TiÓu luËn_ qu¶n trÞ chÊt lîng
LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, nhìn lại lịch
sử nhân loại, tôi bỗng giật mình khi nhìn thấy Đức, Nhật, ý, các nước bại trận trong cuộc
chiến khốc liệt đó nay đã trở thành các cường quốc về kinh tế. Nền kinh tế của Tây Đức
thịnh vượng hơn nền kinh tế của Anh, Pháp, mức sống của họ hiện cao nhất ở Tây âu.
Nhật còn thịnh vượng hơn nữa: khắp thế giới, ngay cả ở Mỹ, đều mua máy chụp ảnh, ô tô
của Nhật, xe honda, xe Suzuki tràn ngập thị trường Việt nam, kỹ nghệ đóng tàu của họ
đứng vào bậc nhất thế giới. Không một chính phủ nào dám coi thường các dân tộc bại
trận đó, họ đã vượt được nhiều dân tộc đã thắng họ 60 năm trước. Vì sao vậy? Câu trả lời
rất đơn giản: thế giới ngày nay đã không còn là thiên hạ của các nhà quân sự nữa mà là
thiên hạ của những nhà quản trị, những nhà kinh doanh. Chiến tranh giờ đã thay bằng
cạnh tranh chiến trường đã thay bằng thị trường. Chính sự hoạch định trong sản xuất kinh
doanh, quản trị hợp lý là nhân tố quan trọng của mọi thành công.
Mặt khác, xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và xu hướng
hội nhập của các nền kinh tế quốc gia và khu vực đã đặt các doanh nghiệp Việt Nam
trước nguy cơ bị cạnh tranh gay gắt bởi các doanh nghiệp nước ngoài. Chính sách cạnh
tranh về giá sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế cao khi mà đời sống của người dân tăng
lên, lúc đó họ sẵn sàng trả giá cao để có được sản phẩm có chất lượng cao. Do vậy trong
tương lai các doanh nghiệp sẽ áp dụng hình thức cạnh tranh bằng cách nâng cao chất
lượng sản phẩm và dịch vụ là chủ yếu. Do đó các doanh nghiệp của Việt Nam muốn cạnh
tranh thắng để tồn tại trên thị trường không còn ảnh hưởng nào khác là phải nâng cao
chất lượng sản phẩm và dịch vụ để tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Nhận thức sâu sắc vấn đề trên, các doanh nghiệp phải tìm cho mình bước đi thận
trọng với hang loạt chiến lược, chính sách giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
để phát triển năng lực cạnh tranh & hiệu quả sản xuất của mình. Đặc biệtlà đối với ngành
thực phẩm thì vấn đề này cần phải được quan tâm hơn nữa. Bởi lẽ chất lượng thực phẩm
có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống cộng đồng.
Thấy được sự cần thiết đó, chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài :
“Kinh nghiệm quản trị chất lượng của một số nước trên thế giới. Vận dụng vào
ngành công nghiệp thực phẩm ở nước ta hiện nay ”
đã làm suy giảmchất lượng sản phẩm.Vấn đề đào tạo đã được các tổ chức của nhà nước
và tư nhân rất quan tâm vàđầu tư nhằm khắc phục nhược điểm này. Nhiều giáo sư,
chuyên gia trong lĩnh vực chất lượng được mời giảng dạy tại các cơ quan nhà nước như
Bộ quốcphòng và các nhà máy, công ty tư nhân.
Kinh nghiệm của Mỹ trong các hoạt động áp dụng các hệ thống QLCL là: tiến
hành kết hợp các hoạt động tiêu chuẩn hóa, chuyên môn hóa ; Nghiên cứu áp dụng đồng
bộ hệ thống QLCL trong mô hình hoạt động thiết kế- sản xuất- lắp đặt- triển khai Tiến
hành đồng bộ cùng các hoạt động đào tạo, tuyên truyền, nghiên cứu áp dụng các hệ thống
QLCL trong các doanh nghiệp cùng với đào tạo, việc hình thành các câu lạc bộ QLCL,
các tạp chí về chất lượng đã góp phần giới thiệu, phát triển các nghiên cứu tiến bộ áp
dụng trong QLCL. Theo điều tra mới nhất của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế, đến ngày
31/12/2000, trên 4000 chứng nhận ISO 9000 và ISO 14000 đã được cấp cho các tổ chức,
công ty Mỹ.
