Nghiên cứu phân lập một số chủng vi khuẩn bacillus spp từ đầm nuôi tôm tại hải phòng làm nguồn nguyên liệu sản xuất probiotic trong nước - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG PHẠM THỊ HIỀN HÒA

NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP MỘT SỐ CHỦNG VI KHUẨN BACILLUS SPP
TỪ ĐẦM NUÔI TÔM TẠI HẢI PHÒNG LÀM NGUỒN NGUYÊN LIỆU
SẢN XUẤT PROBIOTIC TRONG NƯỚC


Phạm Thị Hiền Hòa
NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP MỘT SỐ CHỦNG VI KHUẨN BACILLUS SPP
TỪ ĐẦM NUÔI TÔM TẠI HẢI PHÒNG LÀM NGUỒN NGUYÊN LIỆU
SẢN XUẤT PROBIOTIC TRONG NƯỚC

Chuyên ngành: NTTS Mã số: 60 62 70 LUẬN VĂN THẠC SĨ iiLời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng tới thầy hướng dẫn Ts.
Nguyễn Hữu Dũng- Khoa NTTS - Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, đã định
hướng và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Xin cảm ơn chân thành Ban Giám Hiệu nhà trường, Pgs. Ts. Lại Văn Hùng -
Trưởng khoa NTTS - Trường Đại học Thủy sản Nha Trang đã tạo điều kiện và giúp đỡ
tôi trong thời gian tham gia khóa học.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh Đạo Viện, các cán bộ thuộc phòng Nghiên cứu
Công nghệ Sinh học Biển, phòng Nghiên cứu Công nghệ Sau thu hoạch - Viện Nghiên
cứu Hải Sản đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian thực hiện luận văn. Lời cảm ơn chân

1.2. Tình hình NTTS tại Việt Nam 6
1.2.1. Sản lượng NTTS 6
1.2.2 Diện tích NTTS 7
1.3. Tình trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trong NTTS 9
1.3.1. Tình trạng ô nhiễm môi trường trong NTTS 9
1.3.2. Tình trạng dịch bệnh trong NTTS 10
1.4. Các bệnh thường gặp trong nuôi trồng thủy sản 11
1.4.1. Các nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp trong nuôi trồng thủy sản 11
1.4.2. Bệnh do nhóm vi khuẩn Vibrio spp. (Vibriosis) 12
1.4.2.1. Một số đặc điểm phân loại Vibrio 12
1.4.2.2. Vibriosis trên đối tượng thủy sản 13
1.4.2.3. Các biện pháp phòng trị bệnh Vibriosis trên đối tượng NTTS 14
1.5. Probiotic và các vi sinh vật được sử dụng làm chế phẩm probiotic 15
1.5.1. Khái niệm về probiotic 16
1.5.2. Cơ chế hoạt động của các nhóm vi sinh vật probitic 16
1.5.3. Một số nhóm vi sinh vật probiotic 18
1.5.4. Một số đặc điểm sinh học của chi Bacillus ứng dụng làm chế phẩm
probiotic 19
1.5.3.1. Đặc điểm sinh học tế bào 19
1.5.3.2. Đặc tính probiotic của chi Bacillus 20
1.6. Ứng dụng của probiotic trong NTTS 20
1.6.1. Ứng dụng probiotic trong NTTS trên thế giới 20
1.6.2. Ứng dụng probiotic trong NTTS ở Việt Nam 22
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.2. Vật liệu nghiên cứu 26
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu: 26
2.2.2. Các môi trường nuôi cấy vi khuẩn 26
2.2.3. Một số thuốc thử và hóa chất dùng trong phản ứng sinh hóa, sinh lý 26
2.3. Phương pháp nghiên cứu 26

CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
4. 1. Kết luận 53
4.2. Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC
vBẢNG CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

