Phát triển hoạt động môi giới ở công ty cổ phần chứng khoán quốc tế việt nam - Pdf 22



LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
TTCK ra đời ở Việt Nam bằng việc đánh dấu bởi phiên giao dịch đầu tiên diễn
ra vào ngày 28/07/2000. Trải qua hơn 9 năm hình thành và phát triển đến nay TTCK đã
thực sự khẳng định vị thế của mình là một kinh huy động vốn hiệu quả nhất cho các
Doanh nghiệp niêm yết và là kênh đầu tư hấp dẫn thu hút công chúng đam mê chứng
khoán cả trong lẫn ngoài nước.
Cùng với sự ra đời của TTCK, các CTCK cũng lần lượt thành lập và đi vào hoạt động
vừa đóng vai trò là một nhà tạo lập thị trường, vừa cung cấp và đáp ứng tốt nhất những
dịch vụ cho khách hàng là các doanh nghiệp và các NĐT. Tính đến thời điểm hiện tại
có 105 CTCK đang hoạt động trên cả nước. Sự ra đời ồ ạt của CTCK đã dẫn đến tất
yếu cạnh tranh, sự cạnh tranh đã trở thành động lực quan trọng để các CTCK không
ngừng phát triển chất lượng các dịch vụ của chính mình nhằm thu hút và giữ chân
khách hàng.
Trong tất cả các loại hình dịch vụ mà CTCK cung cấp cho khách hàng thì Môi
giới là một trong những hoạt động hầu như không thể thiếu ở bất kỳ một CTCK nào.
Bởi đây là một hoạt động quan trọng nó thể hiện vai trò của một nhà tạo lập thị trường-
là cầu nối trung gian mua bán và quan trọng hơn cả đây là một trong những mảng đóng
góp tỷ trọng rất lớn vào doanh thu hàng năm của các công ty. Cũng chính vì lẽ đó mà
bản thân mỗi CTCK đều nhận thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện và nâng
cao chất lượng của hoạt động này.
Trong thời gian tập sự tại CTCK Quốc Tế Việt Nam, tôi đã có cơ hội được thực
tập ở bộ phận Môi giới. Tại đây tôi đã được cọ sát trong một môi trường thực tiễn,
được tiếp xúc và làm việc với vai trò là một sub-broker. Qua đó, tôi tự nhận thấy mình
thật sự yêu thích và hứng thú với mảng dịch vụ này. Cũng chính vì thế nên tôi nghĩ bản
thân cần phải làm điều gì đó để góp phần xây dựng cho hoạt động môi giới của công

ty, đó là lý do thúc đẩy tôi chọn “ Phát triển hoạt động Môi giới ở công ty cổ phần
Chứng khoán Quốc Tế Việt Nam” làm đề tài tốt nghiệp cho mình.

Chương 1:Những vấn đề chung về CTCK và hoạt động môi giới của CTCK.
Chương 2: Thực trạng hoạt động môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán
Quốc Tế Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động môi giới tại công ty cổ
phần Chứng khoán Quốc Tế Việt Nam (VIS)

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN DỀ CHUNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG
MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1. Tổng quan về CTCK:
1.1 Khái niệm về CTCK:
CTCK là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn
có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập.
CTCK có thể là thành viên của Sở giao dịch Chứng khoán( SGDCK). CTCK có
vai trò trung gian trong việc môi giới chứng khoán , thm gia tư vấn niêm yết và
thực hiện cung cấp thông tin đến NĐT, góp phần vào sự thành công của TTCK.
Tai Việt Nam, theo Điều 59, Luật Chứng khoán, CTCK tổ chức dưới hình thức
công ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo qui định của luật doanh nghiệp. UBCK
Nhà nước cấp giấy phép hoạt động và thành lập cho CTCK, giấy phép này đồng
thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
o Phân loại CTCK :
 Căn cứ vào mô hình hoạt động:
 CTCK đa năng:
Theo mô hình này, CTCK được tổ chức dưới một hình thức tổ hợp dịch vụ tài chính
tổng hợp bao gồm kinh doanh Chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ, và các
dịch vụ tài chính. Câc ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh

