LỜI NÓI ĐẦU
Trons hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là điều kiện, là cơ sở vật
chất cần thiết giúp cho Doanh nghiệp có thể tiến hành các kế hoạch đầu tư
và phương án kinh doanh của mình, và tất cả các Doanh nghiệp tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh không ngoài mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường với xu thế hội nhập, đối thủ
cạnh tranh của Doanh nghiệp khôns chỉ là ở trong nước mà còn là các Doanh
nghiệp nước ngoài. Chính vì thế mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của Doanh
nghiệp trở nên khó thực hiện hơn rất nhiều. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến
lợi nhuận, một trong những nhân tố đó là hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Lợi nhuận của Doanh nghiệp tăng lên đồng nghĩa với khả năng sinh lời trên
vốn kinh doanh của Doanh nghiệp tăng lên. Xuất phát từ tầm quan trọng của
vốn kinh doanh, đặc biệt là vốn lưu động đối với doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường, sau thời sian thực tập tại Công ty cổ phần Xây dựng Đại
Cát Thành, được sự giúp đỡ của thầy giáo và các cán bộ trong Công ty, em
đã đi sâu vào vấn đề vốn lưu động với đề tài: "Sử dụng hiệu quả vốn lưu
động tại Công ty cổ phần Xây dựng Đại Cát Thành”.
Nội dung của Chuyên Đề gồm 3 chương:
Chương I
: Lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công
ty.
Chương II
: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty
trong hai năm 2008 - 2009.
Chương IIĨ
: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
Công ty.
1
Vai trò của vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh:
* Do quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục nên vốn
lưu động cũng được vận động không ngừng, lạp đi lặp lại có tính chu kỳ gọi
là tuần hoàn của vốn. Sự tuần hoàn của vốn lưu động qua các giai đoạn như
sau:
- Khởi đầu vòng tuần hoàn: Vốn được dùng để mua đối tượng lao
động trong khâu dự trữ sản xuất như nguyên liệu, vật liệu ở giai đoạn này,
vốn đã được thay đôi hình thái từ tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư hàng
hóa.
- Giai đoạn sản xuất: Trong giai đoạn này, số nguyên vật liệu đã mua
ở khâu trước sẽ được đưa dần vào sản xuất và trải qua quá trình sản xuất,
các sản phẩm mới được tạo ra. Sản phẩm mới có hình thái khác với những
hình thái ban đầu.
- Kết thúc vòng tuần hoàn: Doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm
và thu tiền về, hình thái hiện vật được chuyển sang hình thái tiền tệ như
điểm xuất phát ban đầu.
* Đối với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực lưu thông thì quá trình vận
động diễn ra như sau:
- Giai đoạn đầu: Doanh nshiệp mua hàng hóa về dự trữ
- Giai đoạn tiếp theo, doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và
thu tiền về, giá trị hàng hóa được thực hiện.
Qua đây ta có thể thấy rằng vốn lưu động là một trong các điều kiện
tiên quyết của quá trình tái sản xuất và thông qua quá trình tuần hoàn và
chu chuyển vốn lưu động, người quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá tình
tình vốn ở các khâu của quá trình tái sản xuất, từ khâu mua, dự trữ vật tư
tới khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
3
1.1.3. Phân loại vốn lưu động:
Muốn quản lý tốt vốn lưu động, các doanh nghiệp trước hết phải nhận
biết được các bộ phận cấu thành nên vốn lưu động, trên cơ sở đó đề ra các
phẩm dở dang.
Ề
.
4
- Vốn bằng tiền: Các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi
ngân hàng, tiền đang chuyển được biểu hiện dưới hình thái giá trị. Như vậy
trong hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một
lượng tiền nhất định.
- Các khoản phải thu: Chủ yếu là khoản phải thu từ khách hàng, thể
hiện số tiền mà khách hàns nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán
hàng hóa, dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau. Ngoài ra trong một số
trường hợp mua sắm vật tư, doanh nghiệp phải ứng trước tiền cho nhà cuns;
cấp, từ đó hình thành các khoản tạm ứng.