NTTS Nuôi trồng thủy sản
GHCP Giới hạn cho phép
FAO Food and Agriculture Organization - Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc
WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
RQ Risk Quote - Chỉ số tai biến
MPN Most probable number: Mật độ vi khuẩn
WSSV White Spot Syndrome Virus: Bệnh virút đốm trắng
YHV Yellow Head Virus: Bệnh virút đầu vàng
MBV Baculovirus Monodon: Bệnh virút trên tôm
HPV Hepatopancreatic Parvovirus Disease: Bệnh gan tụy
VNN viral nervous necrosis- VNN: Bệnh hoại tử thần kinh
vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 : Cơ cấu sản lượng và giá trị của một số nhóm loài được nuôi trồng trên thế
giới 5
Hình 2: Chọn lọc chủng vi khuẩn Bacillus spp bằng phản ứng catalase 33
Hình 3: Đĩa thạch NA nuôi cấy chung vi khuẩn V. parahaemolyticus (đường cấy
ngang) với chủng QKR2 phân lập từ ruột tôm sú (đường cấy dọc) khi mới cấy
(A), sau 24h (B) và sau 48h (C) 34
Hình 4: Đĩa thạch NA nuôi cấy chung vi khuẩn V. alginolyticus (đường cấy ngang)
với chủng QKR2 phân lập từ ruột tôm sú (đường cấy dọc) khi mới cấy (A),
sau 24h (B) và sau 48h (C). 35
Hình 5: Các đĩa thạch NA nuôi cấy chung chủng QKR2 phân lập từ ruột tôm sú
(đường cấy dọc) với vi khuẩn V. parahaemolyticus (hàng trên, đường cấy
ngang), hoặc V. alginolyticus (hàng dưới, đường cấy ngang) với khi mới cấy
(A, D), sau 24h (B, E) và sau 48h (C,F) 35
Hình 6: Các đĩa thạch NA nuôi cấy chung chủng QKB7 phân lập từ bùn đáy đầm nuôi
tôm sú (đường cấy dọc) với vi khuẩn V. parahaemolyticus (hàng trên, đường
cấy ngang), hoặc V. alginolyticus (hàng dưới, đường cấy ngang) với khi mới

Hình 26: Cây phát sinh chủng loại của chủng QKR2 và các loài có quan hệ họ hàng
gần 48
Hình 27: Cây phát sinh chủng loại của chủng QKR3 và các loài có quan hệ họ hàng
gần 49
Hình 28: Cây phát sinh chủng loại của chủng QKB7 và các loài có quan hệ họ hàng
gần 50

1

MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam đang là một trong những nghề phát triển nhanh
và mạnh nhất. Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch đồng bộ và phát triển quá nhanh trong 5
- 6 năm gần đây, dịch bệnh đã xảy ra ở một số khu vực nuôi thủy sản tập trung hoặc
nuôi công nghiệp với tần suất khá thường xuyên.
Nhiều loài vi khuẩn thuộc các chi Vibrio, Pseudomonas, nấm và một số vi sinh

đầm nuôi tôm tại Hải Phòng làm nguồn nguyên liệu sản xuất probiotic trong
nước”.
Mục tiêu của đề tài là phân lập được một số chủng vi khuẩn Bacillus spp có tiềm
năng sử dụng như là vi khuẩn probiotic với mục đích là cơ sở tạo nguồn vi khuẩn để
sản xuất chế phẩm probiotic trong nước.
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
- Phân lập một số chủng vi khuẩn Bacillus và lựa chọn ngẫu nhiên một số
chủng phân lập được;
- Đánh giá khả năng đối kháng với chủng vi khuẩn gây bệnh thường gặp
trên tôm là Vibrio algilyticus và V. parahaemolyticus theo 3 cách: cấy
vuông góc, đĩa giấy và đồng nuôi cấy;
- Đặc điểm sinh thái của chủng vi khuẩn lựa chọn (t
0
C, pH và % NaCl)
- Định danh vi khuẩn lựa chọn dựa trên đặc điểm sinh hóa, sinh lý và so
sánh trình tự gen 16S rDNA.
35,0

Biển
16,7

17,5

18,6

19,2

19,7

20,1

Tổng nuôi trồng
41,9

44,3

47,4

49,9

52,5

55,1

Ghi chú: không bao gồm sản lượng rong biển, số liệu ước tính tạm thời
NTTS vẫn là một ngành sản xuất thực phẩm động vật tăng nhanh nhất, lượng

