Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh khánh hòa - Pdf 22

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Đầu Tƣ và Phát Triển Việt Nam Chi
nhánh Khánh Hòa em đã đƣợc học hỏi nhiều kiến thức thực tế bổ ích .Trên cơ sở
nghiên cứu hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Khánh Hòa
để đƣa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hoạt động tín dụng về
lĩnh vực này tại chi nhánh. Song do kiến thức còn hạn chế nên chắc hẳn bài viết sẽ có
nhiều thiếu sót, rất mong nhận đƣợc sự góp ý từ các thầy cô cùng các anh chị phòng tín
dụng Quan hệ khách hàng 1 tại chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Khánh Hòa để bài viết
đƣợc tốt hơn.
Nhân đây em xin bày tỏ lòng biết ơn đối với TS.Phan Thị Dung đã giúp đỡ em
nhiều trong việc lựa chọn đề tài, phƣơng hƣớng triển khai nghiên cứu và tổng kết các
kết quả nghiên cứu một cách có hệ thống.
Và em cũng chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị trong Ngân hàng ĐT&PT
Việt Nam chi nhánh Khánh Hòa đặc biệt là các cô chú, anh chị trong phòng tín dụng
Quan hệ khách hàng 1 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và hƣớng dẫn em hoàn thành
khóa thực tập đợt này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên : Nguyễn Thị Thu Hà
Nha Trang, ngày 02 tháng 04 năm 2010

2 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
BẢNG 2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH VÀ CẢ NƢỚC 37
BẢNG 2.2 TỔNG HỢP TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 48
BẢNG 2.3 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG QUA
CÁC THỜI ĐIỂM. 49
BẢNG 2.4 TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN QUA CÁC THỜI ĐIỂM 50
BẢNG 2.5 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN QUA CÁC THỜI ĐIỂM 52

NHNN : NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC
NHTM : NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
WTO: TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI
NH ĐT& PT VN : NGÂN HÀNG ĐẨU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN
NSNN : NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
TCTD : TỔ CHỨC TÍN DỤNG
KDNT: KINH DOANH NGOẠI TỆ
TTQT: THANH TOÁN QUỐC TẾ
TNHH: TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
QHKH1: PHÒNG QUAN HỆ KHÁCH HÀNG MỘT
PGD: PHÒNG GIAO DỊCH
TSBĐ: TÀI SẢN BẢO ĐẢM
LNTT: LỢI NHUẬN TRƢỚC THUẾ
NQH: NỢ QUÁ HẠN 4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu hƣớng đổi mới của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam
cũng đang trong quá trình đổi mới, và đã đạt đƣợc những thành công nhất định .Xu
thế hội nhập, cạnh tranh ngày một diễn ra ngay gắt .Đặt hệ thống ngân hàng Việt
Nam trƣớc những vận hội mới cũng nhƣ những khó khăn phải đối mặt .Hoạt động
của ngân hàng đạt kết quả tốt sẽ tạo điều kiện rất lớn cho nền kinh tế phát triển, và
ngƣợc lại ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh hƣởng trầm trọng tới sự phát
triển của cả nền kinh tế, thậm chí cả nền kinh tế thế giới. Xác định đƣợc tầm quan
trọng của tín dụng và vai trò của ngân hàng Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có

Đề tài phân tích khái quát về hoạt động kinh doanh ngân hàng và chủ yếu tập
trung vào thực trạng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng ĐT&PT Khánh
Hòa từ năm 2006 cho đến nay.
4.Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có sử dụng những biện pháp nghiên cứu
khoa học để phân tích, tổng hợp các vấn đề thực tiễn .Chủ yếu sử dụng các phƣơng
pháp sau:
- Phƣơng pháp sử dụng số liệu thống kê và đồ thị để luận chứng
- Phƣơng pháp phân tích các số liệu và đồ thị
- Phƣơng pháp tổng hợp
- Phƣơng pháp so sánh
5.Kết cấu của đề tài bao gồm
- Chương 1: Tín dụng Ngân hàng và chất lượng tín dụng trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Chương 2: Thực trạng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng ĐT&PT Việt
Nam chi nhánh Khánh Hòa.
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam chi nhánh Khánh Hòa.
6
CHƢƠNG 1
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1 Tín dụng và vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trƣờng.
1.1.1 Khái niệm về tín dụng và sự cần thiết của tín dụng.
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng.
Khái niệm :
Trong nền kinh tế hàng hoá tiền là phƣơng tiện thanh toán chủ yếu trong tất cả các

