Giải pháp cho vấn đề cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh nam định - Pdf 22


1
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 4
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
5. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 5
6. NỘI DUNG VÀ KẾT CẤU ĐỀ TÀI
5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC 7
1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 7
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 7
1.1.2. Vai trò của Doanh nghiệp nhà nước 7
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC 9
1.2.1. Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 10
1.2.2. Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần 11
1.2.3. Đối tượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 12
1.2.4. Hình thức cổ phần hoá 12
1.2.5. Đối tượng và điều kiện mua cổ phiếu 13
1.2.6. Tác động của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 13
1.3. TẠI SAO PHẢI CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 16
1.4. PHÂN BIỆT CỔ PHẦN HOÁ VÀ TƯ NHÂN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC 17
1.5. CỔ PHẦN HOÁ - MỘT CHỦ TRƯƠNG LỚN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
TA TRONG QUÁ TRÌNH SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP 20
1.6. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH CỔ PH

2.3.2.2. Số lượng doanh nghiệp đã được sắp xếp lại 55
2.4. ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM
ĐỊNH 57
2.4.1. Những k
ết quả đạt được trong công tác cổ phần hoá 57

3
2.4.2. Những hạn chế của công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 94
2.4.3. Nguyên nhân của kết quả đạt được: 95
2.4.4. Nguyên nhân của những tồn tại: 96
2.5. TỔNG KẾT VÀ RÚT RA NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐÃ THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA THÀNH CÔNG VÀ
CHƯA THÀNH CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 99
CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH CÔNG TÁC CỔ
PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TỈNH NAM ĐỊNH 101
3.1. VỀ PHÍA UBND T
ỈNH, CÁC BAN NGÀNH 101
3.2. VỀ PHÍA DOANH NGHIỆP 104
3.3 VỀ PHÍA NGƯỜI LAO ĐỘNG 111
3.4. VỀ PHÍA NHÀ ĐẦU TƯ 112
3.5. KIẾN NGHỊ 113
KẾT LUẬN 114
nhà nước nói chung và công tác cổ phần hoá nói riêng, tỉnh Nam Đị
nh đã đang và
dần đi vào hoàn thiện công tác cổ phần hoá và đã có những kết quả đáng khích lệ.
Để hiểu rõ công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Nam Định trong
thời gian qua, em quyết định chọn tên đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của em là:

5
“ Giải pháp cho vấn đề cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn
tỉnh Nam Định”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tỉnh Nam
Định trên cơ sở những mặt đạt được và những mặt còn tồn tại để đề xuất 1 số biện
pháp nhằm hoàn thiện công tác cổ phần hoá trên địa bàn tỉnh Nam Định.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng là quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn
tỉnh Nam Định.
- Phạm vi là các doanh nghiệp tỉnh Nam Định
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện nội dung của đề tài em đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích
5. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Hệ thống hoá toàn bộ những vấn đề lý luận liên quan đến công tác cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nước.
- Mô tả thực trạ
ng công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tỉnh Nam
Định và chỉ ra được những mặt đạt được và những mặt còn tồn tại trong công tác cổ
phần hoá.
- Đề ra một số biện pháp góp phần thúc đẩy nhanh và hiệu quả công tác cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nam Định.

7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Điều 1, Luật doanh nghiệp nhà nước quy định về doanh nghiệp nhà nước như
sau: “Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ
vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty
nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Hoặ
c doanh nghiệp nhà nước là những cơ sở kinh doanh do nhà nước sở hữu
hoàn toàn hay một phần. Quyền sở hữu thuộc về nhà nước là điểm phân biệt doanh
nghiệp nhà nước với doanh nghiệp trong khu vực tư nhân, còn hoạt động kinh
doanh là điểm phân biệt chúng với các tổ chức và cơ quan khác của chính phủ.
1.1.2. Vai trò của Doanh nghiệp nhà nước
- Doanh nghiệp nhà nước có vị trí rất quan trọng, góp phần để khu vực kinh tế

nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là động lực
thúc đẩy sự phân bố lại dân cư theo hướng công nghiệp hoá, hình thành các trung
tâm kinh tế, văn hoá, đô thị mới, trang bị lại kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, đào tạo bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và

