1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LÊ XUÂN SƠN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ DHA/ EPA
TRONG THỨC ĂN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TÔM HÙM XANH GIAI ĐOẠN GIỐNG VÀ
GIAI ĐOẠN THƯƠNG PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học : TS. Vũ Ngọc Bội
Nha Trang - 2010
3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Một số kết quả thu
được trong luận văn này là thành quả của Chương trình Khoa học công nghệ trọng
điểm cấp Nhà nước C.06 mà tôi là một trong những thành viên và được sự đồng ý
của Chủ nhiệm đề tài trong việc sử dụng các số liệu có liên quan đến chương trình.
Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố
trong bất kì công trình nào.
Tác giả luận văn
4
1.1.4. Đặc điểm sinh sản 17
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng 17
1.1.6. Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tôm hùm nuôi 18
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU DINH DƯỠNG CỦA TÔM VÀ GIÁP XÁC 19
1.2.1. Dinh dưỡng protein và các axít amin cần thiết 19
1.2.2. Nhu cầu lipid và các axit béo cần thiết (EFA) 21
1.2.3. Dinh dưỡng Carbohydrate 26
1.2.4. Dinh dưỡng Vitamin 26
1.2.5. Dinh dưỡng chất khoáng 27
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỨC ĂN VIÊN CHO TÔM HÙM 27
CHƯƠNG II 31
NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. NGUYÊN VẬT LIỆU 31
2.1.1. Tôm hùm giống 31
2.1.2. Thức ăn nuôi tôm hùm 31
2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 37
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu điều tra 37
2.3.2. Phương pháp phân tích hóa học 37
2.3.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm 38
62.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 47
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 TÌNH HÌNH NUÔI VÀ THỨC ĂN CHO TÔM HÙM Ở TỈNH PHÚ YÊN 48
3.1.1. Tình hình nuôi tôm hùm 48
3.1.2. Tình hình sử dụng thức ăn trong nuôi tôm hùm 52
3.1.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn 54
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên b
ảng
Trang
Bảng 2.1. Đường kính sợi và thời gian hấp sợi thức ăn 35
Bảng 2.2. Đường kính và chiều dài sợi thức ăn cho tôm hùm xanh 36
Bảng 2.3. Thành phần nguyên liệu của tổ hợp thức ăn trong thí nghiệm 1 41
Bảng 2.4. Thành phần nguyên liệu của tổ hợp thức ăn trong thí nghiệm 2 42
Bảng 2.5. Thành phần nguyên liệu của tổ hợp thức ăn trong thí nghiệm 3 44
Bảng 2.6. Thành phần nguyên liệu của tổ hợp thức ăn trong thí nghiệm 4 45
Bảng 3.1. Bảng các loại thức ăn trong nuôi tôm hùm 52
Bảng 3.2. Thành phần sinh hóa thức ăn trong thí nghiệm 1 54
Bảng 3.3. Sinh trưởng của tôm hùm xanh giai đoạn giống khi cho ăn bằng thức ăn có
có bổ sung Protein Selco với các mức khác nhau và TĂT (cua, cá tạp) 55
Bảng 3.4. Tỉ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của tôm hùm xanh khi cho
ăn bằng thức ăn có bổ sung PS với các mức khác nhau và TĂT 58
Bảng 3.5. Bảng so sánh các chỉ tiêu của tôm giữa chế biến và TĂT (cá tạp) 60
Bảng 3.6. Thành phần sinh hóa của thức ăn ở thí nghiệm 2 60
Bảng 3.7. Sinh trưởng của tôm hùm xanh giai đoạn giống khi cho ăn bằng thức ăn có
bổ sung DM/DĐN với các tỉ lệ khác nhau và TĂT (cua, cá tạp) 61
Bảng 3.8. Tỉ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của tôm hùm xanh khi cho
ăn bằng thức ăn có bổ sung DM/DĐN với các tỉ lệ khác nhau và TĂT 65