- Trong quan hệ tín dụng không có sự vận động của quyền sở hữu mà chỉ
thay đổi quyền sử dụng trong một thời gian nhất định.
- Giá cả trong quan hệ tín dụng chính là lãi suất tín dụng.
- Ngƣời cho vay nhận đƣợc thu nhập dƣới hình thức lãi suất .Lãi suất là giá
cả của quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định .Giá cả trong quan hệ tín
dụng không ngang bằng với giá trị mà giá cả trong quan hệ tín dụng là biểu hiện
bằng tiền của giá trị quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định .
- Thời gian đƣợc xác định trên cơ sở giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay.
- Quan hệ tín dụng đƣợc thiết lập dựa trên yếu tố tin tƣởng .
1.1.1.2 Sự cần thiết của tín dụng trong nền kinh tế thị trƣờng.
Khi nền kinh tế sản xuất hàng hoá ra đời thì quan hệ tín dụng cũng đƣợc hình
thành và phát triển .Nền kinh tế càng phát triển bao nhiêu thì kéo theo thị trƣờng tài
chính tiền tệ cũng phát triển một cách thích ứng. Trong nền kinh tế thị trƣờng tiền tệ
là một phạm trù kinh tế, mọi quan hệ kinh tế đều đƣợc tiền tệ hoá là yếu tố cần thiết
của quá trình sản suất .Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ tham gia vào quá trình
tuần hoàn vốn .Trong quá trình đó phát sinh tình trạng tạm thời nhàn rỗi và tạm thời
thiếu vốn ở các doanh nghiệp cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế .
Vậy tại sao quan hệ tín dụng lại cần thiết trong nền kinh tế thị trƣờng, điều này
đƣợc lý giải ở trên những khía cạnh sau:
- Trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp đều muốn được thể hiện và
khẳng định mình trên thương trường . Muốn thắng đƣợc đối thủ cạnh tranh đòi hỏi
mỗi doanh nghiệp cần phải có đƣợc ba yếu tố đó là : Vốn; Lao động; Khoa học

8
công nghệ, trong đó có thể nói Vốn là yếu tố nền tảng hình thành nên hai yếu tố còn
lại. Nếu có vốn thì mỗi doanh nghiệp sẽ mua đƣợc máy móc thiết bị , vây dựng nhà
xƣởng v.v.v. Đồng thời họ cũng thuê đƣợc lao động , đào tạo đƣợc đội ngũ cán bộ
có trình độ chuyên môn ngày càng cao hơn. Nhƣng rõ ràng là với số vốn tự có của
mình thì bản thân mỗi doanh nghiệp sẽ không thể đảm bảo đƣợc tất cả các mối quan
hệ kinh tế , chính vì thế mà trong nguồn vốn của doanh nghiệp luôn tồn tại hai

nhuận thu đƣợc Một phần của các phần thu nhập này không chỉ tiêu dùng ngay
mà còn để dành tiêu dùng trong tƣơng lai. Phần tiền để dành này hình thành lƣợng
vốn tiền tệ nhàn rỗi rất lớn trong nền kinh tế.
* Nguồn vốn nhàn rỗi từ nƣớc ngoài:
Mỗi quốc gia vì lí do nhƣ là muốn tham gia vào các tổ chức quốc tế hay là để
đảm bảo an toàn cho nên kinh tế cũng nhƣ ổn định đồng tiền trong nƣớc họ thƣờng
giữ một khoản tiền tại các Ngân hàng ở nƣớc ngoài để giao dịch hay một định chế
tài chính quốc tế hoặc có một lƣợng vốn dồi dào mà không đem đầu tƣ tiếp .
Thƣơng mại quốc tế ngày càng mở rộng dẫn đến mỗi quốc gia đều có một tài khoản
của mình ở nƣớc ngoài để giao dịch . Chính những lí do đó đã tạo nên một lƣợng
vốn nhàn rỗi không nhỏ có thể sử dụng trong một thời gian nhất định.
 Tạm thời thiếu vốn
Thiếu vốn ở đây với nghĩa là tổ chức đơn vị đó thiếu lƣợng tiền mặt tạm thời
để trang trải cho những hoạt động kinh tế trƣớc mắt đòi hỏi phải chi tiền mặt .Và
điều này đƣợc thể hiện cụ thể trong từng chủ thể của nền kinh tế .
* Chính phủ
Đóng vai trò là một chủ thể lớn điều hành thúc đẩy sự phát triển của một đất
nƣớc , Chính phủ thƣờng đầu tƣ vào các dự án lớn nhƣ cơ sở hạ tầng , các công
trình mang tính sống còn đối với lợi ích của quốc gia mà tƣ nhân không có đủ khả
năng và điều kiện thực hiện . Nguồn vốn đầu tƣ chính phủ lấy từ Ngân sách nhà
nƣớc, nhƣng đôi khi NSNN không đủ vì chƣa đến hạn thu thuế dẫn đến sự thiếu vốn
đấu tƣ Chính phủ phải đi vay.
* Các doanh nghiệp