Việc phân loại này nói lên sự vận động của tài sản lưu độns và vốn
lưu động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
1.1.4. Nguồn hình thành vốn lưu động:
Dựa vào các tiêu thức nhất định có thể phân chia các nguồn vốn của
doanh nshiệp thành nhiều loại khác nhau sao cho phù hợp vời tình hình của
doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.1.4.1. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn:
* Vốn lưu động thường xuyên: Để đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất
định thường xuyên phải có một lượng tài sản lưu động nhất định nằm trong
các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, bao gồm các khoản dự trữ về nguyên
vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm và nợ ph ải thu từ khách hàng.
Những tài sản lưu động này gọi là tài sản lưu động thường xuyên. Nguồn
vốn lưu động thường xuyên có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp
có thể sử dụng để hình thành nên tài sản cố định Nguồn vốn lưu động
thường xuyên tại một thời điểm được xác định như sau:
5
của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền sở hữu, sử dụng và định
đoạt.
* Vốn vay: Là khoản mà doanh nghiệp có được do vay vốn ngân hàng
trong và ngoài định mức, vốn tạm ứng đối với đơn vị nhận thầu phụ, mua
hàns hóa, các khoản phải thu, phải trả khác.
Việc phân vốn lưu động như trên giúp người quản lý xem xét, huy
động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng nhằm đẩy mạnh
việc tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh
nghiệp.
1.1.5. Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp:
Nhu cầu kinh doanh diễn ra thường xuyên hàng nsày bắt đầu từ việc
mua sắm và dự trữ vật tư cần thiết, tiếp đó tiến hành sản xuất sản phẩm và
sau khi sản phẩm được sản xuất xong thì thực hiện việc bán sản phẩm và thu
tiền về. Ọuá trình kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục tạo thành chu
kỳ kinh doanh. Như vậy, chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là thời gian
trung bình cần thiết để thực hiện việc mua sắm, dự trữ vật tư, sản xuất ra
sản phẩm và bán sản phẩm, thu tiền bán hàng. Chu kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp có 3 giai đoạn:
- Giai đoạn mua sắn và dự trữ vật tư.
- Giai đoạn sản xuất.
- Giai đoạn bán sản phẩm và thu tiền bán hàng.
Vậy, đối với mỗi doanh nshiệp, ngoài việc phân loại vốn lưu động để
quản lý còn phải xác định nhu cầu vốn lưu độns hợp lý để đảm bảo sản xuất
kinh doanh khôns thừa, không thiếu vốn.
7
Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp có 2
phương pháp sau:
1.1.5.1 Phương pháp trực tiếp:
Nội dung của phương pháp này là căn cứ vào c
â
- Xác định số dư bình quân các khoản phải thu, vật tư tồn kho.
- Xác định tỷ lệ các khoản trên doanh thu thuần cả năm. Trên cơ sở
đó xác định nhu cầu vốn lưu độns.
- Xác định nhu cầu vốn lưu động của kỳ sau.
Phương pháp này có ưu điểm là xác định nhu cầu vốn lưu động năm
kế hoạch nhanh chóng, đơn giản, dễ thực hiện. Nhưng có nhược điểm là tính
chính xác không cao.
• Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động:
- Những yếu tố về tính chất của ngành nghề kinh doanh ở mức độ
hoạt động của doanh nghiệp.
- Những yếu tố về mua sắm vật tư và sản phẩm.
- Những yếu tố về chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ, tín
dụng và tổ chức thanh toán.
- Yếu tố về giá cả vật tư hoặc hàng hóa dự trữ.
1.2. H IỆU QUẢ SỬ D ỤNG VỐN LƯU ĐỘNG:
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã
hội đạt được từ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại. Hiệu quả
sản xuất kinh doanh bao gồm hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
9
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt được hiệu quả cao nhất
với chi phí thấp nhất.
Hiệu quả xã hội phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với hầu hết các quốc gia, đặc biệt
là các quốc sia có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chỉ
tiêu hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội đều quan trọng và cần thiết như
nhau.
1.2.2. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả, bảo tồn vốn lưu động trong
kỉnh doanh.
- Vốn bị chiếm dụng lớn trong thanh toán.
Các nhân tố trên sẽ làm vốn lưu độns giảm sút dần, vì vậy nếu doanh
nghiệp sử dụng vốn lưu độns không tốt, không bảo đảm được vốn sẽ làm ảnh
hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh, quy mô vốn bị thu hẹp, vốn chậm
luân chuyển, hiệu quả sử dụng vốn sẽ thấp và tất yếu doanh nshiệp hoạt
độns sẽ kém hiệu quả.
