1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là do chính bản thân tôi
nghiên cứu và thực hiện.
Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung
thực và chính xác.
Tác giả luận văn
TRƯƠNG VĂN QUỐC
Chương 1: Cơ sở lý thuyết của đề tài 13
1.1. Những lý luận cơ bản về du lịch 13
1.1.1. Những khái niệm 13
1.1.1.1. Du lịch 13
1.1.1.2. Khách du lịch 14
1.1.1.3. Tài nguyên du lịch 15
1.1.1.4. Sản phẩm du lịch 15
1.1.2. Phân loại du lịch 17
1.1.2.1. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi 17
1.1.2.2. Căn cứ vào nhu cầu làm nẩy sinh chuyến đi du lịch 18
1.1.2.3. Căn cứ vào thời gian du lịch 18
1.1.2.4. Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch 18
1.1.3. Vai trò của du lịch 19
1.1.3.1. Vai trò về kinh tế 19
1.1.3.2. Vai trò về xã hội 20
1.1.4. Những nhân tố có ảnh hưởng đến du lịch 21
1.1.4.1. Những nhân tố chung có ảnh hưởng đến du lịch 21
1.1.4.2. Những nhân tố đặc trưng có ảnh hưởng đến du lịch 21
1.1.5. Quan điểm về phát triển du lịch bền vững 22
1.1.6. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước trong khu vực 23
1.2. Một số vấn đề về chiến lược 26
1.2.1. Khái niệm về chiến lược 26
1.2.2. Lợi ích của chiến lược 26
1.2.3. Hoạch định chiến lược 26
1.2.3.1. Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu 27
1.2.3.2.Các công cụ chủ yếu để xây dựng và lựa chọn chiến lược 27
Kết luận chương 1 29
5
3.3.1.1. Giải pháp thu hút đầu tư phát triển du lịch 87
3.3.1.2. Giải pháp đa dạng hoá sản phẩm du lịch 88
3.3.1.3. Giải pháp về tăng cường công tác xúc tiến, 89
quảng bá du lịch
3.3.2. Nhóm giải pháp về xã hội 89
3.3.2.1. Giải pháp về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và 89
cơ chế chính sách về du lịch
3.3.2.2. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao 91
nhận thức về du lịch
3.3.3. Giải pháp về bảo vệ tài nguyên môi trường đảm bảo 92
sự phát triển bền vững của du lịch
3.3.4. Giải pháp về đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học 93
công nghệ và hợp tác quốc tế
3.4. Khuyến nghị 93
7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AIEST Hội Liên hiệp các chuyên gia quốc tế về du lịch học.
AS Số điểm hấp dẫn.
ASEAN Các nước Đông Nam Á.
EFE Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài.
IFE Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong.
GDP Tổng sản phẩm quốc nội.
QSPM Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng được.
SWOT Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ.
TAS Tổng số điểm hấp dẫn.
WTO Tổ chức du lịch thế giới.
GDP du lịch tăng trưởng bình quân hàng năm lần lượt là 14%, 21%, 17%,
đưa du lịch Bến Tre thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và
của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế thế giới có
nhiều biến động phức tạp; thiên tai, dịch bệnh, nạn khủng bố đang gây ảnh
hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội toàn thế giới, trong đó có du lịch Việt
Nam nói chung và du lịch tỉnh Bến Tre nói riêng.
Tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trong nước cũng có nhiều thay đổi,
luật du lịch được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ năm 2006, nghị quyết
đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định đưa du lịch thực sự trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến
2010 đã đề ra hai định hướng chính là du lịch sinh thái và du lịch văn hóa.