Dạng công ty kinh doanh chứng khoán : Có hoạt động chính là tự doanh chứng
khoán tức tự tiến hành giao dịch mua bán chứng khoán cho riêng mình.
Dạng công ty trái phiếu : Công ty chuyên mua bán , trao đổi các loại trái phiếu
CTCK không tập trung : Công ty chứng khoán hoạt động chủ yếu trên thị trường
OTC (đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường) Vai trò Và chức năng của CTCK :
Vai trò:
Vai trò của CTCK được thể hiện qua các nghiệp vụ của CTCK. Thông qua các hoạt
động này, CTCK đã thực sự tạo sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của
TTCK nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. CTCK đã trở thành tác nhân quan
trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển của TTCK.
Đối với tổ chức phát hành:
Mục tiêu của các CTCK khi tham gia phát hành cổ phiếu là huy động vốn. Thông
qua các hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành CTCK có vai trò tạo ra cơ
chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành. Thông qua tổ chức phát hành, CTCK
có vai trò huy động vốn cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, các CTCK cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp về tài
chính công ty, cơ cấu lại doanh nghiệp, lập và đánh giá dự án, quản lý tài sản và
định hướng đầu tư.
Đối với NĐT :
Thông qua các hoạt động như môi giới tư vấn, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có
vai trò làm giảm chi phí giao dịch. Đối với hàng hóa thông thường mua bán qua
trung gian sẽ làm tăng chi phí. Nhưng đối với Chứng khoán là loại hàng hóa có độ
rủi ro cao nên NĐT phải mất rất nhiều thời gian công sức để sưu tầm, nghiêm cứu
trước khi quyết định đầu tư. Với CTCK có trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề
nghiệp sẽ giúp NĐT sử dụng một cách có hiệu quả.
Đối với TTCK :
 Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Gía cả của chứng khoán

Cung cấp giá cả:
Thông qua hệ thống khớp giá khớp lệnh,các CTCK cung cấp kịp thời sự thay
đổi về giá cả qua từng phút giúp NĐT có thể đưa ra quyết định về giá, lượng
một các hợp lý.
Tạo tính thanh khoản cho hoạt động thị trường:

CTCK giúp chuyển từ chứng khoán sang tiền mặt và ngược lại một cách dễ
dàng. CTCK là một tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế nói chung và TTCK nói riêng. Nhờ những CTCK mà vốn được sử dụng
một cách có hiệu quả hơn.

Các nghiệp vụ của CTCK :
1.4.1 Môi giới:
Là một hoạt động kinh doanh của CTCK trong đó CTCK đại diện cho khách hàng
giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch Chứng khoán hay thị trường
OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của
việc giao dịch đó.
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, CTCK phải mở tài khoản giao dịch Chứng khoán
và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách hàng và công
ty.
Trong trường hợp khách hàng của CTCK mở tài khoản lưu ký tại tổ chức lưu ký là
ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoại, CTCK có trách
nhiệm hướng dẫn các thủ tục giao dịch, mua bán cho khách hàng và phải ký hợp
đồng bằng văn bản với tổ chức lưu ký. Tiền hoa hồng môi giới thường được tính
bằng phần trăm trên tổng giá trị của một giao dịch.

1.4.2 Nghiệp vụ Tự doanh Chứng khoán:
Là nghiệp vụ trong đó CTCK thực hiện mua và bán Chứng khoán cho chính mình.
CTCK thực hiện nghiệp vụ tự doanh nhằm mục đích thu lợi hoặc đôi khi nhằm mục
đích can thiệp điều tiết giá trên thị trường. Chứng khoán tự doanh có thể là Chứng

một trong những hoạt động mang lại nguồn thu nhập và cơ sở khách hàng lớn nhất
cho CTCK. Về bản chất, bảo lãnh phát hành là việc CTCK hỗ trợ cho các đơn vị
phát hành huy động vốn bằng cách bán Chứng khoán trên thị trường. Sự hổ trợ đó
giúp đơn vị phát hành nắm chắc khả năng huy động vốn và có kế hoạch sử dụng
vốn huy động.

Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên
số tiền thu được từ đợt phát hành
Hiện nay trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau:
 Bảo lãnh cam kết chắc chắn:
Là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ số
chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát hành, sau đó sẽ bán ra công
chúng, hoặc công ty bảo lãnh phải nhận mua toàn bộ số Chứng khoán còn lại
chưa được phân phối hết của đợt phát hành. Gía mua của công ty bảo lãnh là
một giá đã được ấn định, thường là thấp hơn giá thị trường. Gía bán của công ty
bảo lãnh là giá thị trường. Đây là hình thức công ty bảo lãnh hoạt động tự
doanh, hoạt động cho chính họ và sẵn sàng chịu mọi rủi ro.
 Bảo lãnh cố gắng tối đa:
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý phát
hành cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số
Chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa. Số Chứng khoán còn lại nếu không
phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành. Như vậy, kết quả của việc bán
Chứng khoán của tổ chức phát hành tùy thuộc vào khả năng, uy tín và sự lựa
chọn NĐT của tổ chức bảo lãnh.
 Bảo lãnh tất cả hoặc không:
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo
lãnh phải bán hết số Chứng khoán dự định phát hành, nếu không phân phối hết
sẽ hủy bỏ đợt phát hành. Theo phương thức này, không có một sự bảo đảm đợt
phát hành có thành công hay không, nên UBCKNN thường yêu qui định số
Chứng khoán mà NĐT đã mua trong thời gian chào bán sẽ được giữ bởi một

khoán cho tổ chức phát hành. Số tiền phải thanh toán là giá trị Chứng
khoán trừ đi chi phí bảo lãnh.

1.4.4 Ngiệp vụ tư vấn:
 Hoạt động tư vấn chứng khoán:

Là việc chuyên viên tư vấn sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để tư vấn cho
NĐT về thời điểm mua bán Chứng khoán, loại Chứng khoán mua bán, thời gian nắm
giữ, tình hình diễn biến thị trường, xu hướng giá cả…Đây là hoạt động phổ biến trên
thị trường thứ cấp diễn ra hằng ngày, hàng giờ với nhiều hình thức khác nhau. Việc tư
vấn có thể bằng lời nói, hoặc có thể thông qua những bản tin, các báo cáo phân
tích…khách hàng có thể gặp gỡ nhà tư vấn hoặc thông qua các phương tiện truyền
thông như điện thoại, fax…để tư vấn trực tiếp hoặc có thể gián tiếp thông qua các báo
cáo phân tích, các ấn phẩm mà nhà tư vấn phát hành.
 Tư vấn tài chính doanh nghiệp:
Là một phần trong tổng thể các hoạt động tư vấn của CTCK. Với khả năng chuyên
môn của mình, CTCK hỗ trợ các khách hàng trong việc lập và thực hiện kế hoạch tài
chính quan trọng nhằm tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp, đảm bảo đầy đủ các nguồn
lực tài chính cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khi cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp, CTCK phải đáp ứng được các yêu
cầu sau:
- Trung thực, tận tụy và vì lợi ích của khách hàng;
- Chịu trách nhiệm về những vấn đề có liên quan đến hoạt động tư vấn của
mình đối với doanh nghiệp;
- Có đủ năng lực thực hiện hoạt động tư vấn đã cam kết với khách hàng.
- Không được nhận bất kỳ một lợi ích không chính đáng nào ngoài những lợi
ích đã thỏa thuận với khách hàng theo quy định của pháp luật.
Các CTCK có thể thu phí hoặc miễn phí khi cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng,
tùy theo tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động tư vấn. Theo thông lệ, các CTCK
chỉ chịu trách nhiệm về những ý kiến tư vấn của mình, khách hàng phải tự chịu trách

phá sản. 1.4.6 Các nghiệp vụ hỗ trợ khác:

Nhìn chung các nghiệp vụ hỗ trợ giao dịch nhằm tọa thuận lợi cho NĐT, giúp NĐT
không bỏ lở các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
 Cho vay cầm cố Chứng khoán:
Là một hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay dùng số Chứng khoán sở hữu hợp
pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…
 Cho vay bảo chứng:
Là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để mua Chứng khoán, sau đó dùng
số Chứng khoán mua được từ tiền vay để làm tài sản cầm cố cho khoản vay.
- Cho vay ứng trước tiền bán Chứng khoán :
Là việc CTCK ứng trước tiền bán Chứng khoán cho khách hàng ngay sau khi lệnh bán
Chứng khoán cảu khách hàng được thực hiện.
- Nghiệp vụ lưu ký Chứng khoán :
Là việc lưu giữ, bảo quản Chứng khoán của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký
Chứng khoán. Đây là công việc đầu tiên để cho các Chứng khoán có thể giao dịch trên
thị trường tập trung. Việc lưu giữ, bảo quản Chứng khoán của khách hàng và giúp
khách hàng thực hiện thông qua các thành viên lưu ký của thị trường giao dịch Chứng
khoán.
Lưu ký Chứng khoán là một hoạt động rất cần thiết trên TTCK. Bởi vì trên TTCK tập
trung, việc thanh toán trên các các giao dịch diễn ra tại Sở giao dịch Chứng khoán. Vì
vậy, lưu ký Chứng khoán một mặt giúp cho quá trình thanh toán tại Sở giao dịch được
diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng. Mặt khác, nó hạn chế rủi ro cho người nắm
giữ Chứng khoán như rủi ro bị rách, hỏng, thất lạc…