- Doanh nghiệp nhà nước đang đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện
các chính sách xã hội và ổn định chính trị - xã hội, định hướng công bằng văn minh,
góp phần cùng với các khu vực kinh tế khác giải quyế
t các vấn đề việc làm, thu
nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế,
là cho cơ sở và nền tảng cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
- Doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng khá cao về xuất nhập khẩu. Tốc độ
tăng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân hàng năm đạt 20%. Doanh nghiệp nhà
nước là đầu mối xuất nhập khẩu hầ
u hết các mặt hàng quan trọng như dầu thô, than,
gạo, hàng may mặc. Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước cũng chiếm trên 98% tổng
số dự án liên doanh với nước ngoài, đã góp phần tạo nguồn thu đáng kể từ khu vực
này.
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm vị trí quan trọng trong các nguồn thu
của ngân sách nhà nước. Mặt khác các khoản tài trợ trực tiếp và gián tiếp từ ngân
sách cho các doanh nghiệp nhà nước đã giảm làm cho phần
đóng góp thực của
doanh nghiệp nhà nước vào ngân sách nhà nước tăng lên.

9
- Tổng công ty nhà nước đã thể hiện vai trò nòng cốt, chủ lực trong nền kinh
tế, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, duy trì tỷ lệ tăng trưởng tương đối
cao, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, ổn định việc làm cho người lao động, nâng
cao đời sống cán bộ công nhân viên chức và tích cực tham gia vào các chính sách
xã hội. Đồng thời huy động nguồn lực nội bộ trong toàn bộ tổng công ty kết hợp các
ngu
ồn vốn khác nhau để điều hoà thực hiện các chương trình đầu tư chiều sâu, đổi
mới công nghệ, mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, khai thác thị trường
trong nước và mở rộng thị trường ra nước ngoài.


u của công cuộc đổi mới
cho phép đông đảo quần chúng nhận thức ngày càng rõ hơn rằng, bên cạnh hình
thức sở hữu nhà nước, các hình thức sở hữu khác nếu được tạo những điều kiện
thuận lợi, cũng phát huy vai trò tích cực trong đời sống kinh tế. Đồng thời, việc đa
dạng hóa các hình thức sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên tắc kinh
tế
, nâng cao quyền tự chủ tài chính khả năng tự quản lí kinh doanh sản xuất, nâng
cao tinh thần trách nhiệm cũng như óc sáng tạo của người lao động và người lãnh
đạo doanh nghiệp.
Nhận thức sâu sắc vấn đề này thực sự đóng vai trò nền tảng cho một giải pháp
cần thiết, quan trọng, thậm chí về phương diện nhất định, được coi là giải pháp
trọng tâm của cuộc cải cách doanh nghiệp nhà n
ước. Đó là giải pháp - Cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hóa giúp giảm bớt số doanh nghiệp kém hiệu quả, hình thành được
loại hình doanh nghiệp có nhiều hình thức sở hữu, huy động thêm được vốn của xã
hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm động lực và cơ chế quản lí năng
động, có hiệu quả lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, người lao động được đảm
b
ảo tốt hơn.
1.2.1. Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một sở hữu
thành công ty cổ phần, tức là có nhiều chủ sở hữu. Cổ phần hóa có thể diễn ra tại
các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và tại
doanh nghiệp nhà nước. Cổ phần hóa là quá trình đa dạng hóa sở hữu tại doanh
nghiệp.
C
ổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà
nước thành công ty cổ phần, trong đó nhà nước có thể giữ tư cách là một cổ đông,


doanh nghiệp nhà nước cần được giải quyết một cách cơ bản. Cổ phần hóa là một
biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề cơ bản này, đồng thời tạo ra một mô hình
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và đáp ứng nhu cầu kinh doanh hiện đại.