Xuất phát từ những đặc điểm về chuyển dịch giá trị của vốn lưu động,
phương thức vận động của vốn lưu động trong quản lý, sử dụng và bảo toàn
vốn lưu động, cần chú ý một số nội dung sau:
- Xác định số vốn lưu động cần thiết, tối thiểu trons kinh doanh.
- Tổ chức khai thác tốt nguồn vốn trong và ngoài doanh nghiệp.
- Có biện pháp bảo toàn được giá trị thực của vốn lưu độns, tức là
đảm bảo được sức mua của đồng vốn không bị giảm sút so với sức mua ban
đầu. Cuối cùng là thường xuyên phân tích tình hình sử dụng vốn thôns qua
các chỉ tiêu: vòng quay vốn lưu động, hiệu suất sử dụng vốn
11
lưu động để doanh nghiệp có thể kịp thời đưa ra những biện pháp thích
hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Nội dung vốn lưu động cần quản lý:
1.2.2.1. Vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền
đang chuyển. Vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định đến khả năng
thanh toán của một doanh nghiệp. Tương ứng với quy mô kinh doanh nhất
định đòi hỏi thường xuyên phải có một lượng tiền tương xứng mới đảm bảo
cho tình hình tài chính của doanh nghiệp ở trạng thái bình thường.
1.2.2.2. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn:
Vì tiền là tài sản không sinh lời nên doanh nghiệp muốn duy trì một
lượng tài sản có tính “lỏng” cao (tính chuyển đổi dễ dàns) thường để chúng
dưới dạng đầu tư chứng khoán ngắn hạn hơn là giữ tiền. Các khoản đó là trái
phiếu, cổ phần được mua bán trên thị trường một cách dễ dàng.
* Hệ sô đảm nhiệm của vốn lưu động:
VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Hệ số đảm nhiệm _ _________________________________________
của VLĐ
—
_,
Tổng DThu(DThu thuần) thực hiện
trong kỳ
Chỉ tiêu này cho ta biết được để có thu về được một đồng doanh thu
thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng
nhỏ chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng có hiệu
quả.
13
* Tốc độ luân chuyến của vốn lưu động:
Việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hay không còn được thể hiện ở
tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp là nhanh hay chậm. Vốn
lưu động có tốc độ lưu chuyển càng nhanh chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
lưu động càng cao. Tốc độ luân chuyển được biểu hiện ở hai chỉ tiêu: số lần
luân chuyển vốn( số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyến vốn( số ngày của
một vòng luân chuyển vốn).
- Số lần luân chuyển vốn lưu động:
L = =
VLĐ
Trong đó: L: số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.
M: Doanh thu theo siá vốn đạt được trong kỳ.
VLĐ : Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ.
- Kỳ luân chuyển vốn:
_ SN _ VLĐ * SN
L M
15
Vòng qua các khoản phải thu này càng cao, thể hiện doanh nghiệp thu
hồi càng nhanh các khoản nợ. Điều đó có nghĩa là vốn bị chiếm dụng giảm,
tuy nhiên vòng quay các khoản phải thu có thể qua cao sẽ là ảnh hưởng
không tốt đến quá trình tiêu thụ, làm giảm doanh thu.
1.2.3.3 Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền Số dư bình quân các khoản phải thu
= X 360
bình quân Doanh thu thuần bình quân 1 ngày
Chỉ tiêu này cho thấy độ dài thời gian để thu hồi được các khoản tiền
phải thu kể từ khi giao hàng đến khi thu được tiền. Kỳ thu tiền truns bình
của doanh nghiệp phụ thuộc vào chính sách tiêu thụ và tổ chức thanh toán
của doanh nghiệp.
1.2.4. Các nhân tỏ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vỏn lưu động.
- Vốn lưu động có kết cấu phức tạp, do tính chất hoạt động không
thuần nhất, nguồn cấp phát và nguồn bổ sung luôn thay đổi. Để nghiên cứu
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trước hết phải tiến hành
nghiên cứu kết cấu vốn lưu động.