10
Nhƣ ta đã biết các doanh nghiệp khác nhau về điều kiện sản xuất kinh doanh
dẫn đến tuần hoàn luôn chuyển vốn khác nhau .Đồng thời mỗi doanh nghiệp lại là
một thực thể sở hữu khác nhau cho nên luôn tồn tại hai nhóm doanh nghiệp này
thừa vốn thì doanh nghiệp khác thiếu vốn vì chƣa bán đƣợc hàng, chƣa thu đƣợc
tiền nhƣng đã đến thời hạn phải thanh toán các khoản nợ ,phải trả lƣơng Dẫn đến

Một nhóm “ tạm thời thừa vốn” và muốn sử dụng số vốn nhàn rỗi này để kiếm
lời trong một thời gian nhất định.
Một nhóm “ tạm thời thiếu vốn” và muốn tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi khác
để đáp ứng nhu cầu hiện tại. Nhờ hoạt động tín dụng mà cả hai nhóm doanh nghiệp
đều đƣợc thoả mãn về vốn và dẫn đến quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một
cách thƣơng xuyên, liên tục, nguồn vốn đƣợc sử dụng một cách tối đa.
Thứ hai: Tín dụng huy động, tập trung vốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế cũng cần phải có một nguồn
vốn đầu tƣ lớn để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản
phẩm, chiến thắng trong cạnh tranh. Nhƣng để có lƣợng vốn đầu lớn nhƣ vậy thì chỉ
có quan hệ tín dụng với đáp ứng đƣợc điều đó bởi quan hệ tín dụng sẽ tập trung huy
động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu đó .
Thứ ba: Tín dụng góp phần nâng cao mức sống của dân cƣ. Một trong
những ví dụ điển hình để minh chứng cho điều này là thông qua quan hệ tín dụng
mà những ngƣời có thu nhập thấp những ngƣời tàn tật đã có đƣợc nhà ở, phƣơng
tiện đi lại, điện thoại v.v. Bởi họ có thể sử dụng phƣơng thức vay trả góp.
Thứ tƣ: Là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc. Nhƣ ta đã biết cơ cấu kinh
tế đƣợc quyết định bởi cơ cấu đầu tƣ mà tín dụng lại quyết định đến cơ cấu đầu tƣ.
Nhà nƣớc thông qua hoạt động của các Ngân hàng thƣơng mại, chủ yếu là hoạt
động tín dụng để điều chỉnh cơ cấu kinh tế .
1.2 Các hình thức tín dụng Ngân hàng.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ: Cho vay, chiết khấu,
bảo lãnh, cho thuê tài chính…
12
1.2.1. Hoạt động cho vay.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của Ngân hàng thƣơng mại .Tuy
nhiên trong hoạt động tín dụng thì hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng và