Nhờ xác định đúng hướng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với
định hướng phát triển của tỉnh, phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực đồng
thời tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương và các nguồn lực khác, kinh tế Bến
Tre phát triển nhanh chóng và ổn định. Thị xã Bến Tre được công nhận là đô
thị loại 3 vào tháng 8/2007 và trở thành thành phố trực thuộc tỉnh vào tháng
9/2009. Dự án cầu Rạch Miễu đã hoàn thành, nối thẳng đường từ Bến Tre về
thành phố Hồ Chí Minh, ngoài ra còn nối đến Trà Vinh, Sóc Trăng sẽ tạo ra
những cơ hội và thách thức mới trong phát triển du lịch Bến Tre.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là phải xây dựng chiến lược phát
triển du lịch Bến Tre cho phù hợp trong từng giai đoạn phát triển cụ thể để
tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh đồng thời đảm bảo phát triển du lịch bền
vững. Muốn vậy phải biết hiện trạng phát triển du lịch Bến Tre trong những
năm qua như thế nào? Những cơ hội và thách thức trong phát triển du lịch
Bến Tre trong thời gian tới? Chiến lược và giải pháp nào để phát triển bền
vững du lịch Bến Tre? … Đó là những câu hỏi mà bản thân Bến Tre phải
11
tế thành phố Hồ Chí Minh, 2002; Định hướng chiến lược phát triển ngành du
Chương 2: Phân tích đánh giá tiềm năng và thực trạng phát
triển du lịch tỉnh Bến Tre
Phân tích điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch của tỉnh, phân tích
đánh giá thực trạng của du lịch địa phương, từ đó rút ra được những điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức nhằm làm cơ sở cho việc đề ra chiến
lược phát triển.
13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Những lý luận cơ bản về du lịch
1.1.1. Những khái niệm
1.1.1.1. Du lịch
Du lịch đã có từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, được ghi nhận như một
sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch
đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến không chỉ ở các nước
kinh tế phát triển mà còn cả ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt
Nam.
Tuy nhiên hiện nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung du lịch
vẫn chưa thống nhất, có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch. Trước
thực tế phát triển ngành du lịch, việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống
nhất một số khái niệm cơ bản là một đòi hỏi cần thiết.
Sau hội nghị Manila sau năm 1980 của tổ chức du lịch Quốc tế, đưa ra
định nghĩa “Việc lữ hành của mỗi người bắt đầu từ mục đích không phải di
cư và một cách hoà bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển
cá nhân về các phương diện kinh tế, xã hội, văn hoá, tinh thần cùng với việc
đẩy mạnh sự hiểu biết và hợp tác giữa mọi người” (Phạm Hồng Dũng - Định
hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tỉnh Khánh Hoà đến năm 2010,
phú, đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả du lịch càng cao.
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du
lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa
mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử
dụng phục vụ mục đích du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố
cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con
người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng
phục vụ mục đích du lịch.
1.1.1.4. Sản phẩm du lịch
Theo Luật du lịch lịch Việt Nam năm 2006 “Sản phẩm du lịch là tập
hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong
chuyến đi du lịch” (Luật du lịch, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006).
Theo định nghĩa của WTO: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể phức
tạp bao gồm nhiều thành phần không đồng nhất cấu tạo thành, đó là tài
nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, cơ sở hạ
tầng dịch vụ và đội ngũ cán bộ nhân viên” (TS. Trần Văn Thông-Tổng quan
du lịch, NXB Giáo Dục , 2003 ).
Sản phẩm du lịch (Tourism product): có thể là món hàng cụ thể như
phòng ngủ khách sạn và các tiện nghi, các món ăn đồ uống của nhà hàng, các
mặt hàng thủ công mỹ nghệ hoặc một món hàng không cụ thể như điều kiện
thiên nhiên ở nơi nghĩ mát, chất lượng phục vụ của các công ty vận chuyển
khách (hàng không, tàu hoả, tàu thủy, ôtô…) trong nhiều trường hợp sản
phẩm du lịch là sự kết hợp những món hàng cụ thể và không cụ thể. Nói một
cách khác, sản phẩm du lịch là tổng hợp nhiều yếu tố khác nhau nhằm cung
cấp cho khách du lịch kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự mãn nguyện.
Khi xem xét, đánh giá sản phẩm du lịch của một địa phương (quốc
gia) để cho đơn giản có thể sử dụng công thức sau:
Sản phẩm du lịch = vận chuyển + khách sạn + ăn uống hoạt động
xếp chung theo một mức giá bán nào đó (GS.TS. Nguyễn Văn Đính-PGS.TS
Trần Thị Minh Hoà – Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Đại học Kinh tế quốc
dân, 2008).