2. Kinh nghiệm của Nhật bản:
Vào tháng 5/1946, khi mà các phương pháp QTCL của Mỹ đã trở nên nổi tiếng
khắp thế giới, Nhật Bản đã học tập ở các chuyên gia Mỹ những điều tinh túy nhất và thực
hiện một cách xuất sắc vào thực tế nước mình, tạo nên “ phương pháp QTCL kiểu Nhật “,
đưa ngành công nghiệp Nhật Bản đi lên bằng con đường chất lượng, từ một vị trí thấp
kém vươn lên dẫn đầu thế giới về chất lượng trong một khoảng thời gian ngắn khiến cả
2
Nhãm 2_qu¶n trÞ doanh nghiÖp Má B 52
TiÓu luËn_ qu¶n trÞ chÊt lîng
thế giới kinh ngạc và thán phục. Đây cũng là một bài học bổ ích cho các nước đang phát
triển trong quá trình tiếp thu những thành tựu tiên tiến của nước ngoài.
Hoạt động áp dụng các hệ thống QTCL ở nhật bản:
Khởi đầu từ nghiên cứu và đào tạo, từ việc thành lập nhóm QTCL trực thuộc Liên
hiệp các nhà khoa học và kỹ sư Nhật vào năm 1949. Với mục đích tổ chức các khóa học
về QTCL, chính phủ Nhật Bản đã mời các chuyên gia hàng đầu thế giới về chất lượng
như tiến sĩ W. E. Deming, giáo sư J,M. Juran sang để giảng dạy cho các nhà lãnh đạo
với năm 1999.
3. Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái lan là một quốc gia có bờ biển dài, thuận lợi để nuôi trồng và phát triển thuỷ
sản. Để phát huy tiềm năng này, chính phủ Thái lan đã sớm dành sự quan tâm cho việc
quản lý môi trường vì sự ô nhiễm môi trường tác động tiêu cực đến các hoạt động sống,
sản xuất nói chung cũng như sản xuất thuỷ sản nói riêng. Chính phủ Thái lan đã ra một
loạt các văn bản có liên quan như:
3
Nhãm 2_qu¶n trÞ doanh nghiÖp Má B 52
TiÓu luËn_ qu¶n trÞ chÊt lîng
Cấm phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản; Quy hoạch các vùng nuôi trồng
thuỷ sản ở xa các khu vực canh tác nông nghiệp để tránh chất thải từ đầm nuôi thuỷ sản
ảnh hưởng đến cây trồng; Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất áp dụng HTQL môi
trường ISO 14000 thông qua các chính sách hỗ trợ; Mở các lớp đào tạo về áp dụng hệ
thống QLMT ISO 14000, chương trình hoạt động vì môi trường nhằm khuyến khích
người dân có ý thức về bảo vệ môi trường; Để bù lại những thiệt hại mà người dân, các
cơ sở nuôi trồng, chế biến thủy sản khi thực hiện các chương trình môi trường và áp dụng
hệ thống QLMT ISO 14000, chính phủ Tháilan đã hỗ trợ bằng cách chuyển giao kỹ thuật,
đào tạo hướng dẫn nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản cho người nuôi. Sản phẩm có
chất lượng sau đó sẽ được chính phủ mua lại và cung cấp cho các nhà sản xuất chế biến.
Các cơ sở chế biến liên kết với người nuôi trồng thủy sản cải tiến phương pháp nuôi và
kỹ thuật chế biến để sản phẩm dễ được chấp nhận tại các nước khác nhau trên thế giới.