12
1.2.3. Đối tượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Căn cứ vào điều 2 Nghị Định 187/2004/NĐ-CP của chính phủ thì đối tượng cổ
phần hóa hiện nay là:
- Công ty nhà nước không thuộc diện nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
thực hiện cổ phần hóa, bao gồm: các công ty nhà nước ( kể cả ngân hàng thương
mại nhà nước và các tổ chức tài chính nhà nước); công ty nhà nước độc lập, công ty
thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty do nhà nước quyết định đầu tư và
thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc của tổng công ty nhà nước (dưới đây gọi tắt
là doanh nghiệp cổ phần).
Danh mục công ty nhà nước thuộc diện nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
do thủ tướng chính phủ quyết định trong thời kỳ.
- Các công ty nhà nước quy định tại khoả
n 1 điều này được tiến hành cổ phần
hoá khi còn vốn nhà nước (chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi giảm
trừ giá trị tài sản không cần dùng, tài sản chờ thanh lý, các khoản tổn thất do lỗ,
giảm giá tài sản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí cổ phần hóa.
- Việc cổ phần hóa đơn vị hạch toán phụ thuộc của các công ty nhà nước thuộc
đối tượng quy định t
ại khoản 1 điều này chỉ được tiến hành khi:
+ Đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp có đủ điều kiện hạch toán
độc lập.
+ Không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp hoặc bộ phận còn lại của doanh nghiệp.
1.2.4. Hình thức cổ phần hóa

i mở tài khoản tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đang hoạt động trên
lãnh thổ Viêt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam. mọi hoạt động mua, bán cổ
phần; nhận, sử dụng cổ tức và các khoản thu khác từ đầu tư mua cổ phần đều phải
thông qua tài khoản này.
1.2.6. Tác động của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa có vai trò to lớn trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nướ
c, nhất
là ở những nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cổ phần hóa đáp ứng được những yêu cầu
bức thiết của công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước đang đòi hỏi, giải toả
những khó khăn trong ngân sách nhà nước, khuyến khích người lao động đóng góp
tích cực và có trách nhiệm sức lực, trí tuệ của họ cho hoạt động kinh doanh sản xuất
của doanh nghiệp. Cổ phần hóa khắc phục được những vấn đề gay cấn trong khu
vực doanh nghiệp nhà nước nhằm :

14
- Bảo đảm quyền làm chủ thực sự và tạo động lực mới trong quản lí doanh
nghiệp.
Trong doanh nghiệp nhà nước, người lao động thường được coi là chủ. Nhưng
điều đó mang nặng tính hình thức. Chuyển sang công ty cổ phần, vốn và tài sản
thuộc sở hữu tập thể của các cổ đông. Một bộ phận trong các cổ đông trước đây là
những người lao độ
ng trong doanh nghiệp nhà nước trở thành người chủ sở hữu
đích thực của công ty, họ cùng với những cổ đông khác tham gia vào quá trình quản
lí, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định. Hoạt động sản xuất của họ gắn liền với sự thành bại của doanh
nghiệp.Vì thế, tất cả các thành viên đều rất quan tâm đến công việc của mình, lao
động tích cực với tinh thần trách nhiệm cao và óc sáng tạo phong phú. Những biểu
hiện mới này hầu như không tồn tại trong doanh nghiệp nhà nước trước khi Cổ phần
hóa.

xuyên của doanh nghiệp, còn nguồn tín dụng trung hạn và dài hạn rất hạn hẹp. Mặt
khác, các doanh nghiệp cũ
ng không dễ dàng đáp ứng được yêu cầu cho vay vốn của
các ngân hàng thương mại.
Trong tình hình như vậy, việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ
phần chính là để thu hút vốn sẵn có vào phát triển kinh tế và vận dụng ưu điểm vốn
có của công ty cổ phần về huy động vốn. Công ty cổ phần có thể thu hút nguồn vốn
của các tổ chức, từ ngân hàng thương mại và công ty tài chính đến các nguồn vố
n
nhỏ bé và phân tán của các thể nhân.
- Cổ phần hoá có tác dụng làm cho sở hữu trong doanh nghiệp trở nên đa dạng
hơn. Chính vì vậy, nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu một chủ trong
doanh nghiệp nhà nước vốn gây ra nhiều vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng
động trong sản xuất kinh doanh.
- Cổ phần hóa có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuấ
t trong các
doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ. Như vậy, các thực thể kinh tế vi mô cũng
trở nên đa sở hữu như bản thân nền kinh tế vĩ mô. Điều này tạo ra sự tương thích
nhất định của các giải pháp quản lý vĩ mô và vi mô.
- Cổ phần hóa tạo ra cho người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh nghiệp
nếu như họ mong muố
n. Bằng việc sở hữu cổ phần (hay phần vốn góp) trong doanh
nghiệp, người lao động có thể tham gia vào việc giải quyết các vấn đè quan trọng
của các doanh nghiệp thông qua cái gọi là “nền dân chủ cổ phần”. Họ góp phần

