cơ hội cạnh tranh với các
nhà cung ứng sản phẩm cùng loại đã và đang có mặt trên thị trường.
Một chiến lược phù hợp cần xây dựng xoay quanh hai yếu tố chính là sản
phẩm và thị trường, trong đó yếu tố sản phẩm chính là thứ mà Doanh nghiệp có thể
tự điều chỉnh để đem lại hiệu quả cao nhất. Trong các nhân tố cấu thành nên sản
phẩm, có các nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến sức tiêu thụ sản phẩm là: 15


16

chính là thành công bước đầu của Doanh nghiệp. Trên thị trường hiện nay, quyết
định mua hàng được đưa ra phụ thuộc chủ yếu vào hình ảnh mà các nhà cung ứng
tạo ra cho sản phẩm trong nhận thức của khách hàng. Bởi hiện nay có rất nhiều nhà
cung ứng khác nhau, với nhiều sự lựa chọn khác nhau cho khách hàng. Với cùng
một sản phẩm, mỗi nhà cung ứng sẽ tạo nên một ấn tượng khác nhau trong tâm trí
người tiêu dùng, và đây là điểm tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm của họ. Sự khác
biệt này là kết quả của các hoạt động xúc tiến bán hàng. Chỉ khi sản phẩm của
Doanh nghiệp được đưa đến tay người tiêu dùng, khi đó Doanh nghiệp mới có thể
thực hiện quá trình tạo nên các khách hàng trung thành và đưa mục tiêu xa hơn đến
các thị trường mới.
 Các nguồn lực của Doanh nghiệp:
 Tài chính
Tài chính luôn là huyết mạch sống còn cho mọi Doanh nghiệp. Không chỉ có
các Doanh nghiệp lớn với nguồn tài chính dồi dào và một số vốn lớn mới có thể
thành công. Khả năng tận dụng linh hoạt và triệt để nguồn tài chính Doanh nghiệp
hiện có sẽ nâng cao tính chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Tài
chính cũng là cơ sở quan trọng cho mọi dự án và kế hoạch phát triển của Doanh
nghiệp. Có được sản phẩm tốt, hay những phương án quảng cáo nổi bật đều cần có
nguồn tài chính ổn định. Bởi vậy, đây là yếu tố quan trọng nhất để Doanh nghiệp
tồn tại và đứng vững trên thị trường.
 Nguồn nhân lực
Nhân lực là sức mạnh nội tại của mỗi Doanh nghiệp. Có được những nhân viên
với chất lượng cao mới có thể tạo nên một Doanh nghiệp tốt và phát triển nó. Nhân
lực ở đây không chỉ nói đến bất kỳ cá nhân xuất sắc nào, mà còn cần cả một hệ
thống quản lý vững mạnh và cơ cấu hợp lý. Điều này sẽ góp phần hình thành văn
hóa kinh doanh và sẽ trở thành điểm khác biệt để tạo nên thương hiệu cho Doanh
nghiệp. Một thương hiệu với hình ảnh tốt từ nội bộ công ty sẽ khiến thị trường dành
nhiều niềm tin cho Doanh nghiệp, từ đó Doanh nghiệp sẽ có thêm lợi thế khi tham