Các nhà chế biến thủy sản đã cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm giúp cạnh tranh trên
thị trường quốc tế và cải thiện điều kiện sản xuất để giành được sự chấp nhận của thị
trường thế giới bằng cách thực hiện các chương trình chất lượng như GMB, HACCP,
ISO9000, ISO 14000
4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quản trị chất lượng.
Phải luôn nâng cao nhận thức thực hiện HTQTCL ở mọi nơi, mọi lúc chứ không
phải chỉ có các doanh nghiệp lớn, tài chính dồi dào, nhân lực đông mới có thể áp dụng.
2. Thực trạng chất lượng và quản lý thực phẩm ở nước ta hiện nay
2.1. . Những mặt mạnh
Như chúng ta đã biết, vấn đề chất lượng thực phẩm đã và đang được toàn xã hội
quan tâm. Các cơ quan quản lý Nhà nước, các Bộ, các ngành đang chú trọng việc áp dụng
nhiều biện pháp để tăng cường việc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Các
văn bản pháp quy về việc quy định và định hướng dẫn áp dụng các biện pháp kiểm tra,
theo dõi, kiểm soát chặt chẽ quá trình sản xuất chế biến thực phẩm đã được ban hành và
đưa vào thực hiện ( Quyết định số 2214/1999/QĐ- TTg ngày 14/2/1999 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thành lập Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Bộ y tế;
Quyết định số 2482/BYT-QĐ về quy chế cấp giấy chứng nhận cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ
sinh an toàn thực phẩm; Pháp lệnh chất lượng hàng hoá; 28TCN129:1998 về chương
trình quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm theo HACCP; 28TCN130:1998 Bộ Thuỷ
sản về điều kiện chung đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; Chỉ thị số 619-TTg
(6/9/1996) của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách kiểm tra vệ sinh thực
phẩm sữa tươi tiêu dùng trong cả nước; Thông tư số 4-1998/TT-BYT (23/3/1998) hướng
dẫn thực hiện quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm trong kinh doanh dịch vụ ăn uống và rất
nhiều quy định có liên quan). Các biện pháp xử lý các vấn đề vi phạm về vệ sinh an toàn
thực phẩm, ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng cũng đã dần được thực hiện nghiêm
ngặt ( Nghị định số 57-CP ngày 31/5/1997 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hoá). Một số biện pháp kỹ thuật tiên tiến và
các tiêu chuẩn quốc tế đã từng bước được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất và chế
biến thực phẩm. Không ít các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thực phẩm, nhất là
các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản đã áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng như
GMP,HACCP, GHP, SQF1000, SQF2000 để kiểm soát quá trình chế biến nhằm cung cấp
sản phẩm đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thoả mãn nhu cầu của các nước nhập khẩu.
Hơn 100 doanh nghiệp sản xuất chế biến thuỷ hải sản trong cả nước do áp dụng hệ thống
HACCP và đảm bảo an toàn thực phẩm đã được chấp nhận là có quyền xuất khẩu vào thị
trường Mỹ và EU
2.2 Một số hạn chế
a.Chất lượng thực phẩm
quản độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là hoa quả nhập từ Trung Quốc. Cụ
thể, ở Nam Định đầu năm nay đã kiểm tra và phát hiện 5/12 mẫu nho, 6/12 mẫu quýt,
9/13 mẫu táo Trung Quốc, 8/12 mẫu lê Trung Quốc có hoá chất bảo vệ thực vật. Như vậy
chỉ riêng trong phần nguyên liệu chúng ta đã thấy rât nhiều bất cập, gây lo ngại cho người
tiêu dùng. Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bà Hà Thị Liên, uỷ viên
trung ương Mặt trận tổ quốc VN đã phát biểu:” Phụ nữ chúng tôI đI chợ không biết mua
gì bởi cáI gì cũng có thể bị tẩm hoá chất độc hại”
* Chất lượng quá trình chế biến.