21 522

32 736 1

2,7

5,4

9,4

Ấn Độ 1 017

1 943

3 479

6,7

7,6

7,1

Việt Nam 160

499

2 462

12,0


657

1 006

13,1

5,5

9,6

Nauy
151
491

844

12,6

7,0

10,0

Chilê
32
392

843

28,3


340

694

18,6

9,3

14,4

Myanma
7
99

675

30,2

27,1

28,8

Hoa Kỳ
315
456

500

3,8


đó, giáp xác có sản lượng chỉ 4,5 triệu tấn nhưng đạt giá trị đến 17,95 triệu USD
[46,47]. 5(
Nguồn: FAO, 2009
)(
Nguồn: FAO, 2009
)

Hình 1 : Cơ cấu sản lượng và giá trị của một số nhóm loài được nuôi trồng trên thế giới Đối tượng NTTS rất phong phú. Theo Pillay, đã có 465 loài thực vật thủy sinh
- rong tảo là đối tượng nuôi trồng [86]. FAO đã liệt kê 107 loài cá, 21 loài giáp xác và
43 loài nhuyễn thễ được nuôi từ năm 1994 [43]. Số lượng này chắc chắn được tăng lên
hàng năm. Tuy nhiên, tùy từng nơi với mục đích nuôi khác nhau mà đối tượng nuôi
cũng khác nhau. Châu Á, Trung Quốc và Nam Á nuôi chủ yếu là các loài cá chép,
trong khi Đông Á nuôi chủ yếu các loài cá biển có giá trị cao. Vùng Châu Mỹ la tinh
và Caribê, nuôi chủ yếu cá hồi và tôm; Vùng Bắc Mỹ nuôi chủ yếu cá hồi đại dương
[45].
Một số loài thủy sản quan trọng được nuôi gồm cá hồi Đại Tây Dương, cá
chẽm, cá mè hoa, cá chình Châu Âu, cá chình Nhật Bản, cá hồi vân, cá rô phi vằn, tôm
càng xanh, tôm sú, tôm he chân trắng, hầu Mỹ, hầu Thái Bình Dương, rong mứt, rong

Theo số liệu tổng hợp của Verdegem (từ thống kê năm 2004 của FAO) cho biết
trên thế giới có khoảng 8.750.000 ha ao nuôi nước ngọt và 2.333.000 ha ao nuôi nước
lợ đang được sử dụng [118].
Sản lượng thủy sản thu được từ các nguồn nuôi nước ngọt chiếm 59,9% tổng
sản lượng và 56% tổng giá trị. Sản lượng thủy sản từ nuôi biển chiếm 32,3% tổng sản
lượng và 30,7% tổng giá trị. NTTS biển đóng góp nhiều loài có giá trị cao như nhóm
cá có vây, giáp xác và bào ngư đồng thời nhiều nhóm loài cũng đem lại sản lượng cao
như hầu, điệp, ngao, sò… NTTS từ nước lợ chiếm 7,7% về sản lượng và 13,3% về giá
trị [46].
1.2. Tình hình NTTS tại Việt Nam
1.2.1. Sản lượng NTTS
Việt Nam trong thập niên 1990 và 3 năm đầu của thế kỷ 21, sản lượng thủy sản
nuôi trồng có tốc độ tăng trưởng rất cao, vượt xa tốc độ tăng trưởng của khai thác.
Trong thập niên cuối của thế kỷ trước, Việt Nam đã trở thành một trong 10 nước có
sản lượng cá nuôi lớn nhất thế giới, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản,
Thái Lan, Banglađesh.