dùng để trả các khoản vay ngân hàng. Trong trƣờng hợp này, kỳ hạn của các khoản
vay bắt đầu đƣợc tính từ khi hãng cần vốn để đáp ứng yêu cầu mua hàng, kết
thúc(có thể trong vòng từ 60 đến 90 ngày) khi hãng thu đƣợc tiền bán hàng và nhập
vào tài khoản để trả nợ cho Ngân hàng.
- Cho vay vốn lưu động.
Đây là những khoản cho vay ngắn hạn đối các hãng kinh doanh với kỳ hạn
kéo dài từ vài ngày đến 1 năm .Các khoản vay vốn lƣu động thƣờng đƣợc dung để
mua hàng dự trữ hoặc mua nguyên vật liệu. Do đó chúng có những đặc điểm gần
giống với các khoản cho vay tự thanh toán nhƣ đã đề cập ở trên. Thông thƣờng các
khoản vay vốn lƣu động đƣợc sử dụng để đáp ứng mức sản xuất và nhu cầu tín dụng
trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ kinh doanh.
Ví dụ: một hãng sản xuất quần áo dự đoán rằng nhu cầu đối với quần áo học
sinh vào mùa thu và quần áo ấm vào mùa đông là rất lớn. Do vậy hãng cần các
khoản tín dụng ngắn hạn vào cuối mùa xuân và mùa hạ để mua vải và thuê thêm
công nhân nhằm tăng sản lƣợng để đáp ứng hàng hoá cho ngƣời bán lẻ trong giai
đoạn từ tháng 8 đến tháng 12 . Ngân hàng của hãng lập ra một hạn mức tín dụng
thời hạn từ 6 đến 9 tháng cho phép hãng sản xuất quần áo có thể rút tiền trong suốt
giai đoạn này .Quy mô của hạn mức tín dụng đƣợc xác định trên cơ sở dự tính về
lƣợng vốn lớn nhất mà hãng có thể sẽ cần tại bất cứ thời điểm nào trong suốt thời
hạn của hợp đồng tín dụng .Thông thƣờng các khoản cho vay vốn lƣu động đƣợc
đảm bảo bằng các khoản phải thu hoặc thế chấp bằng hàng tồn kho và khách hàng
sẽ phải chịu lãi suất thả nổi trên lƣợng tiền thực tế họ đã sử dụng .Khoản lệ phí cam
kết đƣợc tính trên phần tín dụng thuộc hạn mức không sử dụng và đôi khi tính trên
toàn bộ giá trị của hạn mức .Ngân hàng thƣờng yêu cầu khách hàng phải có số dƣ
bù tiền gửi. Số dƣ bù tiền gửi bao gồm lƣợng tiền gửi tối thiểu bắt buộc đƣợc xác
định trên cơ sở quy mô hạn mức tín dụng và một lƣợng tiền gửi bắt buộc bổ xung

14
bằng một tỉ lệ phần trăm quy định trên tổng lƣợng tín dụng mà khách hàng thực sử
dụng.

thƣờng diễn ra khi ngân hàng đầu tƣ giúp đỡ khách hàng trong việc mua lại công ty
khác, giúp đỡ Công ty phát hành chứng khoán lần đầu, phát hành thêm cổ phiếu để
tăng quy mô vốn kinh doanh hiện có, hoặc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hoạt động
đầu tƣ mới. Khi ngân hàng bán chứng khoán mới cho các nhà đầu tƣ trên thị trƣờng
vốn thì khoản vay cùng với lãi sẽ đƣợc hoàn trả .
- Cho vay kinh doanh bán lẻ
Các ngân hàng hỗ trợ ngƣời tiêu dùng trong việc mua trả góp xe máy, đồ dùng
gia đình, nội thất và các hàng hoá lâu bền khác bằng cách tài trợ cho các khoản phải
thu mà ngƣời bán những hàng hoá này sẽ nhận đƣợc sau khi họ ký hợp đồng bán trả
góp. Hợp đồng trả góp sẽ đƣợc ngân hàng của ngƣời bán lẻ xem xét .Nếu đáp ứng
các yêu cầu tín dụng, ngân hàng sẽ mua những hợp đồng này với một mức lãi suất
thay đổi tuỳ theo chất lƣợng tín dụng ngƣời vay vốn, chất lƣợng của vật thế chấp và
thời hạn của mỗi khoản vay. Đối với ngƣời kinh doanh mô tô, ti vi, đồ nội thất và
các hàng hoá lâu bền khác Ngân hàng có thể tài trợ dự trữ tồn kho thông qua việc
xác định kế hoạch sản xuất. Ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho ngƣời bán lẻ để họ có
thể yêu cầu hãng sản xuất chuyển hàng . Lúc đầu hầu hết các khoản vay nhƣ vậy có
kỳ hạn 90 ngày và sau đó nó có thể đƣợc tái gia hạn với thời gian một tháng hay vài
tháng. Để có đƣợc khoản tín dụng này ngƣời bán lẻ phải ký hợp đồng bảo đảm an
toàn cho phép ngân hàng có quyền sở hữu hàng hoá trong trƣờng hợp họ không thể
thanh toán khoản vay. Sau đó, nhà sản xuất sẽ có thể chuyển hàng cho ngƣời bán lẻ
và gửi đơn thanh toán cho ngân hàng .Định kỳ ngân hàng sẽ cử cán bộ đến kiểm tra
hàng hoá trong kho của ngƣời bán lẻ để xác đinh lƣợng hàng đã đƣợc bán và lƣợng
hàng tồn kho. Sau khi bán đƣợc hàng hoá, ngƣời bán lẻ sẽ gửi séc tới ngân hàng để
thanh toán dần khoản nợ cho ngân hàng .
Nếu cán bộ ngân hàng xác định thấy bất kỳ một hàng hoá nào đã đƣợc bán mà
ngân hàng không nhận đƣợc tiền thanh toán thì cán bộ ngân hàng sẽ yêu cầu ngƣời
bán lẻ viết ngay séc trả tiền cho số hàng hoá đó. Nếu ngƣời bán lẻ không thanh toán
đƣợc, ngân hàng có thể buộc thu hồi hàng và trả một phần hoặc toàn bộ số hàng đó