- Kết cấu vốn lưu động thực chất là tỷ trọng từng khoản vốn trong
tổng nguồn vốn doanh nghiệp. Thông qua kết cấu vốn lưu động cho thấy sự
phân bổ của vốn trong từng giai đoạn luân chuyển hoặc trong từng nguồn
vốn, từ đó doanh nghiệp xác định phương hướng và trọng điểm quản lý
nhằm đáp ứng vốn kịp thời đối với từng thời kỳ kinh doanh.
- Kết cấu vốn lưu độns chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố như: Đặc
điểm ngành nghề kinh doanh, trình độ tổ chức__________Vì vậy, mỗi doanh
nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động khác nhau, nó phụ thuộc các
nhân tố sau:
- Nhân tố về tiêu thụ sản phẩm: Khoảng cách giữa các doanh nghiệp
với nơi cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao
16
Quảng Bình
18
2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ.
Là Công ty xây dựng nên hoạt động sản xuất kinh doanh là thi công
xây dựng mới, nâng cấp cải tạo, hoàn thiện các công trình giao thôns, xây
dựng dân dụng.
Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng có
tính đơn chiếc, kết cấu khác nhau, thời gian thi công dài nên việc tổ chức bộ
máy quản lý có những đặc điểm riêng biệt.
Công ty đã tìm hiểu và bố trí hợp lý mô hình tổ chức sản xuất theo
hình thức trực tuyến chức năng, từ Công ty đến các xí nghiệp, đến đội, tổ,
người lao động theo tuyến kết hợp với các phòng chức năng.
Công ty Cổ phần Xây dựns Đại Cát Thành có đội ngũ cán bộ công
nhân chuyên ngành có năng lực và tay nshề cao với đầy đủ máy móc thiết bị
thi công nên đáp ứng được mọi yêu cầu kỹ thuật thi công công trình. Hiện
nay số cán bộ công nhân viên của Công ty là 503 người với các trình độ:
- Trình độ đại học: 72người
- Trình độ trung cấp: 30 người
- Còn lại là công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông.
- Giám đốc giữ vai trò lãnh đạo chung toàn Công ty, là đại diện pháp
nhân của Công ty, chịu trách nhiệm trước Công ty, trước Hội đồng quản trị
Tổng Công ty và trước pháp luật về việc điều hành hoạt động sản xuất theo
chế độ một thủ trưởng, quyết định và tự chịu trách nhiệm về kế hoạch sản
xuất của Công ty cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty .
Giúp việc cho Giám đốc có 2 Phó Giám đốc:
19
- Một phó giám đốc phụ trách kỹ thuật - thi công: Trực tiếp chỉ đạo
các hoạt động kinh doanh và thay mặt Giám đốc khi được uỷ quyền ký kết
các hợp đồng kinh tế xây dựns.
É
àr\ về
mua sắm tài sản cố định, khai thác hợp đồng, nhận thầu, hợp đồns kinh tế,
theo dõi dự toán, đánh giá sản xuất kinh doanh của Công ty và quản lý vật
tư thi công.
- Phòng Vật tư - Thiết ốỉ
ệ
; Có chức năng và nhiệm vụ lo cung ứng vật
tư cần thiết cho quá trình thi công, kế hoạch dự trữ vật tư thiết bị cho sản
xuất để đảm bảo tiến độ thi công theo các hợp đồng đã ký kết. Giúp Giám
đốc quản lý tài sản và đầu tư tài sản có hiệu quả. Ngoài ra, phòng còn có
nhiệm vụ theo dõi việc sử dụng máy của các đội thi công về kỹ thuật và
trình độ sử dụng, theo dõi thời hạn đại tu, sửa chữa lớn của mỗi máy, thời
gian sử dụng của từng máy để tính khấu hao.
- Phòng Kê toán tài chính: Có nhiệm vụ tổng hợp các số liệu, thông
tin về công tác tài chính kế toán, thực hiện việc xử lý thông tin trong công
tác hạch toán theo yêu cầu thể lệ tổ chức kế toán nhà nước. Ghi chép cập
nhật chứng từ kịp thời, chính xác, theo dõi hạch toán các khoản chi phí,
kiểm tra giám sát tính hợp lý , hợp pháp của các khoản chi phí đó nhằm
giám sát phân tích hiệu quả kinh tế của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty, từ đó giúp ban lãnh đạo đưa ra những biện pháp tối ưu. Tập
hợp các khoản chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm qua các giai đoạn,
xác định kết quả sản xuất kinh doanh, theo dõi tăng giảm tài sản và thanh
quyết toán các hợp đồng kinh tế, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước về
các khoản phải nộp.