Ở Việt Nam, nghề nuôi thủy sản cũng phát triển rất năng động. Nghề nuôi thủy
sản truyền thống bắt đầu từ thập niên 1960, tuy nhiên trong vòng 10 năm nay, nghề
nuôi thủy sản có tốc độ phát triển rất nhanh chóng. Theo thống kê của Bộ Thủy sản
trong năm 1999 cả nước có tổng cộng trên 524.619 ha NTTS, đạt sản lượng 480.767
tấn [3]. Năm 2005, cả nước có gần 1.000.000 ha nuôi thủy sản, đạt sản lượng
Tên nước Diện tích ao nuôi
nước ngọt (ha)
Diện tích ao nuôi
nước lợ (ha)
Trung Quốc 5.583.276

676.184



7

1.437.356 tấn, trong đó, sản lượng nuôi thủy sản nước lợ - măn là 546.716 tấn, sản
lượng nuôi nước ngọt đạt 890.650 tấn [3]. Năm 2008, tổng sản lượng NTTS tại Việt
Nam đạt 2.448.000 tấn, tăng 15% so với năm 2007. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng
năm 2009 ước tính đạt 2.569,9 nghìn tấn, tăng 4,2% so với năm trước, chủ yếu do các
địa phương tiếp tục chuyển đổi và mở rộng diện tích nuôi trồng theo hướng kết hợp đa
canh, đa con. Bên cạnh đó, mô hình nuôi thuỷ sản lồng, bè tiếp tục phát triển, đặc biệt
là nuôi lồng, bè trên biển ở các tỉnh: Kiên Giang, Quảng Nam, Ninh Thuận, Phú Yên,
Hải Phòng.
Hiện nay, đối tượng nuôi và mô hình nuôi thủy sản ở Việt Nam khá phong phú.
Tuy nhiên, chủ lực nhất vẫn là nuôi cá tra thâm canh ở vùng nước ngọt và nuôi tôm ở
vùng nước lợ ven biển. Đặc biệt, năm 2008, sản lượng nuôi cá tra và basa đạt trên
1.200.00 tấn và sản lượng tôm nuôi đạt 380.680 tấn, cá biển đạt 3.510 tấn, nhuyễn thể
đạt 114.570 tấn, rong biển đạt 20.260 tấn, tôm nước ngọt đạt 6.400 tấn, cá nước ngọt
và một số loài khác đạt 255.272 tấn, đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ đô la Mỹ
[126]. Một số loài nuôi thủy sản quan trọng đang được nuôi rộng rãi tại một số tỉnh
thành là cá nước ngọt nhập nội (cá rô phi, cá mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, các loài cá trôi
Ấn Độ, trê phi ), cá nước ngọt bản địa (mè vinh, thát lát, bống tượng, cá rô, cá lóc, cá
sặc ), cá da trơn (tra, basa), cá biển (cá chẽm, bống mú, cá kèo, cá chình, cá giò ),
giáp xác (tôm sú, tôm chân trắng, tôm càng xanh, cua biển, tôm hùm ), nhuyễn thể
(nghêu, sò, tu hài, ốc hương, ngọc trai, hầu ), và rong biển (rong sụn, rong câu ).
Các đối tượng nuôi được phát triển trên cả nước, tùy vào từng địa phương mà phát
triển nuôi nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn .
Tính đến hết ngày 10/12/2010 tổng sản lượng giống sản xuất cá tra cả nước đạt
2,359 tỷ con, sản lượng cá thu hoạch đạt 1.140.390 tấn, xuất khẩu đạt 538,2 nghìn tấn,
đạt giá trị 1,15 tỷ USD, tăng 6,6% về khối lượng và 2,4% về giá trị. Nuôi tôm nước lợ
đạt 469.893 tấn, trong đó tôm sú đạt 333.174 tấn, tôm chân trắng đạt 136.719 tấn
[126].

đạt 98,4 nghìn chiếc, tăng 12,6 nghìn chiếc (tăng 14,7%) so với năm 2008 [126].
Diện tích NTTS 6 tháng đầu năm 2010 đạt 972.5 nghìn ha, tăng 3,2% so với
cùng kỳ năm trước, bao gồm 312 nghìn ha nuôi cá (3,749 ha cá tra), tăng 8% và 623.5
nghìn ha nuôi tôm, tăng 3%. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 70% - 75% diện tích và
sản lượng nuôi trồng, tập trung chủ yếu vào cá tra, basa, tôm sú và tôm thẻ chân trắng.
Trong đó, An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ là các tỉnh có sản lượng lớn về cá tra và Cà
Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng có thế mạnh về tôm. Thống kê đến 10/12/2010, diện tích
nuôi cá tra và basa đạt 5.400 ha, diện tích nuôi tôm sú đạt 613.718 ha, diện tích nuôi
tôm he chân trắng 25.397 ha [126]
. 9