Các tiêu thức dùng để phân loại du lịch thường được sử dụng như sau:
1.1.2.1. Căn cứ vào phạm vị lãnh thổ của chuyến đi
Du lịch được chia thành hai loại: du lịch quốc tế và du lịch nội địa.
- Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm
đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Ở hình thức này
khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch.
Du lịch quốc tế được chia thành:
19
- Du lịch tham quan: là loại hình du lịch phát triển quanh năm, ít chịu
tác động của mùa vụ, được phát triển mạnh ở những nơi có nhiều danh lam
thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc.
1.1.3. Vai trò của ngành du lịch
1.1.3.1. Vai trò về kinh tế
- Trong quá trình hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một lượng lớn vật
tư hàng hoá để phục vụ du khách. Ngoài việc khách du lịch đem tiền kiếm
được từ nơi khác đến chi tiêu ở vùng du lịch, làm tăng nguồn thu của vùng
và của đất nước du lịch, góp phần tiêu thụ một số lượng lớn vật tư hàng hoá
làm cho kinh tế của vùng du lịch và của đất nước du lịch phát triển.
- Ngành du lịch phát triển còn tác động thúc đẩy sự phát triển của
nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân như ngành sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp, xây dựng, ngành giao thông vận tải, bưu điện, ngân
hàng … do nhu cầu của khách du lịch là rất đa dạng và phong phú cho nên
ngành du lịch phát triển tạo điều kiện cho các ngành này đa dạng hoá sản
phẩm, mở rộng được thị trường tiêu thụ ngay tại chỗ giúp cho quá trình lưu
thông được nhanh hơn, tăng vòng quay vốn, sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
- Hoạt động của ngành du lịch còn góp phần làm tăng thu nhập quốc
1.1.4.1. Những nhân tố chung có ảnh hưởng đến du lịch
- Thời gian nhàn rỗi của nhân dân:
Thời gian nhàn rỗi của người dân càng tăng nên họ có điều kiện để
tham gia đi du lịch càng tăng. Ngày nay kinh tế không ngừng phát triển,
năng suất lao động ngày càng cao, mức sống của người dân ngày càng được
cải thiện, trong điều kiện đó xu hướng chung giảm thời gian làm việc và tăng
thời gian nhàn rỗi. Điều này cho phép các tổ chức du lịch thu hút được nhiều
khách du lịch đến với cơ sở của mình.
- Thu nhập và trình độ dân trí:
Nền kinh tế phát triển sẽ làm cho thu nhập của người dân tăng lên, do
đó khả năng thanh toán cho các nhu cầu trong đó có nhu cầu du lịch sẽ tăng
lên. Các nhà kinh tế đã thống kê rằng các nước kinh tế phát triển nếu thu
nhập quốc dân tăng lên 1% thì chi phí của nhân dân dành cho các nhu cầu du
lịch tăng 1,5% (GS. Nguyễn Văn Lê - Tâm lý học du lịch, NXB Trẻ, năm
1997).
Sự phát triển du lịch còn phụ thuộc vào trình độ văn hoá chung của
nhân dân ở một đất nước. Trình độ văn hóa của một cộng đồng dân cư được
nâng cao, nhu cầu đi du lịch của nhân dân ở đó sẽ tăng lên rõ rệt, mặt khác sẽ
đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh làm hài lòng khách đi du
lịch đến đó.
- Sự phát triển kinh tế của quốc gia:
Khả năng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc lớn vào tình
trạng kinh tế và lực lượng sản xuất của đất nước đó. Nền kinh tế phát triển là
tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành du lịch. Thực tế cho thấy ở các
nước có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển, mặc dù có tài nguyên du lịch
phong phú nhưng du lịch vẫn không phát triển được.
- Sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải:
Từ xưa, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính
cho sự phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Trong những năm gần
đây, giao thông vận tải đã có những bước chuyển biến quan trọng, điều này
Các hội chợ, lễ hội và nghệ thuật dân gian đang là những hoạt động
ngày càng thu hút nhiều du khách. Những lễ hội truyền thống được quảng bá
rộng rãi đến các du khách tiềm năng; một số làng thủ công mỹ nghệ và chợ
bán loại hàng này cũng đã trở thành những điểm thu hút không ít du khách,
ví dụ như làng gốm sứ Dan Kwien và làng tranh chạm Ban Thawai.
