i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
ii
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn thầy
GS TSKH. Nguyễn Trọng Cẩn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt
những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Các thầy cô giáo Khoa Chế biến, trường Đại học Nha Trang.
Lãnh đạo và cán bộ phụ trách PTN Trung tâm CL Nông lâm sản vùng 5.
Đặc biệt là đồng nghiệp, người thân đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian qua.
Do những hạn chế về kiến thức của bản thân và điều kiện khách quan
nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được
những nhận xét, góp ý của quý thầy cô và đồng nghiệp để luận văn này hoàn
thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 06 năm 2010
Học viên thực hiện
Phạm Duy Linh
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
AAS
ATVS
ASP
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. GIỚI THIỆU SƠ LƯƠC VỀ NGHÊU 3
1.1.1 Đặc điểm cấu tạo 3
1.1.2 Đặc điểm sinh học 4
1.1.3 Thành phần hóa học của nghêu 5
1.2. TÌNH HÌNH PHÂN BỐ CỦA NHUYỄN THỂ 2 MẢNH VỎ. 6
1.3. BÃI NGHÊU Ở HUYỆN TRẦN VĂN THỜI – CÀ MAU 9
1.4. ẢNH HƯỞNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC NUÔI ĐẾN CHẤT LƯỢNG
CỦA NGHÊU THƯƠNG PHẨM. 10
1.5. ẢNH HƯỞNG CÁC LOÀI TẢO ĐỘC CÓ TRONG MÔI TRƯỜNG
NUÔI MÀ NGHÊU ĂN VÀO TÍCH TỤ Ở CƠ THỊT. 12
1.6. SỰ TÍCH TỤ CÁC KIM LOẠI NĂNG TRONG NHUYỄN THỂ 15
1.7. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGHÊU (Meretrix lyrata) 17
1.7.1.Các công trình nghiên cứu trong nước. 17
1.7.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 21
2.2 PHƯƠNG PHÁP THU MẪU VÀ XỬ LÝ MẪU 21
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.3.1. Phương pháp phân tích hoá học 23
2.3.2. Xác định các vi sinh vật gây bệnh có trong nguyên liệu nghêu 26
2.4. Thiết bị và hoá chất sử dụng trong luận văn 26
v
2.4.1. Hoá chất. 26
2.4.2.Thiết bị sử dụng chủ yếu. 26
2.5. Phương pháp xử lý số liệu. 27
2.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 28
vi
3.4.2. Nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống 43
3.5 THIẾT LẬP VÀ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH ĐẢM BẢO VỆ
SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG QUÁ TRÌNH NUÔI NGHÊU 44
3.5.1. Giám sát định kỳ các chỉ tiêu ATVS vùng thu hoạch nhuyễn thể 2
mảnh vỏ 44
3.5.2. Điều kiện để cho phép thu hoạch và Chế độ xử lý sau thu hoạch 46
3.5.3. Kiểm soát thu hoạch 46
3.5.3.1. Cơ chế kiểm soát bao gồm 47
3.5.3.2. Thực hiện kiểm soát thu hoạch 47
3.5.4 Kiểm soát ATVS trong bảo quản, vận chuyển nhuyễn thể hai mảnh
vỏ 48
3.5.4.1 Phương tiện bảo quản, vận chuyển 48
3.5.4.2 Điều kiện bảo quản, vận chuyển 49
3.5.5 Kiểm soát điều kiện ATVS cơ sở làm sạch/ ngâm loại bỏ tạp chất 49
3.5.5.1 Cơ sở ngâm loại bỏ tạp chất cho nhuyễn thể 2 mảnh vỏ 49
3.5.5.2 Cơ sở làm sạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ 49
3.5.6 Kiểm soát ATVS cơ sở chế biến 49
3.5.7 Kiểm tra thành phẩm, cấp chứng thư xuất xưởng 51
3.5.8. Xử lý khiếu nại và triệu hồi lô hàng 52
3.5.8.1. Lưu mẫu 52
3.5.8.2. Xử lý khiếu nại: các thông tin người khiếu nại cần cung cấp 52
3.5.8.3. Triệu hồi và xử lý lô hàng 52
3.5.9. Xây dựng kế hoạch kiểm soát hàng năm 52
3.5.10. Thẩm tra hệ thống kiểm soát 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 54
1. Kết luận: 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC
vii
2
, vùng nước ngọt và nước lợ có khả năng nuôi trồng thủy sản trên 1
triệu ha, nguồn lợi thủy sản phong phú đa dạng. Từ những năm đầu thập niên
90, thế kỷ 20, Chính phủ đã xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn.