1.3. Tình trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trong NTTS
1.3.1. Tình trạng ô nhiễm môi trường trong NTTS
Bên cạnh sự bùng phát về sản lượng và diện tích nuôi, ngành NTTS trên cả
nước, đặc biệt là ở những khu vực nuôi thủy sản tập trung hiện đang phải đối mặt với
sự ô nhiễm môi trường. NTTS đã có những tác động đến môi trường, làm suy thoái
chất lượng môi trường ở ven biển hoặc nguồn nước mặt nội địa. Khi nguồn nước đã bị
ô nhiễm lại được sử dụng để NTTS dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng
trở nên trầm trọng, khó xử lý. Hơn nữa, do thói quen của những người dân NTTS là sử
dụng thức ăn sống nhiều, nước thải ra không qua xử lý nên dễ dẫn đến ô nhiễm cả
vùng nuôi, lan truyền bệnh tật cho động vật thủy sản.

Tham khảo số liệu từ Trung tâm Quốc gia Quan trắc, Cảnh báo Môi trường
Biển - Viện Nghiên cứu Hải sản thuộc hoạt động quan trắc chất lượng môi trường một
số vùng nuôi biển trong thời gian tháng 9 - 10/2008 như sau:
Khu vực nuôi cá lồng bè Hải Phòng
Hàm lượng muối dinh dưỡng N-NO

+
: 0,011 - 0,318mg/l; P-PO
4
3-
: 0,004 - 0,024mg/l. Mật độ Coliform dao động
trong khoảng 2 - 460MPN/100ml. Chỉ số RQ dinh dưỡng = 1,55 khu vực bị ảnh hưởng
tai biến môi trường, hàm lượng muối dinh dưỡng N-NO
2
-
vượt GHCP 3,9 - 10,2 lần,
N-NO
3
-
tại cửa Trà Lý vượt GHCP 1,1 lần [12].
Khu nuôi cá lồng bè tại Nghi Sơn - Tĩnh Gia (Thanh Hóa)
Hàm lượng N-NO
2
-
:0,027 - 0,028mg/l; N-NO
3
-
:0,065 - 0,068mg/l; N-
NH
4
+
: 0,118 - 0,137mg/l; P-PO
4
3-
: 0,014 - 0,020mg/l. Hàm lượng N-NO
2

2
-
:0,025 - 0,039mg/l; N-NO
3
-
:0,085 - 0,116mg/l; P-PO
4
3-
:
0,041 - 0,108mg/l. Mật độ Coliform 93 - 1.100MPN/100ml. RQ dinh dưỡng = 0,77:
môi trường nước ở mức nguy cơ tai biến môi trường, hàm lượng N-NO
2
-
cao vượt
GHCP 1,3 - 2,0 lần, khu vực Cửa Tiểu có hàm lượng P-PO
4
3-
cao hơn GHCP 1,1 lần
[12].
Như vậy, có thể thấy được tại một số vùng nuôi hải sản tập trung đã xảy ra tình
trạng ô nhiễm môi trường, trong đó chủ yếu là phì dưỡng, ô nhiễm dầu mỡ và ô nhiễm
vi sinh vật. Khi chất lượng nước NTTS bị ô nhiễm sẽ là tiền đề cho các mầm bệnh
phát triển, dẫn đễn khả năng bùng phát dịch bệnh là rất cao [12].
1.3.2. Tình trạng dịch bệnh trong NTTS
Bệnh là mọi sự thay đổi bất thường về cấu trúc, chức năng của cơ thể. Bệnh
chuyển thành dịch khi có trên 30% số cá thể trong quần thể bị mắc bệnh truyền nhiễm.
Tác nhân gây bệnh có thể do yếu tố nội sinh (bẩm sinh, di truyền, tuổi tác), ; do ngoại
sinh (vô sinh như dinh dưỡng, độc tố và hữu sinh như virus, vi khuẩn, ký sinh trùng,
nấm, địch hại ) [9]. Dịch bệnh xuất hiện khi môi trường thuận lợi cho tác nhân gây
bệnh phát triển, bất lợi cho đối tượng nuôi, khi đối tượng nuôi có sức đề kháng yếu,

