THỰC TRẠNG lạm PHÁT ở VIỆT NAM HIỆN NAY và NHỮNG yếu kém TRONG CÔNG tác điều HÀNH QUẢN lý của CHÍNH PHỦ - Pdf 22

I.LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
1.khái niệm lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theothời gian của mức giá chung của
nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay
giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát
là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông
thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong
phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là
lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh
hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh
tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0
hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.
2.Đo lường lạm phát và các tiêu chí để đo lường lạm phát
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một
lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên
dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động
và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này). Giá cả của các loại hàng hóa và
dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi là mức
giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá
trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương
ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm
mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm
gốc. Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một
quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó.
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ
số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số,
cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các
phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:
• Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả
sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) được giả định một cách xấp xỉ. Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là

bạc.
• Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó
là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP
của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay
GDP thực). . Nó là phép đo mức giá cả được sử dụng rộng rãi nhất. Các phép
khử lạm phát cũng tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêu dùng cá
nhân. Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã chuyển sang sử dụng khử lạm phát tiêu
dùng cá nhân và các phép khử lạm phát khác để tính toán các chính sách kiềm
chế lạm phát của mình.
• Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI). Trong "Báo cáo chính sách tiền
tệ cho Quốc hội" sáu tháng một lần của mình ("Báo cáo Humphrey-Hawkins")
ngày 17 tháng 2 năm 2000, Federal Open Market Committee (FOMC) nói rằng
ủy ban này đã thay đổi thước đo cơ bản về lạm phát của mình từ CPI sang "chỉ
số giá cả dạng chuỗi của các chi phí tiêu dùng cá nhân"
3.phân loại lạm phát theo mức độ
A.Thiểu phát
Tỷ lệ lạm phát ở mức âm dễ bị nhầm với giảm phát
B.Lạm phát thấp
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 3.0 đến 7.0 phần trăm một năm.
C.Lạm phát cao (Lạm phát phi mã)
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá hai chữ số một năm, nhưng vẫn
thấp hơn siêu lạm phát.
D,Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanh
chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát
được chấp nhận phổ quát. Một định nghĩa đơn giản là chỉ số lạm phát hàng
tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi). Theo Tiêu
chuẩn Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là: (1)
người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả hàng hóa
trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; (3)

B.Lạm phát không dự kiến: đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó
phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán. Các hợp đồng, cam
kết tín dụng thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự
kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát
thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại. Lạm
phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó
rất lớn.
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cực
của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là
không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức
vừa phải. Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc
phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do
vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này.
5.nguyên nhân gây lạm phát
Thứ nhất:Lạm phát do cầu kéo
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng
lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS.
Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá
và sản lượng cùng tăng. Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng
cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền
phải tăng lên để đáp ứng. Do đó có lạm phát.
Thứ hai:Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt
hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có
tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng
mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu
tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát.
Thứ ba:Lạm phát do chi phí đẩy
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng.
Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản

thể tác động đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết lập các lãi
suất và thông qua các hoạt động khác (ví dụ: sử dụng các chính sách tiền tệ).
Các lãi suất cao (và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ) là cách thức truyền
thống để các ngân hàng trung ương kiềm chế lạm phát, sử dụng thất nghiệp và
suy giảm sản xuất để hạn chế tăng giá.
Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương xem xét các phương thức kiểm soát lạm
phát rất khác nhau. Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phát một cách
cân xứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó ở mức
cao.
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhấn mạnh việc tăng lãi suất bằng cách
giảm cung tiền thông qua các chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Những
người theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung, thông
thường là thông qua các chính sách tài chính để giảm nhu cầu. Họ cũng lưu ý
đến vai trò của chính sách tiền tệ, cụ thể là đối với lạm phát của các hàng hóa cơ
bản từ các công trình nghiên cứu của Robert Solow. Các nhà kinh tế học trọng
cung chủ trương kiềm chế lạm phát bằng cách ấn định tỷ giá hối đoái giữa tiền
tệ và một số đơn vị tiền tệ tham chiếu ổn định như vàng, hay bằng cách giảm
thuế suất giới hạn trong chế độ tỷ giá thả nổi để khuyến khích tích lũy vốn. Tất
cả các chính sách này đã được thực hiện trong thực tế thông qua các tiến trình
nghiệp vụ thị trường mở.