16

Là loại cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên, loại cho vay này chủ yếu để đáp
ứng nhu cầu dài hạn nhƣ: Xây dựng nhà ở, các thiết bị phƣơng tiện vân tải có quy
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Loại cho vay này tài trợ cho các loại:
+ Cho vay kỳ hạn mua thiết bị và các tài sản cố định khác.
+ Cho vay luôn chuyển.
+ Cho vay theo dự án.
+ Cho vay tài trợ hoạt động mua lại công ty.
1.2.1.2. Theo mục đích sử dụng vốn vay
Hoạt động cho vay bao gồm: Cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất và lƣu thông
hàng hoá.
 Cho vay tiêu dùng
Là loại cho đối với các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mua sắm nhà
cửa, xe và các loại hàng hoá tiêu dùng khác. Hoạt động cho vay tiêu dung rất phát
triển ở các nƣớc Âu Mỹ. Hoạt động cho vay tiêu dùng đã xuất hiện ở nƣớc ta nhƣng
áp dụng còn rất hạn chế bởi mức sống trung bình của ngƣời dân chƣa cao, việc
thanh toán bằng thẻ đang đƣợc chú trọng nhƣng chƣa thực sự phát triển, hiểu biết
của ngƣời dân về loại hình tín dụng này chƣa nhiều.
 Cho vay sản xuất và lƣu thông hàng hoá
Là hoạt động cho vay đối với các chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất và lƣu
thông hàng hoá .Hoạt động cho vay này đã xuất hiện từ rất sớm và rất
phát triển trên thế giới , chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng của các
ngân hàng thƣơng mại .
1.2.1.3. Theo hình thức bảo đảm tiền vay
Trong cho vay, để giảm thiểu rủi ro, tổn thất có thể xảy ra cho Ngân hàng đối
với những khách hàng không thực hiện đúng cam kết thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng giữa Ngân hàng và khách hàng, ngân hàng thƣờng yêu cầu các khoản cho vay
phải có bảo đảm. Việc bảo đảm đối với khoản vay là rất cần thiết bởi một mặt với
doanh nghiệp sẽ phải có ý thức hơn trong kinh doanh và trả món nợ, mặt khác đối
vơi ngân hàng việc có bảo đảm đối với các khoản vay của doanh nghiệp tạo nên tâm