Bảng 3.9. Bảng so sánh các chỉ tiêu của tôm giữa chế biến và TĂT (cá tạp) 65
Bảng 3.10. Thành phần sinh hóa của thức ăn ở thí nghiệm 3 66
Bảng 3.11. Sinh trưởng của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi cho ăn bằng
thức ăn có có bổ sung PS với các mức khác nhau và TĂT 67
Bảng 3.12. Tỉ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của tôm hùm xanh giai
đoạn thương phẩm khi cho ăn bằng thức ăn có bổ sung PS với các mức khác nhau và
TĂT 69
Bảng 3.13. Bảng so sánh các chỉ tiêu của tôm giữa TĂCB và TĂT 71
9DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình
Trang
Hình 1.1. Tôm hùm xanh (Panulirus homarus) 14
Hình 2.1. Máy nghiền búa Brook Crompton 33
Hình 2.2. Qui trình kỹ thuật sản xuất thức ăn cho tôm hùm xanh 34
Hình 2.3. Máy trộn 20QT Mixer 34
Hình 2.4. Hình ảnh về quá trình tạo sợi thức ăn 35
Hình 2.5. Tủ hấp Stoodart 95C.3 (Úc) 35
Hình 2.6. Thiết bị sấy Moisture Extraction Oven (Úc) 36
Hình 2.7. Kích cỡ viên thức ăn 36
Hình 2.8. Sơ đồ khối bố trí thí nghiệm tổng hợp các nội dung nghiên cứu 39
Hình 2.9. Hình ảnh chụp từ vệ tinh vị trí đặt lồng nuôi tôm hùm 39
Hình 2.10. Hình ảnh về lồng thí nghiệm nuôi tôm hùm 39
Hình 2.11. Hình ảnh về tôm hùm giống 41
Hình 2.12. Hình ảnh về tôm hùm giống giai đọan nuôi thương phẩm 43
Hình 3.1. Các vùng nuôi tôm hùm ở tỉnh Phú Yên 48
phẩm với các mức bổ sung PS và TĂT 68
Hình 3.18. Hệ số sinh trưởng ngày của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm với với
thức ăn được bổ sung PS và TĂT 68
Hình 3.19. Tỉ lệ sống của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi cho ăn bằng thức
ăn có bổ sung PS với các mức khác nhau và TĂT 70
Hình 3.20. Hệ số chuyển đổi thức ăn của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi
cho ăn bằng thức ăn có bổ sung PS với các mức khác nhau và TĂT 70
Hình 3.21. Tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm hùm xanh giai đoạn thương
phẩm nuôi bằng thức ăn bổ sung DM/DĐN khác nhau và TĂT 73
Hình 3.22. Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm hùm xanh giai đoạn
thương phẩm với các mức bổ sung DM/DĐN và TĂT 74
Hình 3.23. Tăng trưởng tương đối về khối lượng theo ngày của tôm hùm xanh giai
đoạn thương phẩm với các mức bổ sung DM/DĐN và TĂT 74
Hình 3.24. Tỉ lệ sống của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi cho ăn bằng thức
ăn bổ sung DM/DĐN với các tỷ lệ khác nhau và TĂT 75
Hình 3.25. Hệ số chuyển đổi thức ăn của tôm hùm xanh giai đoạn thương phẩm khi
cho ăn bằng thức ăn bổ sung DM/DĐN với các tỷ lệ khác nhau và TĂT 75 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DHA : Docosahexaenoic acid
EPA : Eicosapentaenoic acid
DM/DĐN : Dầu mực/Dầu đậu nành
TĂT : Thức ăn tươi
PS : Protein Selco
TĂCB : Thức ăn chế biến
MỞ ĐẦU
Tôm hùm là tên gọi chung của các loài giáp xác sống ở vùng biển nhiệt đới và á
nhiệt đới, từ vùng biển sâu đến vùng triều cạn, thuộc họ Palinuridae. Họ Palinuridae
có trên 47 loài [17], là đối tượng hiện đã và đang được nghiên cứu nuôi ở nhiều nước
trên thế giới. Ở Việt Nam, giống Panulirus thuộc họ Palinuridae gồm có 7 loài: tôm
hùm bông (P. ornatus), tôm hùm xanh (P. homarus), tôm hùm sỏi (P. stimpsoni), tôm
hùm đỏ (P. longipes), tôm hùm ma (P. penicilatus), tôm hùm sen (P. versicolor) và
tôm hùm bùn (P. poliphagus) [22]. Trong số đó, có 02 loài có giá trị kinh tế cao nhất
và hiện được nuôi khá phổ biến là tôm hùm bông (P.ornatus) và tôm hùm xanh (P.
homarus) [6].