giới chứng khoán. Với việc tuyển dụng lỏng lẻo, trình độ chuyên môn chưa sâu, đạo
đức nghề nghiệp chưa được kiểm chứng, việc ủy quyền giao dịch cho các môi giới tự
do là điều hết sức rủi ro.Do đó, UBCK cần quản lý sát sao hơn như việc yêu cầu các

CTCK lập danh sách môi giới, báo cáo thường xuyên vế biến động nhân sự môi giới.
Đối với các môi giới chưa đủ điều kiện thì phải thực hiện bổ sung chứng chỉ hành
nghề, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm vì sự phát triển ổn định, bền
vững của thị trường.
Hiện nay trên cả nước có khoảng 105 CTCK, do đó cạnh tranh trong kinh doanh là vấn
đế tất yếu. Thế nhưng nhiều CTCK đã và đang cố tình lách luật để tìm mọi cách để tạo
ra lợi thế cạnh tranh của mình trên thương trường. Quy định về phương thức giao dịch
chứng khoán T+3 chỉ rỏ, tức là phải 3 ngày sau chứng khoán mới về tài khoản của
người mua, và tiền mới về tài khoản của người bán. Thế nhưng trong thời gian qua
nhiều công ty vẫn cố tình thực hiện cơ chế giao dịch T+2, thậm chí là T+1 trong khi đó
UBCK Nhà nước vẫn chưa cho phép. Điều này đã dẫn đến một thực trạng cạnh tranh
không lành mạnh giữa các CTCK. Tuy nhiên, khi một vài CTCK âm thầm triển khai
hình thức giao dịch T+2 mà không có sự giám sát chặt chẻ của cơ quan quản lý thị
trường thì các công ty còn lại cũng bắt chước triển khai. Để không bị cơ quan quản lý
"tuýt còi", CTCK phải ẩn các dịch vụ trên dưới dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh,
thỏa thuận hỗ trợ tài chính Qua đó cho thấy những hạn chế trong công tác quản lý
của cơ quan quản lý thị trường đã tạo cơ hội cho các CTCK qua mặt. Những hạn chế
đó cho thấy sự yếu kém của và thiếu hoàn thiện trong công tác quản lý cũng như ban
hành một bộ luật mang tính trọn vẹn và chặt chẻ. Chính sự yếu kém đó đã tạo điều kiện
cho những tiêu cực trong môi trường kinh doanh của các CTCK.Từ đó ảnh hưởng đến
sự vận động và phát triển lành mạnh của TTCK nước ta.
 Nghiệp vụ môi giới Chứng khoán:
2.1 Khái niệm về môi giới:
Như đã trình bày ở trên thì Môi giới là một hoạt động của CTCK trong đó CTCK
đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tập tại Sở
giao dịch Chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách

với các tổ chức trung gian khác và các dịch vụ của họ sẽ làm NĐT không mất thời

gian tìm kiếm đối tác, môi giới sẽ làm việc đó giúp họ, việc của họ chỉ là tìm cho
mình một trung gian đáng tin cậy và trả phí môi giới.
2.3.2 Phát triển thị trường:
Chịu đựng sự cạnh tranh khắc nghiệt trên thị trường, CTCK thông qua đội ngũ môi
giới của mình sẽ luôn gắn bó trực tiếp đối với đối tượng khách hàng mục tiêu của
mình và cung cấp cho họ những dịch vụ tốt nhất để đảm bảo lợi nhuận của mình,
góp phần làm gia tăng cả số lượng lẫn chất lượng các NĐT.
2.3.3 Cải thiện môi trường kinh doanh:
Thị trường càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các CTCK càng ác liệt hơn và hiệu
quả hơn, NĐT là những người được lợi trực tiếp từ quá trình này.