hay một thị trường nào đó mà dẫn đến thất bại, thua lỗ.
 Đối thủ cạnh tranh

18

Các đối thủ cạnh tranh, dù là trực tiếp hay tiềm ẩn, đều là những đối tượng cần nắm
bắt thông tin kịp thời không kém khách hàng. Những thông tin mới về thị trường,
khách hàng, sản phẩm, công nghệ không chỉ đến từ việc điều tra thị trường của bản
thân Doanh nghiệp mà còn có thể đến từ các đối thủ cạnh tranh. Đồng thời phải luôn
đánh giá đúng thực lực của các đối thủ cạnh tranh chính, chỉ có như vậy Doanh nghiệp
mới không bị tụt hậu, đồng thời có thể xác định các chiến lược kinh doanh một cách
phù hợp nhất. Hơn nữa, các đối thủ cạnh tranh sẽ là thước đo sự phát triển của Doanh
nghiệp một cách chính xác nhất. Nhờ có sự so sánh với các đối thủ cạnh tranh, Doanh
nghiệp mới xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình cũng như của đối thủ và từ đó tìm
ra phương pháp phát triển. Bởi khi đó, sản phẩm của Doanh nghiệp mới có thể khắc
chế các điểm mạnh của đối thủ và có ưu thế hơn đối thủ khi khách hàng tiến hành lựa
chọn. Đồng thời cũng sẽ khiến Doanh nghiệp có động lực hơn nữa trong việc khắc
phục các nhược điểm của bản thân để phát triển.
 Các yếu tố thuộc về môi trường
 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế được biểu hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế
và vùng kinh tế, các yếu tố ảnh hưởng tới sức mua và cơ cấu mua hàng của người tiêu
dùng. Môi trường kinh tế tác động lên sự phát triển của Doanh nghiệp ở hai hướng. Thứ
nhất, năng lực chung của nền kinh tế là nền tảng cho mọi Doanh nghiệp cùng tồn tại, quyết
định nguồn lực tài chính xã hội có dành cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là cơ sở
chung cho sự phát triển mà Doanh nghiệp nào có thể tận dụng tốt hơn thì sẽ có nhiều cơ
hội phát triển hơn. Thứ hai, môi trường kinh tế hiện tại sẽ tác động trực tiếp đến sức mua,
khả năng tiêu dùng của người dân, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của Doanh nghiệp. Tốc độ phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân sẽ quyết
định họ mua gì, mua bao nhiêu. Điều này sẽ ảnh hưởng khác nhau đến các ngành sản xuất

Doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận với sản phẩm mới.
 Môi trường văn hóa – xã hội
Yếu tố văn hóa – xã hội là nhân tố quyết định trực tiếp đến thói quen mua hàng của
người tiêu dùng. Khác biệt về văn hóa sẽ tạo nên các nhu cầu cũng như thị hiếu về
hàng hóa khác nhau. Doanh nghiệp cần hiểu rõ đặc điểm văn hóa của thị trường nơi
mình xâm nhập để tránh bị đào thải và đạt được hiệu quả kinh doanh như mong đợi.

20

Đồng thời, yếu tố văn hóa – xã hội còn ảnh hưởng đến các nhu cầu mới có thể phát
sinh của thị trường hiện tại. Nắm được yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn
trong việc dự đoán xu hướng phát triển của hàng hóa và thị hiếu nhằm có được chiến
lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả.
1.3.3. Cách thức để duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu hiện có của
doanh nghiệp
Để duy trì và phát triển hoạt động xuất khẩu trên thị trường hiện tại, doanh
nghiệp cần làm tốt các hoạt động sau:
- Phải xác định được bộ phận hợp thành của thị trường tiêu thụ hiện tại.
Để xác định được bộ phận hợp thành của thị trường hiện tại, doanh nghiệp cần
làm tốt khâu nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường là cơ sở để doanh nghiệp
đánh giá được khả năng tiêu thụ về một sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm của
doanh nghiệp, từ đó đánh giá được mức độ hài lòng của khách hàng với sản phẩm.
Đối với thị trường hiện tại doanh nghiệp cần phải tiếp tục giữ vững thị phần của
mình bằng việc tăng cường hoạt động quảng bá, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao
chất lượng sản phẩm.
- Xác định quy mô, cơ cấu và sự vận động của thị trường
 Chỉ tiêu đánh giá quy mô thị trường
 Sản lượng tiêu thụ
 Doanh số bán hàng
 Lượng khách hàng tiêu thụ

- Chiến lược củng cố thị trường:
Đây là chiến lược tìm kiếm sự tăng trưởng về doanh số của các sản phẩm hiện
đang sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên thị trường đang tiêu thụ. Chiến lược này
thường được thực hiện thông qua các chiến dịch Marketing. Doanh nghiệp có thể
tăng thị phần bằng cách tăng sức mua sản phẩm, lôi kéo khách hàng của đối thủ
cạnh tranh, mua lại cơ sở của đối thủ cạnh tranh.
- Chiến lược phát triển sản phẩm:
Đây là chiến lược phát triển sản phẩm mới để tiêu thụ trên thị trường hiện tại.
Có 2 phương án thực hiện chiến lược này:
 Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn.

Trích đoạn Tìm hiểu chung về thị trường Nhật Bản .2.2 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu Thị phần trong hoạt động xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản Kênh phân phối sản phẩm Tầm quan trọng của thị trường Nhật Bản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status