19
đƣợc đơn phƣơng từ bỏ hợp đồng. Ở Việt nam hoạt động này đã phát triển nhanh
chóng trong những năm gần đây và nó đã trở thành nguồn quan trọng để các doanh
nghiệp có thể tiếp cận đƣợc công nghệ mới .
1.2.3 Hoạt động bảo lãnh
Theo quy chế về bảo lãnh Ngân hàng của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam ban
hàng ngày 25/08/2000, bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín
dụng ( bên bảo lãnh) với bên (nhận đƣợc bảo lãnh) có quyền về việc thực hiện nghĩa
vụ tài chính, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã đƣợc trả thay .
1.2.4 Hoạt động chiết khấu
Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại thƣơng phiếu , giấy tờ có giá ngắn
hạn khác của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán .Trong hoạt động này
có một hoạt động đáng chú ý đó là hoạt động tái chiết khấu. Hoạt động tái chiết
khấu là việc mua lại thƣơng phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã đƣợc chiết khấu
trƣớc khi đến hạn thanh toán .Chiết khấu là một nghiệp vụ đã xuất hiện từ rất sớm
trên thế giới .Tại Việt Nam do việc kém phát triển trong việc phát hành và lƣu thông
các thƣơng phiếu cũng nhƣ các giấy tờ có giá khác, nên hoạt động này mặc dù đã
xuất hiện nhƣng chƣa phát triển mạnh. Hoạt động chiết khấu tại Ngân hàng thƣơng
mại chủ yếu đƣợc tiến hành với trái phiếu Chinh phủ hoặc trái phiếu , kỳ phiếu của
các Ngân hàng thƣơng mại quốc doanh. Hoạt động tín dụng có nhiều nghiệp vụ nhƣ
vậy nhƣng trong chuyên đề nghiên cứu này ta chủ yếu đi sâu nghiên cứu hoạt động
cho vay ngắn hạn của Ngân hàng .Vì vậy từ giờ trở đi ta thống nhất một thuật ngữ
tín dụng ngắn hạn là để chỉ hoạt động cho vay ngắn hạn .
1.3 Quy trình phân tích tín dụng của Ngân hàng
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách
hàng, các Ngân hàng thƣờng đặt ra quy trình phân tích tín dụng. Đó chính là các
bƣớc (hoặc nội dung công việc) mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên quan
trong Ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng.

xuất quỹ( gồm: dòng tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất
quỹ thực hiện đầu tƣ, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thƣờng) Ngân

21
hàng có thể biết đƣợc tình trạng ngân quỹ của khách hàng trong tháng, quý, hay
năm. Từ đó Ngân hàng có thể thiết lập kế hoạch thu nợ, giải ngân hợp lý, nâng cao
chất lƣợng khoản vay.
- Sử dụng các tỷ lệ nhƣ: Nhóm tỷ lệ thanh khoản, nhóm tỷ lệ sinh lời để đánh
giá khả năng của ngƣời vay trong việc đáp ứng trách nhiệm tài chính ngắn hạn và
khả năng tạo lợi nhuận của ngƣời vay.
- Các điều kiện kinh tế: Có thể thấy nghĩa vụ của khách hàng đối với Ngân
hàng đều xảy ra trong tƣơng lai vì thế khả năng hoạt động kinh doanh của khách
hàng trong tƣơng lai đƣợc Ngân hàng đặc biệt quan tâm phân tích. Thời hạn càng
dài, dự đoán càng khó chính xác, đó là do tác động của các điều kiện kinh tế .Thiên
tai, các thay đổi bất thƣờng trong đời sống chính trị, khủng hoảng kinh tế vùng,
quốc gia, sự sa sút đột ngột của ngành làm thay đổi các tính toán ban đầu, dẫn đến
giảm hoặc mất khả năng trả nợ của khách hàng.
Bƣớc 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa ngƣời nhận tài trợ
(khách hàng) và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho
khách hàng một khoản tín dụng(hoặc hạn mức tín dụng) trong một khoản thời gian
và lãi suất nhất định. Hợp đồng tín dụng là văn bản mang tính pháp luật xác định
quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân thủ các
điều khoản của các luật, các quy định .So vậy, cả Ngân hàng và khách hàng phải
cân nhắc kỹ lƣỡng trƣớc khi ký kết hợp đồng tín dụng. Nội dung của hợp đồng tín
dụng gồm những khoản mục chính là: Họ tên, địa chỉ của khách hàng; mục đích sử
dụng vốn; số lƣợng tín dụng; lãi suất; phí; thời hạn tín dụng; các loại bảo đảm; kế
hoạch giải ngân; điều kiện thanh toán và các điều kiện khác.
Bƣớc 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng.
Sau khi hợp đồng tín dụng đã đƣợc ký kết, ngân hàng phải có trách nhiệm cấp