2.4 Nguyên tắc hoạt động của môi giới Chứng khoán:
Môi giới Chứng khoán là hoạt động trong nền kinh tế thị trường phát triển, là sản phẩm
của thị trường bậc cao với nhiều nét đặc trưng riêng lại càng có nguyên tắc áp dụng khi
thực hiện. Ta có thể kể đến những nguyên tắc chung sau:
 Hoạt động môi giới phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật hiện hành về
Chứng khoán và TTCK, phải tuân thủ các quy định của công ty và tuân thủ quy tắc
ứng xử và đạo đức nghề nghiệp.
 Người lãnh đạo CTCK phải chỉ đạo thực hiện hoạt động môi giới trong phạm vi,
quy mô phù hợp với tình hình thị trường, tiềm lực tài chính và năng lực, trình độ
của nhân viên môi giới, nhân viên giao dịch, đảm bảo an toàn, hiệu quả, kiểm soát
được rủi ro.
 Phải có sự quản lý tách bạch tiền và Chứng khoán của từng khách hàng, sử dụng
tiền và Chứng khoán trên tài khoản của khách hàng theo đúng hợp đồng đã ký.
 Người môi giới là đại diện của khách hàng khi thực hiện giao dịch nên:
 Hoạt động môi giới của công ty chỉ được thực hiện khi công ty ký hợp
đồng bằng văn bản với khách hàng.
 Chỉ được thực hiện lệnh của khách hàng khi khách hàng có đủ các điều

xuyên học tập nâng cao kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ.

 Phải bảo mật: bảo quản hồ sơ, tài liệu của khách hàng,
không được thảo luận bất kỳ thông tin nào về khách hàng với người không
có liên quan, không sử dụng thông tin của khách hàng dưới bất kỳ hình
thức nào để tác động tới giao dịch vì lợi ích của nhân viên môi giới, của
công ty hay của khách hàng khác.
Bên cạnh đó, hoạt động môi giới Chứng khoán còn có quy định rõ về hành vi bị cấm
không được thực hiện. Đó là:
 Chỉ những người đã được cấp giấy phép hành nghề hay được công ty cho phép
mới được thực hiện các giao dịch cho khách hàng.
 Không được sử dụng những thông tin nội bộ để mua, bán Chứng khoán cho
chính mình hoặc cho bên thứ ba.
 Không được tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho bên thứ ba mua,
bán Chứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ.
 Không được giao dịch Chứng khoán mà không thay đổi quyền sở hữu Chứng
khoán nhằm tạo cung cầu giả.
 Không được tham gia lôi kéo người khác liên tục mua, bán thao túng giá Chứng
khoán.
 Không được tạo dựng truyền bá thông tin sai sự thật, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng tới các hoạt động giao dịch Chứng khoán.
 Không được làm trái lệnh của khách hàng hoặc không cung cấp xác nhận giao
dịch theo quy định hay tự ý mua, bán Chứng khoán trên tài khoản của khách
hàng.
 Không được có quan hệ tài chính cá nhân với khách hàng, nếu có phải công khai
báo cáo với công ty.
 Không được nhận ủy quyền của khách hàng để quyết định lựa chọn chủng loại,
số lượng, giá cả Chứng khoán và thực hiện các giao dịch mua bán trên tài khoản
giao dịch Chứng khoán của khách hàng mở tại CTCK đó.


cũng đối mặt với áp lực rất cao, sai sót là vấn đề bất khả kháng nếu không có
một mô hình tổ chức hiệu quả và nhà lãnh đạo có năng lực, hoạt động môi
giới của công ty sẽ mắc lại ở nhiều khâu, không thể diễn ra trơn tru hiệu quả
được.

 Chiến lượt kinh doanh của công ty:
Liên quan đến tầm nhìn của công ty, mục tiêu và chiến lượt đúng đắn sẽ đảm
bảo doanh thu và lợi nhuận cho công ty.

Quan hệ với khách hàng:
Khối lượng giao dịch quyết định lợi nhuận của công ty và gián tiếp ảnh hưởng
đến toàn bộ các hoạt động còn lại của công ty, do tính phức tạp của các hoạt
động giao dịch Chứng khoán, mâu thuẫn giữa khách hàng và công ty là điều
khó tránh khỏi, các công ty cần xây dựng đối tượng khách hàng mục tiêu để
đảm bảo lợi ích và sự phát triển lâu dài cho công ty.