Thực hiện chủ trương trên, liên tục trong 15 năm qua, ngành thủy sản đã đạt
tốc độ tăng trưởng rất cao, cụ thể năm 1991 giá trị kim ngạch đạt 11,2 triệu
USD, thì năm 2007 giá trị kim ngạch đạt là 3.752 triệu USD.
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản Việt Nam phát triển không
ngừng. Sự phát triển đó nhờ vào sự chủ động về nguồn nguyên liệu, với các
điều kiện thuận lợi tự nhiên, đặc biệt thuận lợi nhất là các tỉnh Đồng bằng
song Cửu long. Thế mạnh phát triển hiện nay, dựa trên các sản phẩm chủ lực
Tôm, Cá, Nghêu, Bạch tuộc, nhuyễn thể hai vỏ. Hầu hết, thủy sản Việt Nam
xuất khẩu vào thị trường EU, Mỹ, Canada, một số thị trường Châu Á có nhu
cầu sản lượng lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc, Thái Lan
Trong tất cả các thị trường xuất khẩu, thị trường EU yêu cầu an toàn vệ sinh
thực phẩm thuỷ sản nghiêm ngặt nhất, đồng thời quản lý có hệ thống chặt chẽ.
Thị trường EU yêu cầu phải thực hiện kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm
thủy sản ngay từ vùng nuôi. Vì vậy, việc thực hiện chương trình kiểm soát vi
sinh vật, độc tố và kim loại nặng trong sản phẩm nhuyễn thể hai mảnh vỏ là
yêu cầu cần thiết. Tuy nhiên, việc kiểm soát đó tập trung ở những tỉnh có sản
lượng lớn, ở những vùng có sản lượng nhỏ chưa được quan tâm.
Do đó, đề tài “Nghiên cứu sự biến động vi sinh vật, độc tố và kim
loại nặng, thiết lập các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn nguyên liệu
nghêu (Meretrix lyrata) tại Cà Mau” là sự cần thiết, góp phần đẩy mạnh
việc quản lý chất lượng nguyên liệu thủy sản xuất khẩu.
Mục đích của luận văn
2
Nghiên cứu sự biến động của một số vi sinh vật, độc tố và kim loại
nặng của nguyên liệu Nghêu trong qúa trình nuôi. Từ các kết quả nghiên cứu
thu được đề xuất các biện pháp kiểm soát chất lượng nghêu nguyên liệu đảm
Meretrix lyrata (sowerby, 1851) không có synonym (tên đồng nghĩa), Nghêu
được sắp xếp như sau:
- Ngành thân mềm : Mollusca
- Lớp hai mảnh vỏ : Bivalvua
- Bộ mang thật
: Ewlamellibranchia
- Phân bộ
: Heterodonta
- Tổng họ ngao
: Veneracea
- Họ ngao
: Veneridae
- Giống ngao
: Meretrix
- Loài nghêu: Meretrix lyrata
Nghêu được bọc bởi hai lớp vỏ dày, rắn chắc, có dạng hình tam giác,
hai vỏ gắn chặt nhau, gốc vỏ có răng khớp rất khít. Mặt trong của vỏ trơn
nhẵn, có màu trắng ngà thường óng ánh (hình 1.1 và 1.2). Quan sát thấy bên
ngoài mặt vỏ có nhiều vân song song nhau, gọi là vòng sinh trưởng. Vỏ càng
lớn số vân càng nhiều, hay gặp mỗi cá thể có từ 25-60 vân. Bên cạnh hông vỏ
có một vệt đen xám lớn từ bản lề khớp vỏ đến phía trong miệng vỏ, vỏ có
màu trắng sáng hoặc nâu, không có hoa. Vỏ có màu trắng xám có số lượng
nhiều, chiếm đến 90%, vỏ màu nâu chiếm 10%.
4
Hình 1.1. Hình ảnh bên ngồi nghêu
Hình 1.2. Hình ảnh bên trong nghêu
Quan sát thấy bên ngồi mặt vỏ có nhiều vân song song nhau, gọi là
vòng sinh trưởng. Vỏ càng lớn số vân càng nhiều, hay gặp mỗi cá thể có từ
25-60 vân. Bên cạnh hơng vỏ có một vệt đen xám lớn từ bản lề khớp vỏ đến
phía trong miệng vỏ, vỏ có màu trắng sáng hoặc nâu, khơng có hoa. Vỏ có
% và khống tổng 3,2 – 4,2 % cũng có biến đổi khơng đáng kể. Như vậy,
thành phần hóa học cơ bản của nghêu là protein 12,6%, lipid 2,6%, khốnhg
tổng 3,7%, nước 81%. [12]
Cỡ nghêu
Thành phần hóa học
Cỡ nghêu
Protein
Lipit
Khống tổng
Nước
20
6
1.2. TÌNH HÌNH PHÂN BỐ CỦA NHUYỄN THỂ 2 MẢNH VỎ.
Tại khu vực Đơng Nam Á, do khí hậu nóng ơn đới đây là mơi trường
thích hợp để phát triển nghề ni Nghêu, nhưng do nguồn Nghêu giống còn
khan hiếm khơng chủ động được nguồn giống nên hầu như nghề ni Nghêu
còn nhiều bất cập va chưa quan tâm đúng mức.