16
hình thành nên các cơ quan quản lý doanh nghiệp, quyết định các vấn đề trọng đại
của nó. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích cực của
người lao động không chỉ đối với các vấn đề của doanh nghiệp mà cả đối với các
vấn đề kinh tế - chính trị xã hội của nhà nước.

17
điều tất yếu là vốn liếng không được bảo toàn phát triển, thiết bị cũ kỹ, công nghệ
lạc hậu hàng chục năm so với mức trung bình của thế giới. Nói chung sức mạnh của
nhiều doanh nghiệp nhà nước còn yếu kém, một bộ phận không nhỏ sản phẩm làm
ra không tiêu thụ được vì giá thành cao, chất lượng thấp, không phù hợp với thị
hiếu của người tiêu dùng. Nhiều doanh nghi
ệp nhà nước hoạt động theo nguyên tắc
“cào bằng” không phụ thuộc vào lợi nhuận mà nó mang lại, dẫn đến làm mất tác
dụng của cơ chế cạnh tranh, kích thích tính hiệu quả của doanh nghiệp.
Ba là, quan niệm không rõ ràng về chế độ sở hữu trong doanh nghiệp nhà
nước đã làm cho bộ máy quản lý của chúng trở nên cồng kềnh, chồng chéo, xơ
cứng, không thích nghi được với biến động của nền kinh tế
thị trường. Tình trạng
làm chủ chung chung mà thực chất là “vô chủ” tồn tại phổ biến hầu hết ở các doanh
nghiệp nhà nước. Mặc dù với số lượng nhân viên gián tiếp nhiều hơn hẳn các doanh
nghiệp tư nhân nhưng việc quản lý điều hành ở các doanh nghiệp nhà nước vừa yếu
vừa kém hiệu quả. Chính kết hợp quản lý yếu kém với công nghệ lạc hậu của các
doanh nghiệp nhà nước, đã làm cho năng suất lao động và hiệu quả cho sản xuất chỉ
đạt ở mức thấp.
Bốn là, phân phối không chỉ dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động mà
chủ yếu nhằm vào chính sách cán bộ quản lý, người lao động trong các doanh
nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động. Thêm vào đó, một bộ phận cán bộ
quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước không thạo kinh doanh, không có đủ kiến
thức và kinh nghi
ệm cần thiết về quản lý nền kinh tế thị trường, thiếu năng động và
không dám mạo hiểm trong kinh tế để giành thắng lợi nhanh chóng cũng làm cho
các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả.
1.4. PHÂN BIỆT CỔ PHẦN HÓA VÀ TƯ NHÂN HÓA DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC
Trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa là một chủ

c loại hình đa sở hữu.
- Hai là, Nhà nước vẫn giữ nguyên sở hữu nhưng chuyển quyền điều hành
hoạt động của doanh nghiệp cho tư nhân. Hình thức này gọi là tư nhân hoá hoạt
động.Theo hình thức này tư nhân hoá hoạt động, Nhà nước chỉ thu lợi từ hoạt động
của doanh nghiệp nhà nước (đã được tư nhân hoá hoạt động) theo những điều khoản
đã đượ
c ghi trong hợp đồng quản lý, thầu khoán.
Như vậy, theo quan điểm nay cổ phần hóa thực chất là phương thức để tư nhân
hóa một phần tài sản của doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước không hoàn toàn mất