Một phương pháp khác đã thử là chỉ đơn giản thiết lập lương và kiểm soát giá cả
(xem thêm "Các chính sách thu nhập"). Ví dụ, nó đã được thử tại Mỹ trong
những năm đầu thập niên 1970 (dưới thời tổng thống Nixon). Một trong những
vấn đề chính với việc kiểm soát này là nó được sử dụng vào thời gian mà các
biện pháp kích "cầu" được áp dụng, vì thế các giới hạn phía cung (sự kiểm soát,
sản xuất tiềm năng) đã mâu thuẫn với sự tăng trưởng của "cầu". Nói chung, phần
lớn các nhà kinh tế coi việc kiểm soát giá là phản tác dụng khi nó có xu hướng
làm lệch lạc các hoạt động của nền kinh tế vì nó làm gia tăng thiếu thốn, giảm
chất lượng sản phẩm v.v. Tuy nhiên, cái giá phải trả này có thể là "đáng giá" nếu
nó ngăn chặn được sự đình đốn sản xuất nghiêm trọng, là điều có thể có đắt giá

Qua lạm phát lần này em có một số nhận xét về thực trạng nền kinh tế như sau :
Điều thứ nhất, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu. Bằng
chứng, cùng chịu chung áp lực biến động giá trên thị trường thế giới, nhưng 2
tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng ở các nước trong khu vực tăng không đáng
kể: Thái Lan – 1,7%, Malaysia – 2,2%, Indonesia – 1,8%, Trung Quốc – 2,9%,
trong khi con số này ở ta là – 6,19%.1 Có nghĩa khả năng cạnh tranh của ta kém
xa các nước láng giềng. Cụ thể là ở đâu? Dễ nhận thấy nhất là ở hiệu quả sản
xuất. Trong khi những yếu tố lợi thế như lao động rẻ hay giá năng lượng thấp
vẫn chưa được khai thác triệt để thì các chi phí khác lại quá cao. Nhiều chi phí
cao đến mức phi lý như: chi phí thuê đất, chi phí vận tải, đặc biệt là các chi phí
“bôi trơn”; công nghệ sản xuất thì lạc hậu (đi sau so các nước trong khu vực
khoảng chừng 20-30 năm); cơ sở hạ tầng còn yếu, nền công nghiệp lệ thuộc gần
như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu cộng thêm với năng lực quản lý còn
yếu, quan liêu, tham nhũng (đặc biệt ở các DNNN). Tất cả đã đẩy giá thành các
sản phẩm trong nước lên tới mức trần, có nghĩa là không còn khoảng trống an
toàn để dự phòng về giá. Chính vì vậy, khi một yếu tố sản xuất nào đó thay đổi,
ngay lập tức tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Sản xuất với tình trạng
lúc nào cũng căng dây cót về giá như thế thử hỏi làm gì còn sức để tăng cường
năng lực cạnh tranh.