Quá trình chế biến thực phẩm ở nước ta còn nhiều hạn chế. Công nghệ cũ kỹ, lạc
hậu,mất vệ sinh. Nhân viên thi không có kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhiều
cơ sở, doanh nghiệp vì mục đích lợi nhuận, đã bỏ qua nhiều công đoạn chế biến, sử dụng
những chất hoá học đã bị cấm sử dụng, sử dụng cả những nguồn nguyên liệu không đảm
bảo chất lượng. Theo báo cáo của Sở Y tế thành phố HCM, hiện nay 83% thực phẩm chế
biến sẵn đang bán tại các chợ bị nhiễm vi sinh và 100% thực phẩm cần độ dai, giòn như
bánh su sê, bánh da lợn… đều có sử dụng hàn the, 44% mặt hàng bánh giò khi kiểm tra
không đạt chất lượng. Cũng theo báo cáo của Sở Y tế thành phố HCM thì có trên một nửa
số bếp ăn vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm. Vi phạm tập trung vào các lĩnh vực: vệ
sinh dụng cụ, trang thiết bị, vệ sinh cá nhân và chế biến bảo quản thực phẩm. Theo bác sĩ
Nguyễn Đức An, quyền chánh thanh tra Sở Y tế cho biết, đa số các bếp ăn có diện tích
mặt bằng quá chật hẹp, nhiều cơ sở phảI thuê mặt bằng nên việc đầu tư xây dựng,sắp xếp
trật tự, ngăn nắp vệ sinh chưa tốt. Từ đó dẫn đến việc các bếp ăn không thực hiện đúng
các quy trinh bảo quản thực phẩm, là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ ngộ độc thức ăn
tập thể.
* Chất lượng bảo quản
Vấn đề bảo quản thực phẩm luôn là vấn đề nan giải đối với các ngành chức
năng và người dân. Các nhà sản xuất, chế biến thực phẩm không mấy chú trọng đến sức
khoẻ người tiêu dùng mà chỉ chú trọng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Như chúng ta đã
biết hàn the là một chất phụ gia giúp thực phẩm dai, giòn và bảo quản được lâu nhưng rất
độc hai cho cơ thể con người. Hiện nay, có rất nhiều loại phụ gia thay thế được những ưu
điểm của hàn the như TPAT, PDG… nhưng các cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm
phối hợp giữa các bộ phận.
Việc kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm chỉ mới được
tập trung chủ yếu trong ngành thuỷ sản. Các khu vực khác trong ngành chế biến thực
phẩm chưa được quan tâm và chú trọng đúng mức.
Trong quá trinh sản xuất chế biến thực phẩm tại một số doanh nghiệp các nguồn
cung cấp nguyên liệu chưa được kiểm soát chặt chẽ. Đặc điểm lớn nhất của nguồn cung
ứng nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh thực phẩm vẫn
chủ yếu là thu mua của các hộ nông dân và ngư dân. Trong khi đó việc kiểm soát nuôi
trồng, chăm sóc chưa chặt chẽ. Hiện tượng người nông dân tuỳ tiện, thiếu kiến thức trong
việc sử dụng các chất bảo vệ thực vật, thức ăn cho động vật còn khá phổ biến.
Quản lý của Nhà nước
Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ở nước ta quá yếu. Năm 2003, Pháp lệnh
Vệ sinh an toàn thực phẩm đã được ban hành lần đầu tiên với hy vọng sẽ giảm bớt tình
trạng mất vệ sinh, an toàn trong kinh doanh, chế biến thực phẩm, kinh doanh ăn uống.