19
quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, vẫn là một trong các cổ
đông của công ty cổ phần mới được hoàn thành. Tuỳ theo tầm quan trọng của doanh
nghiệp trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể, nhà nước quyết định có nắm giữ cổ
phần chi phối hay không nắm giữ cổ phần chi phối. Do đó, khái niệm cổ phần hóa
hẹp hơn khái niệm t
ư nhân hóa nói chung và tư nhân hóa sở hữu nó riêng. Cổ phần
hoá chỉ là một trong những hình thức để thực hiện tư nhân hóa sở hữu. Nói cách
khác, cổ phần hóa là hình thức tư nhân hóa sở hữu chưa triệt để.
Quan điểm thứ 2: Cổ phần hoá và tư nhân hoá là khác nhau.
Quan điểm này dựa trên sự khác nhau về bản chất và mục đích giữa cổ phần
hóa và tư nhân hóa:
- Tư nhân hóa chỉ nhằm thay
đổi cơ cấu sở hữu doanh nghiệp nhà nước, trong
đó quyền sở hữu quyền quản lý, điều hành được chuyển từ nhà nước sang những cá
nhân hoặc nhóm người có tiềm lực tài chính mạnh. Tư nhân hóa làm tăng quá trình
tích tụ vốn và tài sản vào một số ít những cá nhân hoặc nhóm người. Những người
lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa thực sự
trở thành những ngườ
i làm thuê (nếu tiếp tục làm việc cho doanh nghiệp) hoặc bị sa

mục đích lợi nhuậ
n… hoàn toàn xa lạ trong đời sống lúc bấy giờ. Trong quản lí
kinh tế, nhà nước giao chi tiêu sản xuất và cung ứng vật tư thiết bị cho doanh
nghiệp. Sản phẩm sản xuất ra dù tốt hay xấu đều có chỉ tiêu tiêu thụ theo mức giá
mà nhà nước đã quy định. Với cách quản lí, điều hành như trên, và do nhiều nguyên
nhân khác hậu quả là đến những năm 80, nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng
khủng hoảng, sả
n xuất đình trệ, đời sống nhân dân hết sức khó khăn.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp đã bộc lộ những yếu kém, bất cập
đưa đất nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội. Chính vì vậy, đổi mới, sắp xếp
lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước là một đòi hỏi tất yếu để đưa kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, đủ khả năng dẫn dắt, điều tiết và định hướng các thành phần
kinh tế khác.
Trước thực tế hiện đó, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã mở ra con đường
phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí
của nhà nước. Để tạo điều kiện cho nền kinh tế th
ị trường phát triển, việc sắp xếp và

21
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là xu hướng tất yếu khách quan. Nhưng
thực tế cho thấy việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đều diễn gặp rất nhiều
khó khăn và phức tạp được bắt nguồn từ nhiều lí do:
Một là, quan niệm như thế nào là doanh nghiệp nhà nước và vai trò của nó
trong nền kinh tế quốc dân của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương và ngay cả
đến
mỗi người dân thường không giống nhau, thậm chí có lúc rất khác nhau. Từ đó dẫn
đến nhận thức về hàng loạt vấn đề khác cũng không thống nhất như: những doanh
nghiệp nào để lại hình thức quốc doanh, doanh nghiệp nào cần cổ phần hóa, tốc độ
thực hiện cổ phần hóa như thế nào là hợp lí?
Hai là, xử lí những vấn đề có tính chất nghiệp vụ trong quá trình cổ ph

hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh, bảo đảm các nhu cầu sản phẩm và dịch vụ
thiết yếu, nhu cầu cần thiết của an ninh, quốc phòng, phát huy vai trò nòng cốt thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế của doanh nghiệp nhà nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khoá IX vừa qua thì
quan điểm về cổ phần hóa đặc biệt thông thoáng: Kiên quyết
đẩy mạnh nhanh tiến
bộ cổ phần hóa và mở rộng các doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa, kể cả
những doanh nghiệp lớn và một số tổng công ty có hiệu quả.
Qua thực tiễn cho thấy, cổ phần hóa là một biện pháp có tính khả thi, đem lại
lợi ích cho nhà nước, người lao động, người góp vốn. Nó góp phần khắc phục việc
buông lỏng quản lý tài sản của nhà nước, xoá b
ỏ tình trạng “vô chủ ” của Doanh
nghiệp nhà nước.
Cổ phần hóa nhằm đạt được các mục tiêu : Huy động vốn của toàn xã hội bao
gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu
tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh
tranh, thay đổi cơ cấu của Doanh nghiệp nhà nước. Tạo điều kiện để ng
ười lao động
có cổ phần và những người đã góp vốn được làm chủ thật sự, thay đổi phương thức
quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, tăng tài sản nhà
nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất
nước.
Như vậy việc cổ phần hóa đáp ứng được yêu cầu cấp bách, cần thiết c
ủa công
tác cải cách doanh nghiệp nhà nước. Bằng việc huy động vốn từ nguồn lực trong xã
hội sẽ giúp nhà nước rút bớt vốn từ các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá
để đầu tư vào các công trình trọng điểm của nền kinh tế quốc dân hoặc hỗ trợ thêm
vốn cho những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả để “bồi dưỡng” nguồn thu. Bên
cạnh đó, cổ phầ
n hóa giúp cho người lao động trong doanh nghiệp phát huy quyền