Điều thứ hai, nền kinh tế Việt Nam không năng động như ta nghĩ. Chỉ nhìn vào
phản ứng của các chủ thể kinh tế cơ bản sẽ thấy ngay. Ngân hàng Nhà nước, cơ
quan chịu trách nhiệm chính trong kiểm soát lạm phát, trước lượng tiền đầu tư
nước ngoài tăng hơn dự kiến (7 tỷ USD trong 6 tháng) đã tỏ ra bối rối. Khi một
quốc gia được các nhà đầu tư “ưu ái” bơm tiền - đó là cơ hội lớn. Nhiệm vụ của
chúng ta là làm thế nào để hấp thụ lượng tiền này, biến nó thành sản phẩm,
thành giá trị gia tăng thúc đẩy kinh tế phát triển, chứ ra sức mua vào để cất thì
còn nói làm gì (?). Các doanh nghiệp cũng vậy, trước áp lực lạm phát, vẫn giữ
một chiêu duy nhất – tăng giá bán, khá hơn một chút là thực hành tiết kiệm. Ít ai
nghĩ đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua tái cấu trúc tổ chức, đầu tư
đổi mới công nghệ hoặc ít ra cải tổ qui trình quản lý. Đã vào chợ WTO rồi mà

được hiệu quả sản xuất và phát triển mạnh mẽ sản xuất phục vụ nhu cầu của thị
trường nội địa. Cần phải nhận thức rõ rằng, trong hoàn cảnh thực tế hiện nay, tỷ
giá hối đoái không ảnh hưởng nhiều đến sức mua của tiền đồng. Cho dù chúng
ta có trả lại cho tiền đồng giá trị thực (đắt hơn giá trị hối đoái hiện nay) thì sức
mua của tiền đồng cũng không hề tăng lên, mà lúc đó, chúng ta sẽ vướng vào ma
trận tỷ giá - lạm phát, như một số nước đang mắc phải. Nga là một ví dụ. Mấy
năm gần đây, đồng Rúp liên tục tăng giá so với USD, nhưng sức mua thực của
đồng tiền này trên thị trường trong nước không hề tăng mà lại liên tục giảm.
Chắc các bạn cũng biết, chính phủ Nga đã vất vả như thế nào để giữ được mức
lạm phát không vượt quá hai con số.
Vậy phải làm gì đây? Thực ra, cách giải bài toán phát triển mà ta đang mắc phải
hiện nay, đã được nhà kinh tế Mỹ Paul Krugman (MIT) đưa ra 13 năm trước.
Năm 1994, rất lâu trước thềm khủng hoảng tài chính 1997, Krugman đã đưa ra
lời cảnh báo về sự thật của các “thần kỳ kinh tế Đông Á”. Ông ta cho rằng, tăng
trưởng kinh tế nhờ “bơm” nguồn vốn đầu tư không mệt mỏi từ bên ngoài mà
không tạo được những bước tiến thực chất trong sản xuất cũng như nâng cao
năng suất sản xuất tổng hợp thì khó có thể mang lại sự thịnh vượng lâu dài.2
(Paul Krugman). Các nước Đông Á lúc đó có nghe điều đó nhưng không mấy để
tâm. Hậu quả thế nào thì ai cũng rõ. Còn chúng ta hôm nay thì sao
Bóng dáng của khủng hoảng là hiện hữu? VN chưa hẳn đã là tăng trưởng nóng,
vì Trung Quốc đã tăng trưởng nóng trên 10% trong một thời gian dài, trong khi
VN mới chỉ ở mức cao trong vài năm gần đây?
Đây là một câu hỏi rất nhạy cảm. Các học giả ĐH Harvard cảnh báo Chính phủ
về 8/10 nguy cơ khủng hoảng đã xuất hiện, nhưng mới ở giác độ khủng hoảng
về tài chính, tiền tệ.
Tăng trưởng nóng của VN khác Trung Quốc, khác thế giới, đó không phải nóng
dựa trên sự tăng trưởng bền vững – khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng trưởng
thực sự và không ảnh hưởng gì tới ngân sách Nhà nước, tới vay nợ, thất thoát.
Tăng trưởng hiện nay của VN dựa trên khu vực kinh tế Nhà nước rất lớn nhưng
hiệu quả không cao – đó là một nguy cơ. Nếu càng dành được nhiều vốn ODA

Trong báo cáo trước Quốc Hội hôm 6/5Thủ tướng nêu rõ: những yếu kém, bất
cập trong quản lý, điều hành của Chính phủ là nguyên nhân chủ quan trực tiếp
khiến những mặt yếu vốn có của nền kinh tế nước ta bộc lộ rõ hơn và tác động
sâu rộng hơn. Cụ thể là:
Thứ nhất:Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm, nhất là trong
năm 2007, làm tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng tăng cao,
gây áp lực trực tiếp đến lạm phát. Nhiều ngân hàng cổ phần đã tăng dư nợ tín
dụng quá cao và sử dụng tỷ lệ lớn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, cho vay kinh
doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản. Điều hành tỷ giá, nhất là tỷ giá
đồng Việt Nam với đô la Mỹ chưa thật linh hoạt, phù hợp.