không lƣờng trƣớc đƣợc .Vì vậy, nâng cao hiệu quả và chất lƣợng hoạt động tín
dụng thì không thể không nhắc đến bảo đảm tín dụng.
23
1.4.1.1 Khái niệm
Bảo đảm tín dụng hay còn gọi là đảm bảo tiền vay là việc bảo vệ nguồn lợi của
ngƣời cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền sở hữu của
ngƣời đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
1.4.1.2 Vai trò của đảm bảo tín dụng
Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay có rất nhiều thành phần kinh tế cùng
tham gia hoạt động .Ngoài những Doanh nghiệp, cá nhân làm ăn chân chính thì
cũng không thiếu những thành phần có hành vi không lành mạnh. Vì thế, ngân hàng
muốn kinh doanh có hiệu quả, thu hồi vốn vay, hạn chế rủi ro xảy ra, bắt buộc cho
vay phải có đảm bảo .Bảo đảm tín dụng đóng vai trò ngăn ngừa các rủi ro có thể
xảy ra .Tuy nhiên, đảm bảo tín dụng không thể coi là yếu tố quyết định cho vay.
Bảo đảm tín dụng thể hiện các lợi ích sau:
+ Bảo đảm tín dụng giúp ngân hàng tạo thêm sự an toàn đồng vốn và chất
lƣợng tín dụng.
+ Bảo đảm tín dụng tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng tín dụng, đồng thời
tạo thêm cơ hội trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp.
+ Bảo đảm tín dụng góp phần tăng các lợi ích hài hòa giữa nhà nƣớc và Doanh
nghiệp.
1.4.1.3 Mục đích của đảm bảo tín dụng
Một nền kinh tế thị trƣờng với nhiều rủi ro bất ngờ trong sản xuất kinh doanh
thì bất cứ mọi khoản tín dụng nào cũng chứa đựng mức độ rủi ro tín dụng nhất
định.Các rủi ro có nhiều nguyên nhân khác nhau mà chính bản thân ngân hàng cũng
không lƣờng trƣớc đƣợc .Vì vậy, ngân hàng cần phải đảm bảo các khoản vay trong
một số trƣờng hợp:

tiền tệ của ngân hàng .Rủi ro hối đoái chủ yếu xảy ra trong kinh doanh xuất khẩu và
ngoại tệ.
* Rủi ro thanh khoản: là những rủi ro mà ngân hàng không thể đảm bảo đƣợc
khả năng thanh toán của khách hàng, vay vốn của khách hàng. 25
1.4.2.2 Những thiệt hại do rủi ro gây ra
* Thiệt hại đối với ngân hàng: Nguồn vốn huy động thƣờng chiếm đến 80%-
90% nguồn vốn của ngân hàng. Do đó, thu hồi các khoản nợ không đúng hạn sẽ
làm giảm khả năng chi trả các khoản vay nợ của ngân hàng, sẽ gây mất lòng tin đối
với ngân hàng, nếu thiệt hại quá lớn thì ngân hàng có khả năng sẽ dẫn đến phá sản.
* Thiệt hại đối với nền kinh tế: ngân hàng đƣợc xem là động mạch chủ của nền
kinh tế, nên khi có rủi ro tín dụng xảy ra đối với một ngân hàng thì sẽ gây phản ứng
cho toàn hệ thống. Các thiệt hại có thể xảy ra nhƣ: khủng hoảng tài chính, tiền tệ,
kinh tế suy giảm, thất nghiệp… Ngoài ra còn ảnh hƣởng đến uy tín của hệ thống
ngân hàng.
1.4.2.3 Các yếu tố làm tăng giảm rủi ro
* Các yếu tố làm tăng rủi ro tín dụng
- Một số lƣợng nhỏ khách hàng vay nợ với số lƣợng lớn.
- Các hạn chế do kiểm soát ngoại hối.
- Các khoản vay lớn của các bên hữu quan: khách hàng có mối quan hệ tài
chính nhiều khách hàng, không thể tách biệt đƣợc.
- Cho vay trong một số nghành mà có tính cạnh tranh cao dẫn đến các Doanh
nghiệp đầu tƣ trong các nghành đó có khả năng phá sản.
- Cho vay tập trung vào một số vùng chủ yếu.
* Các yếu tố làm giảm rủi ro tín dụng
- Thủ tực cho vay cần có quy trình chặt chẽ, trƣớc khi cho vay cần phải thẩm
định, kiểm soát chặt chẽ và phê duyệt theo quy trình.
- Các ràng buộc bên đi vay phải đƣợc thiết lập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status