Những năm gần đây giá Nghêu trên thị trường biến động rất lớn tăng 5-
7 lần so với năm 2002 tuy sản lượng Nghêu có giảm, nhưng vẫn đem lại hiệu
quả kinh tế cho người ni.
Gần đây với sự tiến bộ Khoa học kỹ thuật và Việt Nam đã cho đẻ thành
cơng Nghêu nhân tạo, đây là một bước đột phá rất lớn trong cơng nghệ sản
xuất giống, bên cạnh đó mở ra hướng phát triển nghề ni Nghêu tại các tỉnh
Đồng Bằng Sơng Cửu Long. Góp phần nâng cao sản lượng Nghêu ni, cung
cấp nguồn ngun liệu phục vụ cho chế biến xuất khẩu đem về kim ngạch cho
đất nước.
Tại Việt Nam nhuyễn thể 2 mảnh vỏ rất đang dạng và phong phú về
lồi, sản lựơng cũng như mùa vụ (bảng 1.2). Nghêu khai thác tập trung ở các
tỉnh Đồng Bằng Sơng Cửu Long như TP. Hồ Chí Minh, Long An, Tiền
Giang, Bến Tre, cà Mau. [17]
Thường gặp ở
Quảng Ninh đến
Thừa Thiên Huế,
nhiều nhất ở Thái
Bình và Nam
Đònh
Có mặt ở cửa
sông, đầm, các
bãi bùn lầy
5.000-5.200
Quanh
năm
5. Ngó đen
(Dosinia)
Quảng Ninh và
Hải Phòng
Có mặt ở cửa
sông, đầm, các
bãi bùn lầy
1.000-1.200
Quanh
năm
II. Họ sò (Arcidara)
8
có độ sâu 2m,
chui sâu trên bãi
cát
IV. Họ vẹm (Mytilidae)
1. Vẹm xanh
(Perna viridis)
Diện tích bãi Nghêu tương đối ổn định và ít biến đổi; nhưng mật độ
Nghêu biến đổi khá nhanh theo mùa khí hậu và giữa các năm với nhau:
- Vào mùa mưa (tháng 11/2007):
+ Giới hạn vị trí (xem hình 1.3): Vĩ độ Kinh độ
0 /
b: 09
0
09
/
500N - 104
0
47
/
500E.
c: 08
0
55
/
000N - 104
0
47
/
500E
d: 08
0
55
/
500N - 104
0
40
/
500N - 104
0
40
/
000E.
+ Diện tích bãi 38.000ha, Nghêu phân bố với mật độ cao và tập trung
hơn so với mùa mưa (0 – 50 con/390m
2
). Kích thước Nghêu lớn chiếm 80 –
95% tổng số mẫu khảo sát.
a: 09 09 500N - 104
0
40
/
500E.
a: 09 09 500N - 104
0
40
/
000E.
10
104
0
38
/
E
104
0
57
a
TrÇn V¨n Thêi
B¹c liªu
a
TrÇn V¨n Thêi
B¹c liªu
08
0
59
/
N
Sông Đốc
S«ng §èc
d
Phó T©n
cµ mau
d
Phó T©n
cµ mau
08
0
40
/
N
Hình 1.3 Vị trí bãi Nghêu huyện
Trần
Văn Thời vào mùa mưa
Hình 1.4 Vị trí bãi Nghêu huyện
Trần Văn Thời vào mùa khô
1.4. ẢNH HƯỞNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC NUÔI ĐẾN CHẤT LƯỢNG
độc, đặc biệt còn xuất hiện hiện tượng ngộ độc và chết người do tiêu thụ sản
phẩm hải sản có liên quan đến sự nở hoa của tảo độc. Tảo là loài sinh vật có
khả năng tự dưỡng bằng ánh sáng mặt trời, một trong những ứng dụng quan
trọng của tảo được xem như là nguồn thực phẩm quan trọng của con người và
động vật. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy tảo có chứa nhiều
loại độc tố có tính độc rất mạnh và có thể chia làm 03 nhóm, loại khác nhau:
- Nhóm một: có khả năng sản sinh ra các độc tố có thể tích luỹ trong
các sinh vật biển làm chết cá, tôm.