Thứ hai:Bội chi ngân sách liên tục trong nhiều năm trong khi quy mô nền kinh
tế ngày càng lớn, chưa đặt ra kế hoạch phấn đấu giảm dần bội chi; do đó không
tạo được áp lực đối với việc kiểm soát và tiết kiệm chi tiêu ngân sách. Chi đầu
tư từ khu vực nhà nước còn lớn và hiệu quả thấp. Hệ số ICOR của nước ta cao
hơn so với nhiều nền kinh tế ở thời kỳ phát triển tương đương làm giảm chất
lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ ba:Vai trò của Nhà nước trong quản lý thị trường, quản lý giá cả, quản lý
xuất nhập khẩu còn nhiều bất cập, yếu kém; chậm đề ra các chính sách thích
hợp, có hiệu quả để quản lý và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các hoạt
động này.
Thứ tư:Công tác nghiên cứu dự báo và thông tin thị trường chưa được coi trọng
đúng mức. Năng lực tham mưu tổng hợp về kinh tế vĩ mô chưa đáp ứng kịp yêu
cầu quản lý điều hành. Đến những tháng cuối năm 2007, các đánh giá vẫn nặng
về thời cơ, thuận lợi, chưa phân tích dự báo được hết những khó khăn thách thức
mới, nên Chính phủ vẫn trình Quốc hội thông qua chỉ tiêu tăng trưởng cao trong
năm 2008 (GDP tăng từ 8,5 đến 9%, phấn đấu đạt mức cao hơn) và dự báo tốc
độ tăng giá tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng GDP.
Thứ năm: Công tác thông tin tuyên truyền, giải thích tình hình chưa kịp thời,
chưa đủ rõ và thiếu nhất quán, nhất là trước những diễn biến mới và khi ban
hành các chính sách, giải pháp có tính nhạy cảm, gây xao động, lo lắng trong xã

trong tình hình lãng phí nhiên liệu trong sản xuất ở Việt Nam còn rất cao, phụ
thuộc mạnh vào nhiên liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ, chưa có các nguồn nhiên
liệu thay thế như năng lượng mặt trời, sức gió, năng lượng thuỷ triều, năng
lượng hạt nhân,… thì việc giá dầu tăng nhanh sẽ bắt đầu cho cơn bão giá cả, tạo
điều kiện cho lạm phát theo quán tính. Về lâu về dài có thể triệt tiêu khả năng
tăng trưởng kinh tế.
Giá dầu thế giới đã tăng cao trong năm 2007, và đầu năm 2008 đạt hết kỷ lục
này đến kỷ lục khác, theo ghi nhận kỉ lục mới nhất mà em có là 128USD/thùng
vào 16/05/2008, mức mà chưa có dự báo nào trong năm 2007 đưa ra.
Không riêng gì giá dầu ,giá sắt thép tăng 21,4 (riêng phôi thép tăng 42,4%), đã
làm tăng 259 triệu USD; giá phân bón tăng 71,3%, đã làm tăng 88 triệu USD;
giá chất dẻo tăng 12,6%, đã làm tăng 54 triệu USD; giá sợi dệt tăng 14,2%, đã
làm tăng 16 triệu USD; giá lúa mì tăng 55,5%, đã làm tăng 12 triệu USD; giá
bông tăng 16,4%, đã làm tăng 10 triệu USD; giá giấy tăng 5,2%, đã làm tăng 6
triệu USD. Chỉ với những mặt hàng trên, do giá tăng đã làm kim ngạch nhập
khẩu tăng gần 1 tỉ USD trong 2 tháng, chiếm gần một phần tư tổng kim ngạch
nhập khẩu của các mặt hàng này. Trong khi đó, nhiều mặt hàng xuất khẩu của
Việt Nam lại mang tính gia công rất cao, như dệt may, giày dép có đến 80%
nguyên liệu phải nhập khẩu.
Đây chắc chắn là một trong những nguyên nhân gây ra tăng giá CPI cao ở Việt
Nam trong suốt thời gian vừa qua.
Thế nhưng, nếu nói đó là lạm phát, thì cách chữa trị lạm phát lại không phải là
bằng các biện pháp tiền tệ, vì vấn đề là cung giảm, giá cả nguồn nhập khẩu tăng.