Trên khắp các khu vực đồng bằng và thung lũng, nhiều khu du lịch
nghỉ dưỡng đã được thành lập. Mặc dù con số du khách tự mình đi du thám
vùng cao nguyên ngày càng đông nhưng không làm giảm đi lượng du khách
đến khu vực này thông qua các công ty du lịch dã ngoại. Hệ thống lộ trình dã
ngoại đã mở rộng một cách nhanh chóng và đa dạng. Ở Phuket hiện có rất
nhiều sân golf và các tiện nghi giải trí khác như vườn bướm, sân tập bắn
súng, các trung tâm hàng mỹ nghệ và lưu niệm …
Hơn nữa, chính phủ Thái Lan luôn khuyến khích người dân tìm ra các
phương thức quản lý các nguồn lực vì lợi ích và phát triển cộng đồng. Người
dân địa phương có quyền tham gia vào sự phát triển du lịch để phát triển
cộng đồng và để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn.
Thái Lan được xem như một mô hình điển hình có thể tham khảo để
xây dựng mô hình phát triển du lịch đồng bộ nhằm thu hút du khách với số
lượng lớn.
Singapore:
Singapore với diện tích nhỏ bé khoảng 648 km
2
, tài nguyên thiên
nhiên không dồi dào cho việc phát triển du lịch, tuy nhiên họ đã khắc phục
25
vận tải, an ninh quốc phòng và giáo dục đào tạo. Nhà nước tạo mọi điều kiện
tốt nhất nhằm khuyến khích cho tư nhân tham gia đầu tư vào ngành du lịch.
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội
ngũ nhân viên du lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên luôn được các cơ
vật chất nhằm phát triển du lịch.
- Tạo ra những sản phẩm độc đáo, đa dạng, hấp dẫn lôi cuốn sự chú ý
của du khách.
- Tăng cường tuyên truyền, quảng bá về du lịch, giáo dục người dân ý
thức bảo vệ môi trường.
27
Xác định nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức, phân tích các yếu tố bên
trong và bên ngoài đồng thời đề ra các chiến lược thích nghi.
1.2.3.1. Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu
Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu là thành tố đầu
tiên của tiến trình quản trị chiến lược làm nền tảng cho việc soạn thảo chiến
lược. Trên cơ sở phân tích đầy đủ về khách hàng, đối thủ cạnh tranh và năng
lực nội tại để xác định nhiệm vụ chiến lược của tổ chức. Nhiệm vụ chiến
lược này cần được triển khai thành hệ thống những mục tiêu cụ thể, các mục
tiêu của tổ chức cần mang tính thách đố nhưng phải khả thi.
Mục tiêu bao gồm mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn, công ty
thường có hai mục tiêu chính sau:
- Lợi nhuận (thu nhập, cổ tức, lợi nhuận tiền vốn đầu tư).
- Tăng trưởng (doanh thu, thị phần).
1.2.3.2. Các công cụ chủ yếu để xây dựng và lựa chọn chiến lược
Để hình thành được chiến lược trước tiên phải phân tích được môi
trường bên ngoài cũng như môi trường bên trong của tổ chức nhằm xác định
mục tiêu, đề ra các chiến lược thay thế và lựa chọn những chiến lược phù
hợp để thực hiện mục tiêu đó.
Có nhiều phương pháp để phân tích, xây dựng và lựa chọn chiến lược,
một trong những phương pháp thường được sử dụng đó là dựa trên việc phân
tích các yếu tố bên ngoài nhận định được các cơ hội và nguy cơ của tổ chức
để xây dưng ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE), cũng như phân
tích các yếu tố bên trong để xác định được điểm mạnh và điểm yếu từ đó
Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM)
Ma trận QSPM là công cụ cho phép các chiến lược gia đánh giá khách
quan các chiến lược có thể thay thế là tốt nhất, trước tiên dựa trên các yếu tố
thành công chủ yếu bên trong và bên ngoài đã được xác định. Có 6 bước cần
thiết để xây dựng ma trận QSPM.