Ở nước ta, nghề nuôi tôm hùm bắt đầu và phát triển từ năm 1992 (400 lồng) tại
Khánh Hòa trong đó tôm hùm bông (Panulirus ornatus) là đối tượng chủ yếu, tính
đến năm 2006 đã có trên 49.000 lồng nuôi, sản lượng nuôi ước tính đạt 1.900
tấn.Trong những năm gần đây số lồng và sản lượng tôm hùm có xu hướng giảm do
tình hình dịch bệnh xuất hiện [18].
Tôm hùm thường được nuôi từ nguồn giống tự nhiên và nguồn thức ăn chủ yếu
của nó là các loài thủy hải sản có giá trị kinh tế thấp như cá tạp, cua, ghẹ, [23]. Việc
sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên, không qua chế biến này có những bất lợi nhất định
như cạnh tranh nguồn cá tạp sử dụng làm thực phẩm cho con người hay thức ăn gia
súc, gia cầm, cũng như người nuôi không chủ động nguồn thức ăn nhất là vào mùa
mưa bão. Đặc biệt theo nhiều nhà khoa học về nuôi trồng thủy sản, khi sử dụng thức
ăn không qua chế biến có thể làm tăng nguy cơ dịch bệnh và là nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường nước.
Để phát triển nghề nuôi tôm hùm một cách bền vững, an toàn với môi trường,
việc nghiên cứu sản xuất thức ăn tổng hợp để cung cấp cho người nuôi đang là một
yêu cầu cấp thiết. Vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ
lệ DHA/ EPA trong thức ăn đến sự phát triển của tôm hùm xanh giai đoạn giống
và giai đoạn thương phẩm” với mục đích góp phần vào xây dựng công thức thức ăn
nuôi tôm hùm. 14CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM HÙM XANH
1.1.1. Phân loại và hình thái
Theo hệ thống phân loại của Geogre và Holthius (1965), tôm hùm xanh có vị
trí phân loại như sau:
Ngành chân đ ốt: Arthropoda
Lớp giáp xác : Crustaceae
Bộ mười chân : Decapoda
Họ tôm hùm gai: Palinuridae
Gi ống : Panulirus
Loài : Panulirus homarus (Linnaeus,1758)
Hình 1.1. Tôm hùm xanh (Panulirus homarus)
Tôm hùm xanh (P. homarus) còn gọi là tôm hùm đá có chân ngắn. Toàn thân có
màu xanh lá cây nhạt. Kích thước cơ thể không lớn, cá thể lớn nhất bắt gặp khoảng
1,5kg, còn đa số khoảng 0,3 – 0,4kg. Đôi râu 2 dài khoảng 1,4 – 1,5 chiều dài cơ thể.
Năm đôi chân bò có những vòng ngang màu vàng nhạt. Các đốt bụng có rãnh ngang,
mép trước của rãnh ngang có dạng lượn sóng thành những vòng nhỏ có nhiều lông
mịn. Hai cặp gai ở phiến gốc râu 1 xếp cách đều nhau tạo thành hình vuông, giữa có
nhiều gai nhỏ (Hình 1.1) [6].
1.1.2. Đặc điểm phân bố
Phân bố của tôm hùm được quyết định bởi tính di truyền và quá trình thích nghi
của loài với các điều kiện tự nhiên, môi trường ở từng vùng biển. Chu kỳ sống của
thành. Trong suốt thời kì này, tôm hùm thường sống trong các vùng rạn ngầm và rạn
ghềnh có độ sâu từ 10 đến 50 mét, thường là các vùng rạn ven bờ và các hải đảo, nền
đáy là đá tảng, san hô và cát bùn [11].
161.1.3. Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của tôm hùm được xác định bằng sự gia tăng về chiều dài giáp đầu
ngực hoặc khối lượng cơ thể. Chu kỳ lột xác thể hiện mức độ sinh trưởng cá thể của
loài, khi lột xác khối lượng cơ thể tăng lên rõ rệt. Có nhiều yếu tố tác động trực tiếp
hay gián tiếp đến chu kỳ lột xác của tôm hùm bao gồm nhiệt độ nước, ánh sáng,… và
các yếu tố nội tại của cơ thể bao gồm các hormone kích thích lột xác hay các
hormone ức chế lột xác. Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chu kỳ lột xác của tôm
hùm là thức ăn, nhiệt độ nước và tính di truyền của loài, nhiều tác giả đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của thức ăn và việc quản lý chăm sóc là tác nhân làm tăng tần số lột
xác đáng kể.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thúy (2004), trên tôm hùm bông (P.