Ngoài ra lập kế hoạch tín dụng để vay vốn thi công, vay vốn dài hạn
để mua thiết bị, thu hồi công nợ ở các chủ đầu tư.
- Khôi xí nghiệp và đội trực thuộc Công ty: Có 7 xí nghiệp và đội công
trình có chức năns và nhiệm vụ như nhau đó là cùng đảm nhận công việc
xây dựng công trình do các xí nghiệp và các đội tự nhận hoặc do Công ty
1. Tổng doanh thu 48.867 63.790 14.923 30.5
2. Doanh thu thuần 48.867 63.790 14.923 30.5
3. Giá vốn hàng bán 45.540 57.822 12.282 27.0
4. LN gộp 3.337 5.968 2.631 78.8
5. Doanh thu hoạt động TC 19 27 6 34.3
6. Chi phí tài chính 1.750 2.666 916 52.3
Trong đó: Lãi vay phải trả 1.750 2.666 916 52.3
7. Chi phí bán hàng
8. Chi phí quản lý doanh nghiệp 2.705 2.848 97 3.6
9. LN thuần từ hoạt động SXKD 1.143 481 (622) (54.4)
10. Lợi nhuận khác 1.319 (337) (1.686) (127.8)
1 l
ẻ
Tổng lợi nhuận trước thuế 176 114 (62) (35.0)
12. Thuế TNDN
13. Lợi nhuận sau thuế 176 114 (62) (35.0)
Nguồn: Công ty CỔ phần Xây dựng Đại Cát Thành
23
Qua số liệu ở bảng trên, ta có thể thấy tình hình sản xuất kinh doanh
của Công ty trong năm 2009 kém hơn so với năm 2008. Tổng lợi nhuận
trước thuế là 114 triệu đồng, giảm 61 triệu đồng, ứng với tỷ lệ giảm là 35%.
Lợi nhuận hoạt động tài chính tăng lên mặc dầu chi phí hoạt động tài
chính tăng lên với tỷ lệ cao hơn tỷ lệ tăng doanh thu tài chính (cụ thể là
34,3% so với 52,3%). Từ số liệu của hai năm ta thấy hoạt động tài chính
của Công ty tỏ ra không có hiệu quả khi thu nhập hoạt động tài chính luôn
nhỏ hơn chi phí hoạt động tài chính.
2.2.2. Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của Công ty
Tuỳ vào từng loại hình doanh nshiệp mà mỗi doanh nghiệp có những
tỷ lệ cơ cấu vốn khác nhau. Tuy nhiên nguồn vốn của tất cả các doanh
nghiệp phải căn cứ vào từng thời điểm hoạt động sản xuất kinh doanh mà
15.857 20,88 12.883 16,74 2.974) (18,75)
3. Nợ khác 213 0,28 1.603 2,09 1.390 652,2
Tổng cộng
NV
78.552 100 80.842 100 2.290 2.91
Nẹuồn: Công ty CỔ phần Xây dựng Đại Cát Thành
25
Qua bảng trên ta thấy nguồn vốn kinh doanh năm 2009 đạt
80.842 triệu đồng, tăng 2,9% so với năm 2008. Trong đó, nguồn vốn chủ sở
hữu và nợ phải trả đều tăng lên, vốn chủ sở hữu tăng lên 1.301 triệu đồng,
ứng với tỷ lệ tăng là 49,9%, trong đó chủ yếu là nguồn vốn chủ sở hữu (tăng
46,5%), nợ phải trả tăng lên 992 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng là 1,3%,
trong đó nợ ngắn hạn tăng 4,3%.
Trong tổng nguồn vốn, nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn: 78,84% trons
năm 2008 và 81,17% trons năm 2009, sở dĩ vốn lưu động có tỷ trons lớn là
do đặc thù của nsành xây dựng cơ bản. Như vậy để tài trợ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh diễn ra liên tục và ổn định thì Công ty vẫn phải thường
xuyên huy động các neuồn lực từ bên ngoài.