1. Liệt kê các cơ hội, mối đe dọa bên ngoài và điểm yếu, điểm mạnh
bên trong.
2. Phân loại cho mỗi yếu tố thành công quan trọng bên trong và bên
ngoài.
3. Nghiên cứu ma trận SWOT và xác định các chiến lược có thể thay
thế mà tổ chức nên xem xét để thực hiện
4. Xác định số điểm hấp dẫn.
5. Tình tổng số điểm hấp dẫn.
6. Tính cộng các số điểm hấp dẫn.
Kết luận chương 1
Du lịch là ngành kinh tế quan trọng và đã trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn của tỉnh Bến Tre. Xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du
lịch tỉnh là một vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách. Do đó những nội dung
về cơ sở lý thuyết của đề tài trình bày trong chương 1 là cơ sở phân tích đánh
giá tiềm năng và thực trạng phát triển ngành du lịch trong chương 2, đồng
thời cũng là nền tảng để xây dựng định hướng chiến lược phát triển du lịch
tỉnh Bến Tre trong chương 3.
Trong chương này, luận văn đã tập trung trình bày những vấn đề cơ bản
sau:
31
Chương 2
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẾN TRE
Cồn Tiên: nằm trên sông Tiền thuộc xã Tiên Long huyện Châu Thành
với diện tích 7 ha. Cồn Tiên có bãi cát dài và đẹp, hàng năm vào dịp tết Đoan
Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) có hàng vạn người đến tắm, vui chơi, thưởng
thức trái cây tại vườn.
Khu du lịch sinh thái Vàm Hồ: thuộc xã Tân Mỹ huyện Ba Tri, cách
Thị xã Bến Tre 25 km, nằm trong khu bảo tồn vườn chim Vàm Hồ có diện
tích 67 ha, là hệ sinh thái đặc sắc của vùng cửa sông ven biển tiêu biểu cho
rừng ngập mặn gồm nhiều loại cây. Với điều kiện tự nhiên môi trường thích
hợp, có hàng vạn cá thể chim, cò tụ tập sinh sống tự nhiên, nhiều loại thú
hoang dã, thủy sinh vật có giá trị. Nơi đây đã đầu tư xây dựng nhà hàng, nhà
nghỉ, bãi cắm trại, sân sinh hoạt dã ngoại … phục vụ nhu cầu tham quan,
nghiên cứu và nghỉ ngơi cho du khách.
Vùng du lịch 8 xã ven sông huyện Châu Thành: nơi đây hấp dẫn du
khách bởi sự đậm đà, mộc mạc của một làng quê Việt Nam với bạt ngàn
vườn cây trái. Ngoài những di tích lịch sử văn hoá du khách có thể tham
quan những điểm du lịch miệt vườn, ăn trái cây, nghe nhạc tài tử, đi xe ngựa,
xuồng chèo, tham quan mô hình sản xuất kẹo dừa, nấu rượu, nuôi ong, sản
xuất hàng thêu bằng tay, hàng thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu của cây
dừa…
Khu du lịch cồn Hổ: là tiềm năng du lịch biển quan trọng của Ba Tri.
Khi được cải thiện điều kiện hạ tầng, đặc biệt là về giao thông nhằm thu hút
đầu tư, đây sẽ là sự bổ sung vô cùng quan trọng cho sản phẩm du lịch Ba Tri.
Làng hoa kiểng Chợ Lách: ngoài những loài cây trái ngon nổi tiếng
của Cái Mơn, huyện Chợ Lách còn được biết đến qua nghề sản xuất cây
giống, trồng hoa kiểng đặc sắc tập trung chủ yếu ở các xã Vĩnh Thành, Vĩnh
Hoà, Phú Sơn, Long Thới. Nơi đây cung cấp phần lớn các loài cây giống,
hoa kiểng cho toàn quốc, là một trong những điểm tham quan quan trọng của
Bến Tre.