ornatus), nhóm tôm con có kích thước 15 - 20 mm CL (chiều dài giáp đầu ngực), ở
nhiệt độ bình thường (26 - 27
o
C) thì thời gian giữa 2 lần lột xác là 8 - 12 ngày
nhưng khi nhiệt độ tăng cao và ổn định (29 - 30
o
C) thời gian lột xác giảm xuống
khoảng một nửa, khi nhiệt độ hạ xuống khoảng 20 - 24
o
C thời gian giữa 2 lần lột
xác kéo dài gấp 1 - 1,2 lần. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn có ý nghĩa rất
quan trọng đối với sinh trưởng của tôm con, thức ăn giàu các axít amin không thay
Nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho tôm hùm sinh trưởng và phát triển là
các loại thức ăn. Song tùy theo loài và các giai đoạn phát triển mà phổ thức ăn của
chúng thay đổi khác nhau. Ngoài tự nhiên tôm hùm thường kiếm mồi vào ban đêm,
thích mồi sống, ăn cả mồi chết, ngay cả thịt gia súc, gia cầm chết. Nghiên cứu về phổ
thức ăn của tôm hùm cho thấy, đây là loài thuộc nhóm giáp xác ăn thịt nhưng ít đi
kiếm ăn, trong dạ dày của chúng có tới 65 loài sinh vật làm thức ăn, chiếm ưu thế là
động vật thân mềm một mảnh vỏ và hai mảnh vỏ. Tuy nhiên, khả năng đồng hóa thức
ăn của tôm hùm tương đối thấp.
Trong các thí nghiệm, tôm hùm con được cho ăn động vật thân mềm hai mảnh
vỏ sinh trưởng nhanh hơn tôm hùm chỉ có ăn cá. Nếu thiếu thức ăn hoặc thức ăn
thiếu canxi, chúng thường ăn thịt lẫn nhau, nhất là khi tôm lột xác. Vì vậy, trong thức
ăn cho tôm hùm nên có một lượng tôm, cua (khoảng 30%). Các nghiên cứu gần đây
nhận thấy: tôm hùm được nuôi thành đàn thì tôm ăn mồi nhiều hơn khi nuôi riêng lẻ,
khi có chỗ ẩn nấp, tôm hùm con ăn nhiều hơn, sinh trưởng nhanh hơn. Sự ăn mồi của
tôm hùm cũng thay đổi theo chu kỳ lột xác. Trước lột xác khoảng 2 ngày và sau lột
18xác 2 ngày, chúng hầu như ngừng ăn. Sau thời gian nhịn đói, tôm ăn rất nhiều trong
4-5 ngày tiếp theo, sau đó chúng giảm ăn dần và trở lại mức bình thường [6].
1.1.6. Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tôm hùm nuôi
* Nhiệt độ nước
Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định sự phân của các
giống tôm hùm trong họ Palinuridae. Hầu hết các loài thuộc giống Panulirus sống ở
vùng biển ấm, nhiệt độ dao động từ 20 - 30
0
C, trung bình khoảng 25
0
C.
này là tìm ra loại thức ăn, chế độ cho ăn phù hợp giúp tôm tăng trưởng nhanh, hệ số
thức ăn thấp và ít tác động tiêu cực đến môi trường.
19* Chất lượng nước
Amonia chiếm từ 60 – 100% tổng lượng nitrogen mà giáp xác thải ra, lượng
amonia tăng lên cùng với việc gia tăng lượng thức ăn, khối lượng cơ thể tôm và nhiệt
độ nước. Lượng amonia trong nước bị ảnh hưởng bởi mức protein có trong thức ăn,
nhịp điệu ngày đêm, độ mặn, giai đoạn lột xác và hàm lượng lượng oxy hoà tan. Khi
ở nồng độ cao amonia gây độc hoặc ức chế tăng trưởng cho tôm và hàm lượng
amonia tổng số khi nuôi loài tôm hùm Jasus edwardsii nuôi trong hệ thống tuần hoàn
nước nên nhỏ hơn 0,5 mg/L, NH
3
-N không nên vượt quá 0,1 mg/L, NO
2
-N bằng hoặc
nhỏ hơn 1 mg/L, NO
3
-N nhỏ hơn 100 mg/L, pH 7,8 – 8,2 [7].