Nhưng cho đến hiện nay tình trạng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn tồn tại rất
nhiều. Sở dĩ có hiện tượng như trên là do bộ máy quản lý nhà nước về vấn đề này quá
chia cắt, chồng chéo và bỏ sót. Hiện nay các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
này còn ít, chồng chéo trách nhiệm giữa ngành y tế, thương mại và cả ngành nông
nghiệp. Vì vậy không có cơ sở để kiểm tra và xử phạt nghiêm khắc các trường hợp vi
7
Nhãm 2_qu¶n trÞ doanh nghiÖp Má B 52
TiÓu luËn_ qu¶n trÞ chÊt lîng
phạm. Ví dụ: trong đợt kiểm tra của Sở Y tế thành phố HCM tại 40 lò giết mổ gia cầm ở
quận 8 cho thấy có hơn 90% cơ sở vi phạm nhưng tỷ lệ phạt chỉ 15% ( có nơI 0% và chỉ
nhắc nhở). Một vấn đề nữa là bộ máy chuyên trách vệ sinh an toàn thực phẩm thiếu và
yếu trầm trọng. Đặc biệt tại cấp cơ sở không có cán bộ phụ trách vấn đề này, trong khi
đó đây chính là khâu quan trọng trong việc thanh kiểm tra và quản lý các cơ sở chế biến,
cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng. Hệ thống kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực
phẩm còn chưa đủ mạnh về thiết bị và con người, lực lượng thanh tra chuyên ngành còn
cả nước từ 1/1/2001.
Sản phẩm nội địa: Lượng hàng thực phẩm tiêu thụ ở nước ta là khá lớn, người tiêu
dùng đòi hỏi về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng cao. Ngừoi dân có xu hướng thích
dùng hàng ngoại nhập vì vậy các nhà sản xuất phảI năng cao chất lượng để cạnh tranh với
hàng ngoại nhập. Từ 04/01/1997 Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng ra quyế t định
05/TDC-QĐ cho các chi cục chịu trách nhiệm hướng dẫn các cơ sở sản xuất thực phẩm
áp dụng hệ thống GMP và HACCP và tiến tới áp dụng HACCP cho các doanh nghiệp.
Trên thực tế áp dụng hệ thống HACCP có rất nhiều cáI lợi nhưng ở nước ra ngành thuỷ
8
Nhãm 2_qu¶n trÞ doanh nghiÖp Má B 52
Tiểu luận_ quản trị chất lợng
sn ỏp dng l ch yu, nhng vic ỏp dng vn cha hon chnh. Cũn cỏc ngnh, cỏc
lnh vc khỏc thỡ cha hiu v nm rừ v HACCP ch cha núi n ỏp dng. S d nh
vy l do cỏc doanh nghip c s ny cha thc s 29chỳ trng ti cht lng sn
phm. Hn na HACCP vn c coi l tiờu chun quý tc vỡ giỏ t vn v chng nhn
quỏ cao (khong 20-30 ngn $). Vỡ vy phỏt trin v hi nhp vi cỏc nc trờn th
gii thỡ chớnh ph cn phi ghiờn cu k lng v cú nhng chớnh sỏch chin lc c th
v GMP, HACCP.
Chơng III
Giải pháp nâng cao chất lợng thực phẩm ở việt
nam trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm một số nớc
trên thế giới
A.Gii phỏp tm v mụ.
Trong bi cnh nn kinh t nc ta hin nay, vai trũ ca nh nc i vi kinh t
núi chung v i vi qun lý cht lng núi riờng l rt quan trong. Vn dng linh hot
kinh nghim ca mt s nc i u v vn qun tr cht lng, nh nc ta ó cú
nhng chin lc, bin phỏp c th vi ngnh cụng nghip thc phm.
1. y mnh hn vic thc hin phỏp lnh v cht lng.
a. Xõy dng v quy nh cỏc tiờu chun bt buc i vi cỏc mt hng húa
chính sách thuế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp làm tốt công tác
đảm bảo chất lượng thực phẩm.
9. Tổ chức các cuộc hội thảo, soạn thảo và phân phối các tài liệu thông tin phục vụ
công chúng về chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm.
B.Giải pháp tầm vi mô (tại các doanh nghiệp)
1. Đổi mới, hoàn thiện, nâng cao trình độ nhận thức về vai trò chất lượng và
quản lý chất lượng.
Thực chất việc làm chất lượng không chỉ có sự đóng góp của một người mà là của
nhiều người trong một công ty. Sản phẩm sản xuất ra là kết quả của một quá trình có
nhiều tác động đặc biệt là con người. Vì vậy, sự nhận thức càng sâu rộng đối với mỗi
người liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm thì càng tốt cho doah nghiệp, nhất là đối
với doanh nghiệp công nghiệp thực phẩm. Vì thực phẩm là sản phẩm phổ biến nhất liên
quan đến hoạt động sống của con ngươì.