Làng nghề bánh tráng, bánh phồng: bánh tráng Mỹ Lồng, bánh
phồng Sơn Đốc ở huyện Giồng Trôm, không chỉ nổi tiếng trong tỉnh mà còn
Thạnh Phú. Nơi đây ngày xưa là bến cảng dã chiến của những chuyến tàu
đặc biệt tiếp tế vũ khí từ Bắc vào Nam để cung ứng cho chiến trường Bến
Tre và một số tỉnh ở khu 8, đã thiết lập đường Hồ Chí Minh trên biến cùng
những huyền thoại, những tên tuổi của các chiến sĩ cách mạng, góp phần
quan trọng trong cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam.
Di tích lịch sử căn cứ cách mạng Y4: tại 2 xã Tân Phú Tây và xã
Thành An huyện Mỏ Cày. Nơi đây là căn cứ địa cách mạng của khu uỷ Sài
Gòn – Gia Định từ tháng 7 năm 1969 đến tháng 10 năm 1970, chỉ đạo những
trận đánh lớn vào cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn – Gia Định.
Di tích lịch sử nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi: tại
xã Tân Xuân huyện Ba Tri, đây là nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu
tiên ở Bến Tre.
Di tích lịch sử Đền thờ và mộ thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng:
Nguyễn Ngọc Thăng quê ở xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, dưới
triều thiệu trị năm 1848 giữ chức lãnh binh. Năm 1859 quân Pháp chiếm
thành Gia Định, ông đã lãnh đạo nghĩa quân tham gia kháng Pháp bị trúng
đạn tử thương, mộ ông chôn trên một con giồng nhỏ tại quê nhà. Sau khi ông
mất, vua Tự Đức có phong sắc, áo mão và một thanh gươm. Ngày giỗ ông
hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch, dân chúng đến phúng điếu rất đông.
37
Bảo Tàng Bến Tre: tại 146 Hùng Vương, phường 3, Thị xã Bến Tre,
với khuôn viên rộng 2 ha được xây dựng theo kiến trúc của pháp. Tại đây
trưng bày nhiều hiện vật, tư liệu lịch sử truyền thống cách mạng Bến Tre.
Bản thân toà nhà đã từng là Dinh Tham Biện (thời Pháp) và Dinh Tỉnh
trưởng thời ngụy, gắn với nhân vật lịch sử, nhà tình báo chiến lược, anh hùng
lực lượng vũ trang Phạm Ngọc Thảo từng làm Tỉnh trưởng ở dinh này.
Tương đài Đồng Khởi: đây là một công trình văn hoá đẹp được xây
dựng năm 1995, tại phường 4, Thị xã Bến Tre. Tượng chính là một bà mẹ
tay vươn cao ngọn đuốc lá dừa ở tư thế tiến công; nhóm tượng phụ thể hiện
39
2.1.4.4. Bưu chính viễn thông
Hệ thống bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh phát triển rất nhanh,
được đầu tư tương đối hiện đại, bố trí đều khắp các địa bàn dân cư trong
tỉnh, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc nội tỉnh, ngoài tỉnh và quốc tế. Toàn
tỉnh hiện có 58 mạng lưới dịch vụ bưu điện gồm 01 bưu điện trung tâm, 7
bưu điện huyện và 50 bưu điện khu vực.
Nếu như năm 2002 chỉ mới có 4 máy/1000 dân thì đến năm 2007 con
số đã tăng lên hơn 8 lần đạt 32, 2 máy/1000 dân.
2.1.4.5. Y tế - giáo dục đào tạo
Y tế:
Toàn tỉnh hiện có 10 bệnh viện, với 1.550 giường bệnh; 8 phòng khám
khu vực với 80 giường bệnh, 175 trạm y tế với 180 giường, 100% xã có bác
sĩ. Ngoài ra, còn có 660 cơ sở y tế tư nhân, gồm 314 phòng mạch, 7 nhà bảo
sanh, 186 cơ sở y học dân tộc; 397 hiệu thuốc và đại lý thuốc đã góp phần
đáng kể vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, có thể đảm bảo
phục vụ du khách trong trường hợp cần thiết, tạo nên sự an tâm cho du
khách.
Giáo dục và đào tạo:
Toàn tỉnh hiện có 531 trường học. Trong đó có 156 trường mầm non,
mẫu giáo; 194 trường tiểu học, 135 trường trung học cơ sở, 40 trường trung
học phổ thông và 6 trường dạy nghề trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng đã
tạo điều kiện thuận lợi để học sinh đến trường đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu, đào tạo nguồn nhân lực. Tỉnh đã được công nhận hoàn thành phổ
cập giáo dục trung học cơ sở.