-Nhóm hai: là các loài có khả năng phát triển với mật độ tế bào cao, dẫn
đến hiện tượng thiếu oxygen và gây chết cho nhiều sinh vật khác.
- Nhóm ba: gồm một số vi tảo có cả hai khả năng trên.
12
1.5. ẢNH HƯỞNG CÁC LOÀI TẢO ĐỘC CÓ TRONG MÔI TRƯỜNG
NUÔI MÀ NGHÊU ĂN VÀO TÍCH TỤ Ở CƠ THỊT.
Độc tố gây liệt cơ (PSP) là hiện tượng ngộ độc ở người tiêu dùng khi ăn
phải các sinh vật có vỏ đã nhiễm độc của các loài tảo giáp như Alexandrium,
Pyrodinium và Gymnodinium (Hashimoto & Noguchi 1989). Độc tố gây liệt
cơ (PSP) bao gồm Saxitoxin (STX), đây là độc tố có khả năng gây độc rất
mạnh, chỉ cần 0,2 g cũng tiêu diệt được một con chuột, người ta phát hiện ra
độc tố này trên cơ sở phân tích bơ vùng Alaska . Độc tố này có hơn 20 dẫn
xuất, các hợp chất này đều tan tốt trong nước và hầu hết đều bền với nhiệt
(Banden và cộng sự 1993). Saxitoxin nói riêng và Độc tố gây liệt cơ (PSP)
nói chung làm tắc nghẽn kênh trao đổi ion Na
2+
trên màng tế bào thần kinh
gây ra sự ức chế quá trình truyền xung thần kinh, vì thế các độc tố này có tác
động đến cả hệ thần kinh và các hoạt động cơ của con người (Banden và
cộng sự 1993).
Độc tố ảnh hưởng đến hệ tiêu hoá gây tiêu chảy (DSP) do các loài tảo
giáp sống trôi nổi hoặc sống dưới đáy sản sinh. Các loài vi tảo này hầu hết
ghi nhận từ ít nhất hai vùng có điều kiện khí hậu và địa lí khác nhau (Bates et
al, 1989; Fryxell et al, 1990). Axít domoic cũng được phát hiện ở nhóm sò,
trai, vẹm Ở vịnh Fundy miền Tây Canada cùng một thời điểm khi P.
pseudodelicatissima là loài phiêu sinh vật chiếm ưu thế (Martin et al, 1990)
và P. australis được chứng minh là loài sản sinh axít domoic ở California
(Buck et al 1992; Carrison et al 1992). Pseudo nitzschia delicatissima và P.
seriata đã được chứng minh là loài sản sinh axít domoic trong nuôi trồng
(Smith et al, 1991; Lindholm et al, 1994). Axít domoic có thể là mối đe dọa
khắp thế giới, ít nhất là những vùng biển ấm, nhưng người ta có thể làm giảm
14
bớt mức độ nguy hiểm nhờ vào việc giám sát tảo độc hoặc tạm thời đình chỉ
việc khai thác thủy sản trong thời gian tảo độc nở hoa.
Giống Alexandrium (Độc tố gây liệt cơ PSP) gồm hai giống phụ:
Alexandrium và Gessnerium. Alexandrium có cấu tạo vỏ gồm các mảnh giáp
bao bọc bên ngoài. Tế bào dạng cầu, bầu dục, hình trứng hay có dạng hai hình
nón, không có sừng hoặc gai. Cấu trúc mặt vỏ bao gồm lỗ, mặt lưới,
vermiculae (hoa văn dạng hình như những con sâu dạng giun). Tấm vỏ có thể
mỏng, mềm, có nếp nhăn. Tế bào chất kéo dài đến nhân dạng chữ C, và đối
với tất cả các loài đều chứa lục lạp. Ở một số loài trong giống này, vị trí lưng
bụng của APC và tấm vỏ (ở tế bào già) có thể sinh ra một mấu ở đỉnh. Giống
phụ Gessnerium cũng giống như Alexandrium. Nhiều loài trong giống này tiết
độc tố và hay phát huỳnh quang sinh học. Các loài tiết độc tố có thể tiết một
lượng độc tố thần kinh gây nên hiện tượng bại liệt. [60][61]
Các nhuyễn thể có vỏ ăn lọc trực tiếp các loài vi tảo độc song chúng
không bị tác động xấu từ độc tố tảo nhưng chúng có thể tích lũy các độc tố
này và khả năng tích luỹ này rất khác biệt tuỳ theo loài sinh vật, phụ thuộc
vào sự nhạy cảm, khả năng tích luỹ trên cơ sở sức chống chịu của hệ thần
kinh của chúng đối với độc tố. Tốc độ tích luỹ độc tố của các sinh vật ăn lọc