những doanh nghiệp bán, khoán, cho thuê hay chuyển quyền sở hữu vẫn là vốn nhà
nước dùng để phát triển sản xuất kinh doanh nói chung.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp đã bộc lộ những yếu kém, bất cập
đưa đất nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế xã h
ội. Chính vì vậy, đổi mới, sắp xếp
lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước là một đòi hỏi tất yếu để đưa kinh tế nhà nước

24
giữ vai trò chủ đạo, đủ khả năng dẫn dắt, điều tiết và định hướng các thành phần
kinh tế khác.
Xung quanh vấn đề này, Đảng và nhà nước đã có rất nhiều nỗ lực và đã đạt
được những thành tựu đáng tự hào. Ngay từ đầu thập niên 90, Đảng đã có chủ
trương chuyển một bộ phận doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần cụ thể là:
- Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VII (tháng 11/1991)
nêu “Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần”.
- Nghị quyết số 10 ngày 17/03/1995 của bộ chính trị đã bổ sung thêm về
phương châm tiến hành cổ phần hóa, tỷ lệ bán cổ phần cho người trong và ngoài
doanh nghiệp.
- Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng khoá VIII (tháng
12/1997) xác định:” Đối vớ
i doanh nghiệp mà nhà nước không nắm 100% vốn cần
lập kế hoạch cổ phần hóa để tạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn có hiệu quả”.
- Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 BCH Trung ương Đảng khoá IX (ngày
24/09/2001) đã chỉ ra những nguyên nhân yếu kém của doanh nghiệp nhà nước:
chưa có sự thống nhất trong nhận thức và vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước và
doanh nghiệp nhà nước, về yêu cầ
u và giải pháp sắp xếp, đổi mới và phát triển
doanh nghiệp nhà nước, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước còn yếu
kém, vướng mắc, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập chưa đồng bộ, còn nhiều
điểm chưa phù hợp với kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa

vốn cho những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả để “bồi dưỡng” nguồn thu. Bên
cạnh đó, cổ phần hóa giúp cho người lao động trong doanh nghiệp phát huy quyền
làm chủ thực sự của mình và hình thành cơ chế kiểm soát có hiệu quả hơn của cổ
đông đối với doanh nghiệp, từ đó tiế
t kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, hạ
giá thành sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng, thu nhập người lao động
tăng dưới hình thức công ty cổ phần, doanh nghiệp hoạt động với cam kết của các
cổ đông đầu tư vốn “lời ăn lỗ chịu”, do đó không thể trông chờ, ỷ lại vào nhà nước
và buộc doanh nghiệp phải tự thân vận động theo hướng n
ăng động hơn để tồn tại
và ngày càng phát triển.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không phải là tư nhân hóa vì: cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước là chuyển một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp (có chủ
sở hữu là nhà nước) sang công ty cổ phần (có nhiều chủ sở hữu) trong đó người lao
động làm trong doanh nghiệp được mua cổ phần tham gia quản lý, kiểm soát đồng

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại: TỔNG KẾT VÀ RÚT RA NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ DOANH VỀ PHÍA DOANH NGHIỆP VỀ PHÍA NGƯỜI LAO ĐỘNG VỀ PHÍA NHÀ ĐẦU TƯ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status