2.1.4.6. Văn hoá thông tin - Thể dục thể thao
Văn hoá thông tin:
Về văn hoá tỉnh hiện có một trung tâm văn hoá, một nhà văn hoá thiếu
nhi và một nhà trưng bày thành tựu kinh tế -xã hội, một rạp chiếu phim,
7 trung tâm văn hoá huyện, 02 nhà thiếu nhi huyện, 28 nhà văn hoá xã, 132
cho Bến Tre một tiềm năng phát triển du lịch phong phú đặc sắc từng được
mệnh danh là quê hương “Đồng Khởi”, quê hương “Xứ Dừa”. Trong những
năm qua du lịch Bến Tre đã cùng với nhiều ngành liên quan trong tỉnh nỗ lực
phấn đấu đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng trong việc giới
thiệu hình ảnh của quê hương Bến Tre tới các địa phương trong cả nước và
bạn bè quốc tế, từng bước đưa du lịch Bến Tre hội nhập với thị trường du
lịch cả nước, khu vực và quốc tế.
2.2.1. Lượng khách du lịch tỉnh Bến Tre
Với tiềm năng phát triển du lịch Bến Tre khá phong phú về du lịch
sinh thái, du lịch văn hoá, đã góp phần quan trọng thu hút khách du lịch đến
Bến Tre ngày một nhiều. Kết quả phân tích hoạt động du lịch Bến Tre thời
kỳ 1995-2007 cho thấy tốc độ tăng trưởng về khách du lịch khá nhanh.
Giai đoạn 1995-2000, đây là thời kỳ phát triển “mạnh” của du lịch
Bến Tre nói riêng và cả nước nói chung. Ngành du lịch Bến Tre còn non trẻ
và với điểm xuất phát thấp, lại là một điểm đến mới trên bản đồ du lịch của
cả nước và khu vực, khách du lịch đến Bến Tre tăng đều qua từng năm. Năm
2000 lượng khách du lịch đến Bến Tre đạt 155,122 ngàn lượt khách, tăng 1,7
lần so với năm 1995, với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 11, 23%/năm.
43
khách du lịch đi ngang qua phải để khách xuống đi bộ. Ở tất cả các huyện
hầu như không có nơi nào đảm bảo được chỗ nghỉ ngơi tốt qua đêm cho một
đoàn khách tham quan. Trong khi đó khách đi du lịch, nhất là khách nước
ngoài có nhu cầu đối với hoạt động vui chơi giải trí, nhưng phải an toàn tuyệt
đối và không phải đối phó với nhiều thứ phiền muộn. Vì những vướn mắc
này mà nhiều tour du lịch ở một số huyện tuy hấp dẫn nhưng khách ngần
ngại không đi.
2.2.1.1. Thị trường khách du lịch quốc tế
Thị trường khách du lịch quốc tế đến Bến Tre trong thời gian qua kể
từ năm 2000 đón được 58,06 ngàn lượt khách, đã tăng 3,78 lần so với năm
Tính chung cả giai đoạn 1995-2005 tốc độ tăng trưởng trung bình
10,19%/năm, năm 2006: 10,24% và năm 2007: 7,64%.