có liên quan chặt chẽ đến số lượng tế bào vi tảo độc nhưng sự đào thải của
các độc tố đã tích luỹ lại phụ thuộc vào vị trí hay bộ phận mà chúng tích luỹ
và thường có độc tính đối với sự sống. Kim loại nặng thường liên quan đến
vấn đề ô nhiễm môi trường. Nguồn gốc phát thải của kim loại nặng có thể là
tự nhiên, hoặc từ hoạt động của con người, chủ yếu là từ công nghiệp (các
chất thải công nghiệp) và từ nông nghiệp, hàng hải (các chế phẩm phục vụ
nông nghiệp, hàng hải ). Dưới đây là nguồn phát thải chủ yếu của kim loại
nặng:
16
Bảng 1.6. Các nguồn gây nhiễm ion kim loại trong môi trường nước nuôi
Có một số hợp chất kim loại nặng bị thụ động và đọng lại trong đất, song
có một số hợp chất có thể hoà tan dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau,
nhất là do độ chua của đất, của nước mưa. Điều này tạo điều kiện để các kim
loại nặng có thể phát tán rộng vào nguồn nước ngầm, nước mặt và gây ô
nhiễm đất.
Một số chất tẩy rửa gia dụng có chứa các tác nhân tạo phức mạnh (như
EDTA, NTA) khi thải ra cũng góp phần làm tăng khả năng phát tán của kim
loại nặng.
Các kim loại nặng có mặt trong nước, đất qua nhiều giai đoạn khác nhau
trước sau cũng đi vào chuỗi thức ăn của con người. Chẳng hạn các vi sinh vật
có thể chuyển thuỷ ngân (Hg) thành hợp chất metyl thủy ngân (CH
3
)
2
Hg, sau
đó qua động vật phù du, tôm, cá mà thuỷ ngân đi vào thức ăn của con người.
Sự kiện ngộ độc hàng loạt ở Vịnh Manimata (Nhật Bản) năm 1953 là một
minh chứng rất rõ về quá trình nhiễm thủy ngân từ công nghiệp vào thức ăn
của con người.
Hầu hết các ion kim loại nặng như Hg
+2
, Pb
và
hầu hết chúng có thể gây bệnh ung thư.
1.7. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGHÊU (Meretrix lyrata)
1.7.1.Các công trình nghiên cứu trong nước.
Các tác giả Hoàng Quốc Chương (1963), Shirota (1966) và Trương
Ngọc An (1993) đã nghiên cứu và chia các loại tảo có khả năng gây độc
thành 23 loài (thuộc bốn ngành) trong số đó có đến 15 loài có độc tố bao
gồm các loài Trichodesmium erythraeum, Chaetoceros coarctatus,
Pseudonitzschia sp, Thalassiosria subtilis, Ceratium furca, Ceratium fusus,
Dinophysis caudata, Dinophysis ovum, Gonyaulax sp, Phalacroma sp,
Prorocentrum
micans, Prorocentrum sigmoides, Prorocentrum sp,
Dictyocha fibula, Dictyocha specculta. Tuy nhiên các tác giả này chưa đề
cập đến mức độ gây độc và độc tính của chúng.
Năm 1990, Nguyễn Trọng Cẩn và Đỗ Minh Phụng khi nghiên cứu
thành phần chất ngấm ra ở nhuyễn thể hai mảnh vỏ, so sánh với cá nhận thấy
thành phần chất ngấm ra ở động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ nhiều hơn so
với cá.[1,2]
Năm 1994, Bùi Kim Hiếu nghiên cứu về tập tính sinh học và sự phân bố
của nghêu. Kết quả nghiên cứu cho biết, phân bố chủ yếu trên các bãi triều tại
những vùng biển cạn, nền đáy thích hợp cho nghêu là cát pha bùn, tỉ lệ cát
chiếm từ 60%-80%. Tỷ trọng nước thích hợp với nghêu thay đổi khoảng
1,015-1,024.
Huỳnh Văn Chương, Nguyễn Hữu Phụng (1994), nghiên cứu về khả
năng chịu mặn của nghêu. Qua nghiên cứu tác giả cho biết, độ mặn thích hợp
cho nghêu phát triển là 20-30‰.
Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lâm và cộng sự đã đề cập đến khả năng gây
độc của một số loài nhuyễn thể khi sống trong môi trường nuôi có các loài vi