nước đổ (cuối tháng 6). Các bệnh như bệnh đốm trắng ở gan, thận; bệnh trắng gan,
trắng mang; bệnh xuất huyết, lở loét, đốm đỏ, thường xuất hiện ở giai đoạn cá nhỏ
dưới 200 g/con, cá có trọng lượng trên 200 g/con có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp [20].
1.4. Các bệnh thường gặp trong nuôi trồng thủy sản
1.4.1. Các nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp trong nuôi trồng thủy sản
Bệnh trên đối tượng thủy sản được phân ra thành những nhóm sau: bệnh truyền
nhiễm (tác nhân gây bệnh là virus, vi khuẩn, nấm…); bệnh ký sinh trùng (protozoa,
giun sán, giáp xác…), bệnh do yếu tố vô sinh (dinh dưỡng, môi trường, di truyền) [9].
Nhóm virus: nhóm sinh vật có kích thước rất nhỏ, cấu tạo tế bào đơn giản,
không có khả năng sinh sản trong môi trường tổng hợp nhưng khi tấn công được vào
tế bào vật chủ thì mức độ phân bào rất nhanh và phát tác rất mạnh, vì vậy dễ dàng tạo
thành dịch bệnh lớn và gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế. Hầu hết chưa tìm được
thuốc trị bệnh do virus gây ra, chủ yếu áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh chung để
hạn chế dịch bệnh [9]. 12

Nhóm vi khuẩn: thường xuyên có mặt trong môi trường. Bệnh xuất hiện khi
kèm theo các yếu tố bất lợi khác như môi trường nhiễm bẩn, ấu trùng đã bị bệnh khác
như nấm, ký sinh trùng… Bệnh có thể gây chết hoặc làm cho ấu trùng chậm lớn, mức
độ thiệt hại tùy theo cường độ nhiễm. Có thể chữa khỏi bằng các loại thuốc, hóa chất.
Phần lớn hiệu quả điều trị không cao nhưng chi phí lớn [9].
Nấm: rất phổ biến trong sản xuất giống thủy sản, đặc biệt khi chất lượng nước
xấu, ô nhiễm hữu cơ. Mặc dù không gây dịch lớn, không gây chết hàng loạt nhưng
việc chữa trị dứt điểm rất khó và gây chết rải rác, tỉ lệ sống của ấu trùng rất thấp, ấu
trùng chậm lớn [9].
Nhóm ký sinh trùng: rất phổ biến trong sản xuất giống thủy sản, có thể gây chết
hàng loạt hoặc rải rác, ấu trùng chậm lớn. Mức độ gây thiệt hại về kinh tế không cao,
thường xử lý bằng các loại hóa chất chuyên trị nhưng khó dứt điểm, dễ tái phát [9].

