Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty cổ phần chứng khoán Việt Quốc - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Hơn thế nữa chúng ta đã và đang dần nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Chúng ta đã được bầu làm thành viên không thường trực của Hội Đồng Bảo
An Liên Hợp Quốc, tổ chức thành công hội nghị APEC, là thành viên của
WTO.. . Hoà chung với sự thành công đó thì sự phát triển mạnh mẽ của
TTCK đặc biệt cuối năm 2006 đầu năm 2007 đã tạo một kênh huy động vốn
quan trọng cho nền kinh tế, do đó các Công ty chứng khoán (CTCK) cũng
phải đầu tư mạnh mẽ về nhiều mặt cả về mặt số lượng nhân viên lẫn chất
lượng để hoàn thiện chính mình và cạnh tranh cùng phát triển. Và để cạnh
tranh nhau một cách lành mạnh thì các CTCK phải nhanh chóng phát triển các
nghiệp vụ của mình bởi khi nhà đầu tư đánh giá về một công ty chứng khoán
họ sẽ đánh giá xem nghiệp vụ của các CTCK đó có tốt hay không, dịch vụ ra
sao và một trong những hoạt động thể hiện phần lớn điều đó là hoạt động tự
doanh, nó mang lại một phần lợi nhuận cốt lõi cho CTCK.
Khi mà hoạt động tự doanh triển khai tốt sẽ giúp một CTCK nâng cao
tiềm lực tài chính, tạo vị thế mạnh cho công ty, khả năng cạnh tranh lớn song
nếu hoạt động yếu kém thì có thể gây tổn thất nặng nề, nhất là đối với một
CTCK còn non trẻ như VQS. Trên cơ sở em đã thực tập tại công ty cổ phần
chứng khoán Việt Quốc và nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tự
doanh em quyết định chọn đề tài “Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty
cổ phần chứng khoán Việt Quốc.” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
1
Mục lục

Trang
Lời mở đầu 1
Chương 1- LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ
TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 3
1.1. Khái quát hoạt động của công ty chứng khoán 4
1.1.1. Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán 4

CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VQS 42
3.1. Chiến lược chung về phát triển kinh doanh tại VQS 42
3.2. Định hướng hoạt động tự doanh của VQS 45
3.2.1. Mục tiêu trước mắt 45
3.2.2. Mục tiêu lâu dài của Công ty 46
3.3. Giải pháp phát triển hoạt động tự doanh tại VQS 48
Tài liệu tham khảo 51

3
Chương 1: Lý luận Chung Về nghiệp vụ tự doanh của Công ty
Chứng Khoán.
1.1. Khái Quát hoạt động của công ty chứng khoán.
1.1.1. Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán
1.1.1.1.Khái niệm
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các
nghiệp vụ trên TTCK. Ở Việt Nam công ty Chứng Khoán là công ty cổ phần
hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ Ban Chứng
Khoán Nhà Nước (UBCKNN) cấp giấy phép thành lập và hoạt động.
Theo quy định để được coi là công ty chứng khoán doanh nghiệp phải
tham gia vào một hoặc một số loại hình kinh doanh sau:
 Môi giới chứng khoán
 Tự doanh
 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
 T ư vấn đầu tư chứng khoán
Ngoài các loại hình kinh doanh trên, công ty chứng khoán còn thực hiện
các nghiệp vụ sau : Tư vấn tài chính, lưư ký chứng khoán....
1.1.1.2. Phân loại Công ty chứng khoán
*Theo mô hình và tổ chức Công ty chứng khoán
 Mô hình đa năng
Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức 1 tổ hợp dịch vụ tài

• Tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển
5
• Mô hình này được áp dụng ở rất nhiều nước. Tuy nhiên trong thời
gian gần đây, các nước này có xu hướng xoá bỏ dần hàng rào ngăn cách
hai loại hình kinh doanh là tiền tệ và chứng khoán và ngày nay các công ty
chứng khoán lớn đã mở rộng kinh doanh cả trong lĩnh vực bảo hiểm và
kinh doanh tiền tệ.
• Nhược điểm của mô hình
Do xu thế hình thành các tập đoàn tài chính khổng lồ , nên một số thị
trường cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ, chứng khoán , bảo
hiểm nhưng được tổ chức thành công ty mẹ, công ty con và được quản lý
giám sát chặt chẽ hoạt động tương đối độc lập.
1.1.2. Điều kiện thành lập công ty chứng khoán
 Điều kiện về vốn
Vốn pháp định của công ty chứng khoán thường được quy định cụ thể
cho từng loại hình kinh doanh. Một công ty càng tham gia vào nhiều loại hình
thì càng cần phải có nhiều vốn trên cơ sở các yếu tố khác nhau như quy mô
thị trường, giao dịch dự kiến, khả năng tài chính của các tổ chức tài chính
tham gia thị trường…mỗi quốc gia khác nhau có các quy định khác nhau về
mức vốn pháp định đối với các công ty chứng khoán.
Tại Việt Nam quy định về vốn pháp định như sau:
6
Như vậy theo quy định mới (NĐ 14/2007) thì vốn pháp định cho 4
nghiệp vụ của công ty chứng khoán là 300 tỷ VNĐ. Mức vốn này lớn hơn rất
nhiều so với nghị định cũ (NĐ 144/2003) chỉ là 43 tỷ VNĐ. Qua đó chúng ta
có thể thấy rằng điều kiện thành lập một công ty chứng khoán hiện tại bây giờ
thì khó khăn hơn rất nhiều so với các công ty chứng khoán thành lập trước đó.
Nói như vậy là không hẳn các công ty chứng khoán thành lập trước đây có lợi
mà hiện nay những công ty chứng khoán chưa đủ vốn pháp định theo yêu cầu
sẽ phải chịu áp lực tăng vốn rất là lớn đặc biệt là thị trường trong giai đoạn

công ty chứng khoán. Điều kiện đó là những người quản lý hay nhân viên của
công ty chứng khoán phải có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm cũng như độ
tín nhiệm tính trung thực.
 Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật
8
Trong lĩnh vực chứng khoán, để các nhà đầu tư có thể tiếp xúc nhau dễ
dàng trong việc mua hay bán chứng khoán thì các công ty chứng khoán cần
phải có sàn giao dịch để làm địa điểm tiếp xúc với nhà đầu tư, cần có địa điểm
và thiết bị nhận lệnh, truyền lệnh, công bố thông tin liên quan đến chứng
khoán và giao dịch chứng khoán nên để đảm bảo hiệu quả hoạt động của các
công ty chứng khoán pháp luật các nước cũng quy định điều kiện về cơ sở vật
chất, kỹ thuật khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty chứng khoán là
một trong ba điều kiện không thể thiếu về điều kiện thành lập.
Ở Việt Nam ngoài quy định về vốn pháp định như trên công ty chứng
khoán muốn được cấp phép phải đáp ứng thêm các điều kiện sau :
 Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển
kinh tế -xã hội và phát triển ngành nghề chứng khoán.
 Có cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh chứng khoán.
 Giám đốc (TGĐ), các nhân viên kinh doanh của công ty chứng khoán
phải có giấy phép hành nghề chứng khoán do UBCKNN cấp.
1.1.3. Các nghiệp vụ của CTCK
 Các nghiệp vụ chính:
-Môi giới Chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó CTCK đại diện
cho khách hàng giao dịch thông qua cơ chế tại SGDCK hoặc TTDGCK.
-Tự doanh chứng khoán
-Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng
đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến công ty chứng khoán nhờ tư vấn cho

nghiệp, tư vấn niêm yết, tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua bán, sát
nhập doanh nghiệp, tư vấn các nghiệp vụ tài chính khác.
1.1.4. Vai trò của công ty chứng khoán
 Đối với tổ chức phát hành
Mục tiêu tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy động
vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động
đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo
ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành.
 Đối với thị trường chứng khoán
Một là góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả Chứng
khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên để đưa ra mức giá cuối cùng,
người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham
gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Các CTCK là những thành viên của thị
trường , do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá.
Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá
đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham
gia định giá của các CTCK.
Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị
trường. Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của
chính mình, nhiều CTCK đã giành một tỉ lệ nhất định các giao dịch để thực
hiện vai trò bình ổn thị trường
Hai là góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài
chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra
cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt
11
động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các CTCK không những huy
động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà
còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các
chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán, giao dich trên thị trường

các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các
nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
1.2. Nghiệp vụ tự doanh của Công ty chứng khoán.
1.2.1 Khái niệm hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
Khái niệm: Hoạt động tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành
các dịch vụ mua bán các chứng khoán cho chính mình bằng nguồn vốn của
chính công ty chứng khoán.
13
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên
các thị trường giao dịch tập trung hoặc thị trường OTC...
Tại một số nước hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán còn được
thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường (ví dụ ở Mĩ)
1.2.2. Đánh giá hoạt động tự doanh.
Mục đích của nghiệp vụ tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính công
ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này
hoạt động song song với nghiệp vụ môi giới vừa phục vụ lệnh giao dịch cho
khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì vậy trong quá trình
hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích thực hiện giao dịch cho khách hàng
và cho bản thân công ty. Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầu tách biệt
rõ ràng giữa nghiệp vụ môi giới và tự doanh. CTCK phải ưu tiên thực hiện
lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của chính mình. Thậm chí ở một
số nước còn quy định có hai loại hình CTCK là công ty môi giới chứng khoán
chỉ làm chức năng môi giới và CTCK có chức năng tự doanh.
Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh
cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh CTCK kinh
doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải có
nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng
phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.
1.2.3. Yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh
 Tách biệt quản lý

dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kỳ khách hàng nào không được
xác định trước.
15
+Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai CTCK hay giữa CTCK
với một khách hàng thông qua thương lượng.
Đối tượng của các giao dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giao
dịch ở thị trường OTC.
1.2.4. Lợi ích của hoạt động tự doanh đối với công ty chứng khoán
 Tự doanh chứng khoán mang lại doanh thu không nhỏ cho CTCK. Bất
cứ một CTCK nào hoạt động trên TTCK đều quan tâm tới nghiệp vụ này.
 Tự doanh chứng khoán đã tạo ra tính thanh khoản cho các chứng
khoán. Việc mua đi bán lại các cổ phiếu của các CTCK trên TTCK đã giúp
cho việc hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền và ngược lại từ tiền ra chứng
khoán một cách dễ dàng. Do đó đã tạo ra tính thanh khoản cho các chứng
khoán.
 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán đã đem lại cho các CTCK thông tin
về chứng khoán trên thị trường, biết được các diễn biến về tình hình biến
động của các loại chứng khoán trên TTCK từ đó đưa ra các chiến lược kinh
doanh hợp lý.
 Tự doanh chứng khoán còn tạo ra các mối quan hệ giữa CTCK và các
bạn hàng từ đó nảy sinh các mối quan hệ tốt đẹp khác.
1.2.5. Quy trình hoạt dộng tự doanh của công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán tuỳ vào cơ cấu tổ chức của mình sẽ có các quy
trình nghiệp vụ riêng, phù hợp. Quy trình của nghiệp vụ có thể chia thành
năm giai đoạn sau:
 Giai đoạn 1: Xây dựng chiến lược đầu tư.
Trong giai đoạn này, công ty chứng khoán phải xác định được chiến lược
trong hoạt động tự doanh của mình. Đó có thể là chiến lược đầu tư chủ động,
thụ động hoặc đầu tư vào một số ngành nghề, lĩnh vực cụ thể nào đó.
 Giai đoạn 2: Khai thác tìm kiếm các cơ hội đầu tư.

của các CTCK. Tuỳ từng luật chứng khoán của các nước khác nhau mà các
CTCK có sự khác biệt trong nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
 Nhu cầu về cổ phiếu, trái phiếu
Bên cạnh nhân tố môi trường pháp lý thì nhân tố nhu cầu về chứng
khoán cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng nghiệp vụ tự doanh của các
CTCK. Một TTCK phát triển thật sự thì nhu cầu về cả cổ phiếu lẫn trái phiếu
phải cao thì thị trường đó mới thực sự phát triển, ở Việt Nam hiện nay mới chỉ
Nghiên cứu đầu tư
Phân tích rủi ro, lợi nhuận
Mục tiêu đầu tư
Phân bổ tài sản
Lựa chọn chứng khoán
Xây dựng danh mục đầu tư
Đầu vào
Đầu ra
18
có nhu cầu về cổ phiếu là cao, còn nhu cầu về trái phiếu thì cũng chưa cao lắm,
mà mới còn đang ở dạng tiềm năng, do thị trường chứng khoán có một bộ phận
lớn coi đây là sân chơi cờ bạc nên trái phiếu cũng chưa được đưa vào danh mục
đầu tư do có tính thanh khoản thấp hơn nhiều so với cổ phiếu
 Sự phát triển của TTCK
Sự phát triển của TTCK là một yếu tố khách quan quan trọng nhất ảnh
hưởng tới nghiệp vụ tự doanh chứng khoán của các CTCK.
Đối với một TTCK phát triển thì hàng hoá để giao dịch trên thị trường
sẽ phong phú và đa dạng do đó hoạt động tự doanh của các CTCK sẽ phát
triển. Ngược lại, thì với một TTCK chậm phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự
chậm chễ của nghiệp vụ tự doanh trong các CTCK.
* Nhân tố chủ quan
 Năng lực của các CTCK
Một CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán trên TTCK


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status