* Hàm lượng oxy hoà tan
Hàm lượng oxy hoà tan rất quan trọng đối với thuỷ sinh vật nói chung và tôm
hùm nói riêng. Lượng oxy tôm tiêu thụ phụ thuộc vào giới tính của tôm, khối lượng
cơ thể, giai đoạn lột xác, hoạt động bắt mồi, nhiệt độ nước và độ mặn, khi độ mặn và
nhiệt độ nước cao thì hàm lượng oxy hoà tan thấp, các loại thức ăn dễ phân rã, thức
ăn thừa cũng làm tăng nhu cầu oxy hoá sinh học, tỷ lệ tiêu thụ oxy ban đêm cao hơn
ban ngày. Hàm lượng Oxy hòa tan trong nước vùng nuôi tôm hùm lồng trong khoảng
6,2 – 7,2(mg/lít) [5].
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU DINH DƯỠNG CỦA GIÁP XÁC VÀ
(Kanazawa & Teshima, 1981) và tôm sú (P. monodon) (Coloso & Cruz, 1980). Các
loài tôm thẻ ấu niên và trưởng thành có khả năng hạn chế sử dụng các axít amin tổng
hợp trong thức ăn nên đến nay nhu cầu các axít amin cần thiết trên các loài tôm chưa
được xác lập đầy đủ như các loài cá và gia súc, gia cầm.
Nhu cầu methionine và cystine của tôm sú là 1,4% thức ăn hay 4% của protein
(Liou and Yang, 1994) và nhu cầu threonine là 1,4% thức ăn hay 3,5% mức protein
(Millamena et al., 1996b) và valine là 3,75% protein (Millamena et al., 1996). Do đó,
việc sử dụng các axít amin tổng hợp để cân đối nhu cầu axít amin trên tôm sú không
hiệu quả bằng việc sử dụng các nguồn nguyên liệu bổ sung các thiếu hụt axít amin
cần thiết.
Ngoài ra, các axít amin tự do trong thức ăn có tác dụng dẫn dụ làm cho tôm
phát hiện thức ăn từ xa và kích thích tôm ăn nhiều hơn. Nhiều thí nghiệm cho thấy
các axít amin như glycine, taurine và betaine là những thành phần dẫn dụ trong thức
ăn có nhiều trong bột nhuyễn thể, dịch thủy phân cá, bột gan mực. Sử dụng các axít
21amin tổng hợp như betaine vào thức ăn tôm có tác dụng làm tăng độ hấp dẫn của thức
ăn viên cho các loài tôm và giáp xác khác [4].
Nhu cầu protein và các axít amin cần thiết tối ưu của một loài phụ thuộc vào
nguồn nguyên liệu làm thức ăn (tỉ lệ protein, thành phần axít amin), trạng thái sinh lí
của vật nuôi, môi trường, lượng và nguồn thức ăn hằng ngày của chúng. Do đó, cần
nghiên cứu tỉ mỉ để tìm tỉ lệ thích hợp cho từng trường hợp cụ thể.
1.2.2. Nhu cầu lipid và các axit béo cần thiết (EFA)
* Nhu cầu lipid tổng số
Ngoài chức năng là nguồn cung cấp năng lượng [1], nguồn lipid trong thức ăn
cho cá và giáp xác cung cấp các axít béo (FA), đặc biệt là các axít béo cần thiết
(EFA). EFA rất cần cho sự trao đổi chất, tham gia vào quá trình sinh tổng hợp màng
tế bào. Ngoài ra lipid còn có một vai trò như là dung môi để hòa tan, vận chuyển và
3
-(CH
2
)
10
-COOH, kí hiệu 12:0
Axít palmitic: CH
3
-(CH
2
)
14
-COOH, kí hiệu 16:0
Ở kí hiệu 12:0 thì chỉ số đầu biểu thị số lượng carbon, chỉ số thứ 2 biểu thị số
nối đôi. Như vậy theo ví dụ trên thì axít lauric có số carbon là 12, số nôi đôi bằng 0,
tương tự axít palmitic có số carbon là 16, số nôi đôi bằng 0.