khả năng sinh H
2
S và mẫn cảm với Vibriostat (0/129). Hầu hết các loài của giống
Vibrio đều phân bố trong môi trường nước mặn, thích hợp ở 20 - 40
0
/
00
, có loài còn có
thể phát triển ở độ mặn 70
0
/
00
. Vibrio spp có thể mọc tốt trên môi trường chọn lọc
TCBS (Thiosulphate citrate bile salt agar). Dựa vào màu sắc của khuẩn lạc trên môi
trường nuôi cấy chọn lọc TCBS có thể chia thành 2 nhóm: nhóm có khuẩn lạc màu
vàng, có khả năng lên men đường sucrose và nhóm có khuẩn lạc màu xanh lá cây,
không có khả năng lên men đường sucrose [9].
1.4.2.2. Vibriosis trên đối tượng thủy sản
Vi khuẩn Vibrio spp có thể cảm nhiễm và gây nhiều bệnh khác nhau ở động vật
thủy sản nước mặn, đặc biệt là cá biển và giáp xác (tôm, cua). Theo nghiên cứu của
Austin, đã ghi nhận được 8 loài Vibrio là tác nhân gây bệnh cho cá biển, bao gồm V.
alginolyticus, V. anguillarum, V. carchariae, V. cholerae, V. damsela, V. ordalii, V.
salmonicida và V. vulnificus [24]. Những loài vi khuẩn này chủ yếu gây bệnh nhiễm
trùng máu biểu hiện bằng các vết lở loét trên da và tổn thương nội quan. Tác nhân gây
bệnh Vibriosis thường gặp là V. parahaemolyticus, V. harveyi, V. vulnificus, V.
splendidus, V. alginolyticus, V. anguilarum, V. damsela và V. cholerae [9, 38, 72, 74].
Bệnh Vibriosis bao gồm một số bệnh sau: bệnh phát sáng ở ấu trùng tôm, cua:
tác nhân gây bệnh là V. harveyi, V. vulnificus, và V. parahaemolyticus, [9]; bệnh hoại
tử cục bộ ở giáp xác (còn được gọi là bệnh vỏ, bệnh đốm nâu, đốm đen…) do vi khuẩn
V. alginolyticus, V. parahaemolyticus và V. ordalii gây ra [9]; bệnh xuất huyết lở loét

nuôi
+ Nguồn nước sử dụng trong sản xuất giống cần phải được khử trùng để tiêu
diệt các tác nhân gây bệnh trong đó có Vibrio.
+ Sử dụng các biện pháp cơ học để loại bỏ các chất hữu cơ lắng đáy, giảm thức
ăn dư thừa, thay nước, hạn chế hoặc không dùng thức ăn tươi sống khi nuôi thâm canh.
+ Có thể dùng các chế phẩm sinh học (probiotic) để cân bằng sinh thái trong hệ
thống nuôi và giảm thiểu lượng chất thải hữu cơ trong ao nuôi, kìm hãm sự phát triển
của Vibrio gây bệnh, tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi.
+ Có thể làm tăng hệ miễn dịch tự nhiên của đối tượng nuôi bằng cách bổ sung
vitamin C, A, E và β glucan, hạn chế dùng hóa dược trong NTTS.
Khi đã bị nhiễm bệnh Vibriosis, đối tượng nuôi cần được trị bệnh bằng kháng
sinh (nhóm được phép sử dụng theo danh mục) theo 2 hướng [9]: 15

+ Diệt vi khuẩn cảm nhiễm bên trong cơ thể bằng cách trộn kháng sinh vào
thức ăn như một số kháng sinh thuộc nhóm Sulfamid như: Sulfamethoxine, bactrim,
cotrim trong vòng 5 - 7 ngày, thuốc được trộn vào thức ăn với liều lượng 15 - 20g/kg
thức ăn; Oxonilic acid 25%: 2- 5g/kg thức ăn trong 5 - 7 ngày
+ Giảm mật độ vi khuẩn trong nước và cải thiện điều kiện môi trường nuôi
bằng một số biện pháp kỹ thuật: xifon đáy, thay nước đáy, dùng thuốc diệt khuẩn như
Benzalkonium chloride (BKC), Iodine … sau đó thay một phần nước trong ao.
Tuy nhiên, ở giai đoạn tiền và hậu ấu trùng, do sức chịu đựng của vật nuôi với
thuốc là rất kém và khi bệnh đã xảy ra cấp tính, phần lớn tôm trong bể ấp đã bỏ ăn do
vậy dùng thuốc khó khăn và ít có hiệu quả.
1.5. Probiotic và các vi sinh vật được sử dụng làm chế phẩm probiotic
Sự phát triển về quy mô và đa dạng loài trong NTTS đã đem lại sự tăng trưởng
vượt bậc về sản lượng nuôi trồng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Sản
lượng nuôi tăng cao là do thay đổi phương thức nuôi, chủ yếu nuôi theo hình thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status