Bởi vậy, nếu chữa trị bằng các chính sách tiền tệ thì giống như bốc thuốc sai
bệnh. Thêm một cách lập luận nữa là, nếu giá lương thực – thực phẩm và giá
dầu lửa thế giới là nguyên nhân chính, thì các nước trong khu vực như Thái Lan
và Trung Quốc cũng phải chịu sức ép tăng giá tương tự. Tuy nhiên, trong khi tỷ
lệ lạm phát của Việt Nam năm 2007 lên tới 2 chữ số, thì Trung Quốc chỉ chịu
lạm phát ở mức 6,5% và Thái Lan 2,9%. Đầu năm 2008, lạm phát Trung Quốc
có nhích lên, nhưng chưa đến con số như Việt Nam, hơn nữa vẫn còn thấp xa so

giá cao trên thị trường thế giới đã được khai thông theo nguyên lý bình thông
nhau do độ mở của nền kinh tế, kết quả là mặt bằng giá của thị trường nội địa đã
bị đẩy lên cao mang tính hệ thống để xích lại gần với giá cả hàng hoá trên thị
trường thế giới. Chưa hết, chính sách kiềm chế tăng giá của chính phủ trong một
thời gian dài bất ngờ bị hụt hơi. Giá của nhiều loại hàng hoá rơi vào trạng thái
gần như tăng tự do. Kết cục, giá cả tăng mạnh, lạm phát nhất thiết tăng cao.
Thứ ba, giá cổ phiếu giảm mạnh vốn là bài toán không xa lạ đối với các nhà đầu
cơ. Họ chờ thời điểm chạm đáy và không vội vàng mua vào, một mặt do sự liên
kết giữa họ. Mặt khác, họ kỳ vọng các phản ứng của Chính phủ, chẳng hạn như
đổ tiền vào TTCK tạo nên sự kích hoạt tăng giá. Hậu quả đương nhiên là lạm
phát gia tăng.
Thứ tư, tạo nên tình trạng khó có khả năng kiểm soát. Sự tồn tại lâu dài của đầu
cơ và lũng đoạn trên TTCK và thị trường bất động sản đã bao hàm trong nó cơ
sở của tình trạng phân bổ vốn đầu tư vào lĩnh vực có nhiều rủi ro mà rất khó
kiểm soát đương nhiên tự nó sẽ sản sinh ra lạm phát.
Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng
Sự yếu kém của hệ thống này thể hiện trên hai điểm chủ yếu: Nếu như trước đây
hệ thống này có chức năng chủ yếu là cho các xí ngiệp quốc doanh vay tiền,
nghiã là nguồn vốn chủ yếu của quốc gia được tập trung đầu tư vào lĩnh vực
không có, hoặc ít có khả năng sinh lời, thì từ khi đổi mới đến nay, nó đã thực
hiện một bước chuyển theo chiều ngược lại, chủ yếu tập trung cho vay ở lĩnh
vực có khả năng sinh lợi cao nhất của nền kinh tế, cụ thể là tập trung cho vay
mua cổ phiếu và bất động sản. Vì rằng mua cổ phiếu và bất động sản chủ yếu là
nhằm mục tiêu đầu cơ, thành thử trên thực tế, hệ thống ngân hàng trở thành một
bộ phận hay chỗ dựa của các hoạt động đầu cơ và lũng đoạn thị trường. Điều
này hàm ý rằng, trong trường hợp giá cổ phiếu sụt giảm mạnh như hiện nay và
thị trường bất động sản khó tránh khỏi khủng hoảng trong thời gian tới, ngân
hàng đã và sẽ mất khả năng thanh toán, tạo ra tình trạng hoảng loạn, người gửi ồ
ạt rút tiền để chuyển sang các hình thức dự trũ khác ít rủi ro hơn, như vàng hay
những hàng hoá có khả năng đảm bảo khác làm cho thị trường tài chính rối loạn.