Các axít béo không no, ví dụ:
Axít Oleic: CH
3
-(CH
2
)
7
- CH=CH-(CH
2
)
7
–COOH kí hiệu 18:1n-9
Ở đây, 18 là số nguyên tử carbon có trong mạch carbon; 1 là số lượng nối đôi
có trong mạch carbon, 9 là vị trí nối đôi được tính từ gốc metyl.
MUFA (monounsaturated fatty acids) axít béo không no có một nối đôi.
-
PUFA (Polyunsaturated fatty acids) trong mạch carbon có ít nhất 2 nối đôi.
-
HUFA (highly unsaturated fatty acids) trong mạch carbon có 4 – 6 nối đôi.
Tất cả động vật đều có thể tổng hợp được các axit béo no chuỗi dài từ axetat:
n CH
3
COO
¯
→ CH
3
CH
2
CH
2
COO
¯
→ CH
3
CH
2
CH
2
CH
2
CH
2
Theo Phillips Bruce (2006), trong giáp xác năm axít béo cần thiết cho sự tăng
trưởng và sự sống là: axít
-linolenic (ALA, 18:3n-3); axít eicosapentanoic (EPA,
20:5n-3); axít
-linoleic (LA, 18:2n-6); axít arachinoic (ARA, 20:4n-6); axít
Docosahexaenoic (DHA, 22:6n-3) [13].
Đối với nhu cầu các axít béo cần thiết của giáp xác, nhiều nghiên cứu đã xác định
cho một số loài trong họ tôm he và tôm càng xanh. Những nghiên cứu của Kanazawa
(1977, 1979) đã chỉ ra rằng thức ăn cho tôm he Nhật Bản có bổ sung 1% axít béo họ
n- 3 và n-6 sẽ kích thích sự tăng trọng. Read (1981) cũng cho biết khi bổ sung 1%
axít họ 18:2n-6 và 18:3n-3 vào thức ăn cho tôm he P.indicus cũng có tác dụng kích
thích tăng trưởng và tỉ lệ sống. Các nghiên cứu của Kanazawa (1877), Xu và CTV
(1994) đối với tôm he Trung Quốc (P.chinensis) cho kết quả tương tự như đối với
tôm he Ấn Độ (P.indicus). Teshima và CTV (1992) đã xác định tốc độ sinh trưởng
cao nhất về khối lượng có thể đạt được đối với tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii) khi nuôi bằng thức ăn có bổ sung hỗn hợp axít béo họ 18:2n-6 và theo tỉ
lệ 12:1 [1].
Theo nghiên cứu sự tác động của linoleic (LA,18:2n-6) và linolenic
(ALA,18:3n-3) đến tăng trưởng của tôm sú (Penaeus monodon) của B.D.Glencross
và ctv (2001), cho biết tỷ lệ giữa tối ưu cho tôm phát triển (n-3 và n-6) là 2.5 và 1 và
mặc dù con số này có thể có sai lệch trong quá trình chế biến thức ăn là 2:1 hay 3:1
đều không ảnh hưởng gì đến tốc độ tăng trưởng của tôm.
Mức độ tăng trưởng của P. japonicus sẽ gia tăng khi bổ sung 1% của 18:2n-6 và
18:3n-3 vào thức ăn. Shewbart và Mies (1973) thử nghiệm mức độ từ 0,5 - 5% 18:3n-
6 vào thức ăn công nghiệp cho tôm giống P. aztecus, kết quả là mức 2% cho tốc độ
tăng trưởng cao nhất, dưới mức 2% sẽ làm giảm khả năng tăng trưởng của loài tôm
này. Read (1981) đã tìm thấy bổ sung 1% của 18:2n-6 hoặc 18:3n-3 vào thức ăn sẽ
cải tiến được mức độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm P. indicus. Sinh trưởng của
các axít béo Omaga 3 EPA (axít eicosapentaenoic, 20:5n-3) và DHA (axít
docosahexaenoic, 22:6n-3), nó được sinh tổng hợp từ ALA (axít linolenic, 18:3n-3)
nhưng chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với tổng LC-PUFAs trong cấu trúc của não [21].
Tốc độ tăng trưởng của tôm sú (Penaeus monodon) tốt hơn tại các nghiệm thức cho
6 3 1
1
5 8 11
14 17 20
HO
O
Công thức cấu tạo của EPA (eicosapentaenoic acid) 31
1