So sánh với các tỉnh lân cận trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long 45
Bảng 2.3. Cơ cấu doanh thu du lịch Bến Tre, giai đoạn 1995-2007
Đơn vị: tỷ đồng
Nguồn: Sở Văn hoá, thể thao và du lịch Bến Tre. Loại
doanh
thu
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng
doanh
thu
10,9 11,7 14,6 15,9 22,5 32,0 39,6 45,5 56,7 67,9 83,2 104,3 129,4
Tăng
trưởng
bình
quân
23,95 21,76 25,36 24,07
Doanh
thu thuần
tuý
8,5 10,04 11,67 13,15 14,86 16,26 21,02 25,27 34,8 37,32 46,67 64,62 77,63
sắm
0,43 0,30 0,53 0,49 1,36 2,78 3,22 3,57 3,87 5,40 6,48 9,05 10,65
% so với
DT thuần
tuý
5,06 2,88 4,54 3,73 9,15 17,10 15,32 14,13 11,12 14,47 13,89 14,00 13,72
DT lữ
hành
0,75 0,85 0,91 1,73 2,38 2,09 4,53 4,69 5,87 5,81 0,92 1,93 1,66
% so với
DT thuần
tuý
8,82 8,17 7,80 13,16 16,02 12,85 21,55 17,20 16,87 15,57 1,97 2,99 2,14
DT khác
2,4 1,66 2,93 2,75 7,64 15,74 18,58 20,23 21,9 30,58 36,53 39,72 51,85
% so với
tổng DT
22,02 14,19 20,07 17,30 33,96 49,19 46,92 44,46 38,62 45,04 43,91 38,08 40,05
Thu nhập
XH từ
DL
19,70 21,06 26,34 28,65 40,65 57,65 70,69 81,92 102,10 122,23 131,56 187,40 233,1
47
Bảng 2.4. Cơ cấu GDP phân theo các ngành kinh tế của Bến Tre
giai đoạn 1995-2007
Đơn vị: tỷ đồng
Ngành
Kinh tế
1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
% so
với tổng
số
11,41 12,09 12,84 13,71 14,60 15,70 15,90 16,34 17,60
Tăng
trưởng
bình
quân
8,80 14,11 14,31 23,39
Nông
Lâm
thủy sản
% so
với tổng
số
2406,8
70,20
3665,66
67,67
3906,10
66,65
4168,21
64,63
4467,42
62,12
5275,93
60,84
5809,29
3280,8
29,67
3872,7
30,56
Tăng
trưởng
bình
quân
10,26 14,59 28,63 18,04
Du lịch
% so
với khối
TM-DV
% so
với tổng
số
16,25
2,58
0,47
62,2
5,67
1,15
68,7
5,72
1,74
Tăng
trưởng
bình
quân
23,96 17,06 40,77 15,80
Tổng số 3428,4 5417,04 5860,42 6449,15 7191,24 8672,28 9940,83 11058,7 12672,8
Tăng
trưởng
bình
quân
6,48 9,09 11,25 14,60
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bến Tre
Năm 2005 tổng sản phẩm ngành du lịch đạt mức 134,9 tỷ đồng (tăng
2,17 lần so với năm 2000 và 8,3 lần so với năm 1995), qua đó đã góp phần
tạo ra mức tăng từ 0,47% lên 1,36% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tốc độ
tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 17,06%/năm . Năm 2006
49
2.2.3.2. Phương tiện vận chuyển phục vụ đưa khách du lịch
Từ năm 2000 trở lại đây các phương tiện vận chuyển được phát triển
mạnh. Đến năm 2005 toàn tỉnh có 100 xe khách từ 10 đến 30 chỗ, 490 xe
đăng ký ngoài tỉnh hoạt động tại Bến Tre. Các phương tiện dịch vụ vận
chuyển đường ngắn được tổ chức hoạt động phục vụ khách du lịch ưa
chuộng với 60 đò du lịch, 30 đầu xe ngựa, trên 100 xuồng chèo phục vụ du
khách.
2.2.3.3 Các dịch vụ hỗ trợ
Thời gian gần đây, nhằm tăng cường quảng bá về hình ảnh và thu hút
khách du lịch Bến Tre đã tiến hành xây dựng mới 35 điểm du lịch sinh thái,
yêu cầu của khách du lịch.
Năm 1995 lực lượng lao động trong ngành du lịch là 661 người, năm
2000 là 1135 người và năm 2005 số lao động trong ngành có 2624 người.
Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 14,8%/năm.
Thực trạng về cơ cấu và trình độ đào tạo lao động ngành du lịch là
một vấn đề còn nhiều bất cập. Năm 2007 tỷ trọng lao động được đào tạo qua
các trường nghề có trình độ từ trung cấp trở lên chiếm 20,89% nhưng phần
lớn chỉ được đào tạo ở loại hình sơ cấp từ 1 tháng đến 1 năm chiếm 79,11%
nên trình độ nghiệp vụ, kiến thức về du lịch còn thấp.