2.4.2 Nhân tố khách quan:
 Môi trường kinh tế:
TTCK là một bộ phận của thị trường vốn, trong giai đoạn nền kinh tế tăng
trưởng, nhu cầu vốn sẽ tăng nhiều hơn kèm theo sự phát triển của TTCK và
ngược lại trong giai đoạn đầu nền kinh tế suy thoái, có rất nhiều yếu tố tác
động đến nhưng nói chung sự tăng trưởng của cả nền kinh tế có phần quan
trọng trong những thay đổi trên TTCK. Điều này có nghĩa là, các yếu tố vĩ mô
của nền kinh tế có ảnh hưởng đến TTCK từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến CTCK
mà đầu tiên sẽ là hoạt động môi giới. Bởi khi môi trường kinh tế gặp nhiều
thuận lợi thì nó sẽ tạo điều kiện cho thị TTCK phát triển bởi đây được xem là
kênh huy động vốn hiệu quả của doanh nghiệp và là kênh đầu tư hấp dẫn đối

với công chúng đầu tư. TTCK phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội kinh doanh cho
các CTCK mà trước hết là hoạt động môi giới của công ty trong việc nổ lực gia

2.4.5 Tìm hiểu nghiệp vụ môi giới chứng khoán ở một số quốc gia trên thế giới:
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời cho đến nay đã trải qua 10 năm, tuy nhiên có
thể thấy rằng nếu so với các thị trường các trong khu vực và trên thế giới thì nước ta
vẫn cần phải học hỏi rất nhiều thứ. Điều đó cũng là dễ hiểu bởi so với một số quốc gia
trên thế giới thì TTCK nước ta vẫn còn khá non trẻ. Đơn cử như hoạt động môi giới
của các công ty chứng khoán nước ta chẳng hạn có rất nhiều điểm khác với hoạt động
môi giới ở một số quốc gia trên thế giới.
Trên thế giới, một nhà môi giới chứng khoán là một người độc lập, được cấp phép như
một đại diện đăng ký hợp pháp và bằng cách này họ đóng vai trò là một người trung
gian đứng giữa người mua và người bán chứng khoán. Người môi giới vì thế được trả
tiền hoa hồng cho công việc này.
Môi giới chứng khoán không ký hợp đồng với Công ty Chứng khoán, không chịu sự
quản lý nào từ Công ty Chứng khoán. Họ được UBCK cấp phép hành nghề, có văn
phòng riêng tự tìm kiếm khách hàng. Công việc chính của môi giới là phát triển khách
hàng và tư vấn đầu tư. Quan hệ giữa họ và Công ty Chứng khoán chỉ là thuê đường
truyền để thực hiện giao dịch. Hoặc nếu được nhà đầu tư ủy quyền, họ sẽ thực hiện các
giao dịch như vay mượn tiền, chứng khoán, mua bán chứng khoán… với Công ty
chứng khoán.
Các nước có TTCK phát triển và ra đời khá sớm chẳng hạn như Mỹ, Đức…họ đã được
UBCK triển khai phương thức giao dịch T+1, T+2 nhằm tạo sự đa dạng và thu hút
NĐT, giúp NĐT trong việc rút ngắn thời gian chứng khoán và tiền về tới tài khoản
theo quy định T+3 như trước kia.Mua(bán) khống chứng khoán cũng không phải là quá
xa lạ ở các thị trường này. Những cơ chế thông thoáng đó đã kích thích sự tham gia
đầu tư của NĐT tham gia vào thị trường và đó là một cơ hội lớn cho nghiệp môi giới.
Trong khi đó ở nước ta, mặc dù đã trải qua 10 năm hình thành và phát triển nhưng nhìn

chung các sản phẩm cung cấp từ các CTCK vẫn còn khá nghèo nàn. Bán khống không
được pháp luật thừa nhận, phương thức giao dịch dưới T+3 vẫn chưa được triển khai.
Ngoài ra hiện nay trên thế giới khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bảo thì
những nhà môi giới chứng khoán cũng đã tận dụng rất nhiều từ điều đó để mang lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status