Những kiến thức về chất lượng và quản trị chất lượng phải được phổ cập đến các
thành viên trong doanh nghiệp bằng cách như mở lớp ngay trong công ty thuê chuyên gia
giảng dạy, khuyến khích công nhân viên để họ tự trang bị kiến thức.
Thuê chuyên gia chất lượng mở lớp kiểm tra có sự giám sát nghiêm ngặt theo định
kỳ để phân loại trình độ kiến thức chất lượng cho công nhân viên trong đó có hướng đào
tạo và bồi dưỡng thêm.
Phong trào tập thể cũng rất được chú trọng bởi lẽ trong công ty mà có nhiều người
biết về chất lượng họ sẽ hưởng ứng nhiệt tình và lãnh đạo công ty sẽ có điều kiện thuận
lợi hơn về vấn đề áp dụng.
Làm được như vậy thì vấn đề áp dụng hệ thống chất lượng sẽ được triển khai nhanh
chóng và từ đó tạo ra chất lượng hàng hoá thực phẩm thoả mãn nhu cầu của khách hàng
và đó chính là lợi thế của doanh nghiêp.
2. Tăng cường công tác tiêu chuẩn hoá tại cơ sở.
Hoạt động tiêu chuẩn hoá là nền tảng cho hoạt động quản lý chất lượng tốt và là
khâu quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thực phẩm. Chất lượng thực phẩm chịu
ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: nguồn nguyên liệu chế biến, công nghệ chế biến, quá
trình bảo quản, môi trường,quản lý nhà nước, ý thức của doanh nghiệp và người dân Do
mới dần dần. Phần nào cần thiết thì nhanh chóng đổi mới, phần nào chưa cần thiết thì có
thể đổimới từ từ. Tất nhiên nếu đổi mới một cách có hệ thống và mới phù hợp thì việc áp
dụng hệ thống chất lượng sẽ thuận lợi hơn. Doanh nghiệp nên chọn hình phù hợp cho đào
tạo nhân lực. Đào tạo nhân lực không chỉ phục vụ cho yêu cầu trước mắt mà còn cho cả
tương lai, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh doanh cũng như chất lượng của doanh nghiệp.
4. Lựa chọn mô hình quản trị chất lượng phù hợp.
Hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng vấn đề chất lượng thực
phẩm đang được đặt lên hàng đầu. Để giải quyết vấn đề đó nhiều mô hình quản trị chất
lượng đựơc ra đời. Ví dụ như mô hình 5S, 7S, GMP, HACCP,Q_base, ISO 9000, TQM
nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải lựa chọn mô hình sao cho phù hợp với điều kiện của
doanh nghiệp mình.
C. Một số doanh nghiệp điển hình.
1. Công ty cổ phần bánh kẹo cao cấp Hữu Nghị.
Trải qua 10 xây dựng và phát triển công ty đã không ngừng lớn mạnh, mở rộng sản
xuất, kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động. Hiện nay, công ty cổ
phần bánh kẹo cao cấp Hữu Nghị là một trong những công ty hàng đầu Việt Nam chuyên
về sản xuất, kinh doanh các loại Bánh, Mứt, Kẹo. Với chất lượng cao, ổn định, đạt tiêu
chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩ, giá thành hợp lý các sản phẩm mang thương hiệu Hữu
Nghị đã đáp ứng được nhu cầu của đại đa số khách hàng chiếm được thị phần lớn trên thị
trường.
Quy trình sản xuất kinh doanh các loại sản phẩm mang thương hiệu Hữu Nghị đã
áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000 và được tổ
chức DNV& Quacert cấp giấy chứng nhận.
2. Công ty thực phẩm dầu Tường An
Đối với Tường An, mục tiêu quan trọng nhất là không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm, đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng.
11
Nhãm 2_qu¶n trÞ doanh nghiÖp Má B 52
TiÓu luËn_ qu¶n trÞ chÊt lîng