Khoản nợ khác tăng lên 652,2% nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ (2,09%
trong năm 2009 và 0,28% trong năm 2008)
Điều này cho thấy sự năng động của Côns ty trons việc tìm kiếm
nguồn vốn cho sản xuất. Tuy nhiên, nếu nợ vay quá lớn sẽ là một gánh nặns
cho Côns ty trong việc trả nợ và lãi vay, đồng thời nsuồn vốn chủ sở hữu
thấp sẽ làm khả năng tự tài trợ, độc lập về tài chính của Công ty giảm.
Từ những kết quả trên ta thấy:
Hệ số vốn chủ sở hữu = 1 - Hệ số nợ
Tổng số nợ
Hệ số n =
Tổng nguồn vốn
Vậy ta có:
Bảng 4: Tình hình sử dụng vốn lưu động tại Công ty
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Chênh lệch
Sô tiền TT Sô tiền TT Sô tiền %
1. Tiền 4.885 7,92 3.540 5,28 (1.345) (27,5)
- Tiền mặt tại quỹ 98 2,0 77 0,2 (21) (21,4)
- Tiền gửi NH 4.786 98,0 3.532 99,8 (1.254) (26,2)
2. Các khoản phải thu 33.937 55,05 40.120 59,9 6.183 18,2
- Phải thu khách hàng 26.062 65,0 35.526 88,55 9.424 36,1
- Trả trước cho người bán 710 2,09 2.802 6,98 2.092 294,8
- Phải thu nội bộ 6.966 32,91 4.269 4,47 (2.697) (38,7)
3. Hàng tồn kho 22.085 35,83 22.736 33,96 651 2,9
- Chi phí SXKD dở dan2 22.085 35,83 22.736 33,96 651 2,9
4. TSLĐ khác 734 1,2 568 0,86 (166) (22,6)
- Tạm ứng 467 63,62 259 45,6 (208) (44,5)
- Chi phí chờ kết chuyển 246 33,5 230 40,5 (16) (6,66)
- Các khoản cầm cố 19 2,88 78 14,4 (59) (310,5)
Tổng TSLĐ 61.641 100 66.964 100 5.323 8,6
Nguồn: Công ty cổ phần Xây dựng Đại Cát Thành
28
Nhận xét cơ cấu vốn lưu động của Công ty:
Công ty XD Đại Cát Thành là Công ty có chức năng chủ yếu là xây
dựng các công trình giao thông nên vốn lưu động có vai trò quan trọns và
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn kinh doanh của Côns ty.
Từ số liệu ở bảng trên ta thấy qua hai năm, tổng TSLĐ của Công ty
tăng lên 5.323 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 8,6%. Điều này là hợp
lý bởi Công ty chuyên về xây dựng công trình, vốn lưu động là một yếu tố
rất cần thiết.
Vốn bằng tiền của Công ty chiếm tỷ trọng nhỏ, điều đó cho thấy vốn
của Công ty được sử dụng với hiệu suất cao, vì vậy sẽ không rơi vào tình
Chi phí sản xuất kỉnh doanh dở dang trong năm 2009 tăng 2,9%, là
một số lượns khôns lớn nhưns đây là chi phí chiếm tỷ trọng cao trong cơ
cấu VLĐ, cụ thể là 35,38% trong năm 2008 và 33,96% trong năm 2009.
Nguyên nhân là do một số công trình đang trong giai đoạn thi CÔĨ12 hoặc
giai đoạn hoàn thành.
Tài sản lưu động khác trong năm 2009 giảm 166 trđ so với năm 2008,
trong đó vốn lưu động dành cho khoản tạm ứng chiếm tỷ lệ khá cao là
63,62% năm 2008 và 45,6% năm 2009 do đặc điểm là ngành xây dựng, thời
gian thi công thường kéo dài.
Như vậy, vốn lưu động của Công ty tồn đọng ở các khoản phải thu
nhiều và vốn bằng tiền còn thấp, ảnh hưởns đến khả năng thanh toán. Vì vậy
Công ty cần tích cực thu hồi nợ để tăng nguồn thu, quay nhanh vòng vốn và
dự trữ tiền mặt nhằm đảm bảo khả năn2 thanh toán.
Để nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty, ta tiến
hành nghiên cứu các chỉ tiêu sau:
30