hoạt động đầu cơ của các ngân hàng chuyên doanh. Với một hệ thống ngân hàng
như vậy, lạm phát chỉ là vấn đề thời gian ngay cả trong trường hợp giá nguyên
liệu thế giới cũng như giá lương thực thực phẩm không tăng. Nói khác đi, lạm
phát nhất định sẽ xảy ra mà không phụ thuộc vào tăng giá lương thực, thực
phẩm cũng như tăng giá nguyên liệu trên thị trường thế giới ở mức độ nào.
Thứ năm:Lạm phát do chính sách tiền tệ
Lạm phát có được bước nhảy vọt ngoặt mục như thế phần lớn từ chính sách
thiếu đồng bộ giữa ngân hàng và bộ tài chính.
Vấn đề nhảy vọt có nguyên nhân khá rõ ràng. Ngân hàng (NH) phải mua vào số
lượng lớn ngoại tệ (đầu tư trực tiếp và đặc biệt là đầu tư vào TTCK.Thời báo
Kinh tế Sàigòn (số 10/2008) đã đưa thông tin rất quan trọng cho biết, Ngân hàng
Nhà nước (NHNN) nửa đầu năm 2007 đã tung ra 105 ngàn tỉ đồng để mua vào
6,5 tỉ USD làm dự trữ ngoại tệ, sau đó lại tung thêm 40 ngàn tỉ đồng để mua
thêm 2,5 tỉ USD . Như vậy tổng số tiền tung ra mua 9 tỉ USD ngoại tệ là 145
ngàn tỉ đồng.
Số tiền mà NHNN rút về được là 90 ngàn tỉ, như vậy số tiền in thêm cho thị
trường là 55 ngàn tỉ đồng chỉ để mua ngoại tệ. So với tổng số tiền mặt có trên thị
trường cuối năm 2006 là 159 ngàn tỉ đồng thì tiền mặt đã tăng 34,6% để mua
ngoại tệ. Nhiều vấn đề không rõ ràng vì NHNN chưa bao giờ minh bạch thống
kê ngân hàng, tức là chỉ cho thông tin chọn lọc ở mức độ đủ để giải thích theo ý
kiến của chính NHNN như ở trên
Khác biệt rõ rệt nhất giữa Việt Nam với các quốc gia có lạm phát thấp hơn, như
Trung Quốc và Thái Lan, đó là tốc độ tăng cung tiền. Tính tới cuối tháng 6 năm
2007, lượng tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng ở Việt Nam đã tăng
tới 21,1% so với đầu năm. Con số tương ứng của Trung Quốc và Thái Lan lần
lượt là 10,0% và 1,4%.
Muốn tăng trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi phải thúc đẩy đầu tư
mạnh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều, như vậy lượng tiền đưa vào lưu
thông cũng phải tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, khi chênh lệch giữa mức tăng
cung tiền và tăng tổng sản phẩm quốc gia (GDP) trở nên quá lớn thì áp lực lạm

nhanh
Thứ sáu:Lạm phát do tỉ giá hối đoái VND
1. Neo tỷ giá cứng nhắc với USD dẫn đến cung tiền tăng mạnh
Kinh tế Việt Nam trẻ, được đánh giá có nhiều tiềm năng và triển vọng về cơ hội
đầu tư do vậy sau khi gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam tăng đột biến (chỉ tính riêng năm 2007 đã tới 20 tỉ USD). Về nguyên tắc
khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng, Việt Nam Đồng (VNĐ) sẽ
lên giá để tạo ra điểm cân bằng. Tuy nhiên, với chiến lược phát triển dựa vào
xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VNĐ mua lại lượng ngoại tệ này với
mục đích kìm tỉ giá của VNĐ với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân
bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ VNĐ
yếu có thể coi là một hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu và phát huy ở trong
những điều kiện kinh tế thế giới nhất định. Tuy nhiên, mặt trái thứ nhất của
chính sách này là do phải tung VNĐ ra mua lại lượng ngoại tệ chảy vào, lượng
cung tiền của Việt Nam từ năm 2005 đến nay tăng tổng cộng 135%. Đây là mức
tăng rất lớn mặc dù NHNN đã có nỗ lực hút lại một phần cung tiền.
2. Neo tỷ giá với USD đang mất giá mạnh trên toàn cầu khiến chi phí cho sản
xuất trong nước tăng
Cũng trong vài năm gần đây, do thâm hụt thương mại khổng lồ đồng USD của
Mỹ đã mất giá so với những đồng ngoại tệ mạnh khác. Cộng thêm vào đó, cuộc
khủng hoảng tín dụng nhà đất tại Mỹ vào cuối năm 2007 khiến nền kinh tế này
bước vào giai đoạn suy thoái, đẩy đồng USD mất giá nhiều hơn nữa, giá xăng
dầu tính theo đồng USD tăng mạnh. Hình 1 cho thấy chỉ tính từ năm 2006 đến
nay đồng USD đã mất giá trung bình khoảng 15% so với các đồng ngoại tệ
mạnh khác như Euro, Yên Nhật, Bảng Anh, và đồng Nhân dân tệ Trung Quốc.
Hình 1: Tăng giá của các ngoại tệ mạnh so với USD từ năm 2006. Nguồn:
Datastream
Tuy nhiên tỷ giá của VND trong thời gian này hầu như không biến đổi so với
USD (tính đến cuối tháng 2/2008 chỉ tăng 0.24% so với 2006). Do đó qua việc
neo tỉ giá, VNĐ cũng giảm trung bình 15% so với các ngoại tệ mạnh khác.

Chính phủ có thể hồi phục sự ổn định tương đối nhanh chóng bằng kiểm soát chi
tiêu công và tiền vay của doanh nghiệp nhà nước. Tin xấu là việc này, dù đơn
giản, nhưng rất khó để thực hiện thành công do các rào cản trong cơ quan nhà
nước.
Vào đầu những năm 90, lo lắng vì hoạt động kém hiệu quả của các công ty nhà
nước khiến chính phủ quyết định thành lập các tổng công ty và tập đoàn kinh tế,
theo hình mẫu keiretsu của Nhật và chaebol của Hàn Quốc. Ý định ban đầu là
quy mô lớn sẽ giúp các công ty cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Nhưng thay vào đó, các công ty này lại tập trung vào xây dựng quyền lực ở thị
trường nội địa trong các lĩnh vực nhiều lợi nhuận như bất động sản, dịch vụ tài
chính, viễn thông và du lịch.
Một số ít công ty xuất khẩu lại sử dụng quan hệ để được chính phủ bảo lãnh các
khoản vay, dùng để mở rộng vào những lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính.
Vinashin nhận tiền từ trái phiếu Chính phủ VN phát hành lần đầu tiên năm 2006
và nhận 1 tỉ đô la tiền vay từ Ngân hàng Thuỵ Sỹ. Gần đây Vinashin vay 2 tỉ đô
la trái phiếu từ Ngân hàng Đức trong dịp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm
chính thức Đức. Vinatext cũng vay 500 triệu đô la trong dịp này.
phủ có nhiều dấu hiệu mất kiên nhẫn với các tập đoàn. Trong một cuộc gặp gần
đây với lãnh đạo các tập đoàn để bàn về chống lạm phát, Thủ tướng nói mặc dù
các tập đoàn kinh tế chiếm 60% nợ ở các ngân hàng thương mại và 70% vốn vay
nước ngoài, họ chỉ tạo ra 40% tổng sản phẩm quốc nội GDP.
Vào tháng 4, Thủ tướng yêu cầu các tổng công ty và tập đoàn kinh tế phải đầu tư
ít nhất 70% vốn vào ngành kinh doanh chính. Nhưng phản ứng của các tập đoàn
kinh tế cho thấy đưa họ vào vòng kỷ luật không dễ.
Chủ tịch PetroViệt nam Đinh La Thăng cho rằng đây là biện pháp sốc và nói,
“Nếu các tập đoàn, DNNN kinh doanh các lĩnh vực ngoài ngành có chiếm đến
40% hay 50% nhưng lợi nhuận họ thu được tốt thì không thể bắt họ rút về, có
thể gây đổ vỡ doanh nghiệp”
Thứ tám:Lạm phát do quán tính
Điều này thể hiện đơn gian trong đợt sốt giá gạo ảo vừa qua do tâm lý dân chúng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status