________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
Đề tài
MỘT VÀI KINH NGHIỆM ĐỂ GIỜ DẠY LUYỆN TỪ VÀ
CÂU “KIỂU BÀI LÍ THUYẾT VỀ TỪ” Ở LỚP 5 ĐẠT
HIỆU QUẢ CAO
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Luyện từ và câu là một phân môn của môn Tiếng Việt. Đây là phân môn
cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt
câu ( nói, viết), kĩ năng đọc cho học sinh, góp phần không nhỏ trong việc thực hiện
đạt mục tiêu của môn Tiếng Việt. Ngôn ngữ của chúng ta là ngôn ngữ của từ. Từ có
vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn từ, là đơn vị trung tâm của ngôn
ngữ, dùng để tạo nên câu. Con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là
công cụ, là hiện thực của tư duy. Bởi lẽ đó, tư duy và ngôn ngữ có quan hệ mật
thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc,
trôi chảy còn nếu trau dồi ngôn ngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư
duy phát triển tốt. Chính vì vậy mà môn Luyện từ và câu có vị trí rất quan trọng, nó
được dạy tách riêng thành một phân môn độc lập, mỗi tuần dạy 2 tiết. Không
những thế, trong các phân môn khác của môn Tiếng Việt như chính tả, Tập đọc,
Tập làm văn, Kể chuyện các em cũng được cung cấp thêm vốn từ mới. Nếu như
chúng ta không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như một phương
tiện giao tiếp. Việc học Luyện từ và câu ở trường Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói
riêng sẽ giúp học sinh tiếp thu bài tốt ở tất cả các môn học.
Tuy nhiên, để giúp học sinh học môn này có hiệu quả thì giáo viên cần nắm
vững nội dung bài dạy, và phải có những phương pháp thích hợp với từng bài.
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
1
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
+ Từ có cấu tạo chặt chẽ tức là không thể chia cắt mà không ảnh hưởng đến
nghĩa.
“Từ” là một thực thể tồn tại hiển nhiên. Bằng trực cảm, người bản ngữ nào
cũng có thể ý thức được sự tồn tại của từ. Trong một chuỗi lời nói, cụ thể là trong
một câu văn, câu thơ, ta có thể nhận diện” được từ. Ví dụ trong mấy câu thơ dưới
đây trích trong bài “Thư trung thu” của Bác Hồ:
“ Ai yêu các nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh
Tính các cháu ngoan ngoãn
Mặt các cháu xinh xinh
Mong các cháu cố gắng…”
Ta có thể nhận diện các từ trong từng câu thơ như sau:
Câu 1: Ai yêu các nhi đồng (4 từ)
Câu 2: Bằng Bác Hồ Chí Minh ( 3 từ)
Câu 3: Tính các cháu ngoan ngoãn ( 4 từ)
Câu 4: Mặt các cháu xinh xinh ( 4 từ)
Câu 5: Mong các cháu cố gắng ( 4 từ)
Mọi người đều thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của từ, nhưng từ đó xây dựng
một định nghĩa về từ sao cho thích hợp, thỏa đáng thì ngay cả nhà chuyên môn
cũng cảm thấy nan giải. Dưới đây là một định nghĩa về “ từ” của Tiếng Việt:
“ Từ của Tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả
ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo
câu” ( Trích Đỗ Hữu Châu, Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt ( in lần thứ 2), NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, H.1996, tr 16)
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
4
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
công việc, cuộc sống của bản thân …bức thư viết ra đó cũng là ngôn bản ( ngôn
bản viết) hay còn gọi là văn bản.
Lấy những ngôn bản, văn bản cụ thể làm đối tượng nghiên cứu, các nhà ngôn
ngữ học bằng con đường khái quát hóa, trừu tượng hóa tách dần ra được một loạt
đơn vị được xếp thành một hệ thống từ cao đến thấp bao gồm câu, ngữ, từ, tiếng
(hình vị), âm và nghĩa. Sau đó người ta lại khảo sát, miêu tả, phân loại… từng loại
đơn vị một, đi đến những tri thức cấu tạo nên ngôn ngữ nói chung. Những tri thức
này là tri thức lí thuyết.
Tri thức lí thuyết có tính chất trừu tượng, tức là không cụ thể, không hiển
hiện, không cảm nhận được, mà được suy nghĩ, nhận ra, tách ra từ những biểu hiện
cụ thể tương ứng. Ta có một số từ cụ thể như học sinh ( chỉ người đi học), thầy giáo
( chỉ người làm nghề dạy học), bác sĩ ( chỉ người thầy thuốc tốt nghiệp đại học y
khoa ) … Sở dĩ gọi là từ cụ thể vì ta có thể thấy rõ từng từ một có hình thức âm –
chữ như thế nào, có nghĩa gì …
Tri thức lí thuyết là trừu tượng hóa, khái quát, cho nên khó học, khó dạy. Đối
với các em học sinh ở Tiểu học, khi trình độ tư duy trừu tượng chưa phải đã phát
triển, dạy lí thuyết lại càng khó.
Như đã phân tích ở trên, muốn có được tri thức lí thuyết phải dựa trên việc
xem xét những yếu tố cụ thể. Do đó, dạy lí thuyết về từ chúng ta cần hướng dẫn các
em xem xét kĩ các ví dụ cụ thể, giúp các em dần dần từ cái cụ thể của nhiều yếu tố
riêng lẻ rút ra được cái trừu tượng, khái quát.
Dạy lí thuyết về từ ở Tiểu học cũng như ở các cấp học khác, sẽ có tác dụng
soi sang, hỗ trợ đối với việc dạy thực hành từ ngữ. Mặt khác, dạy lí thuyết về từ là
một hình thức giáo dục để phát triển tư duy, trí tuệ cho các em mà người giáo viên
nghĩa nhưng học sinh vẫn lúng túng, nhầm lẫn khi làm các bài tập phân biệt các từ
đồng âm, từ nhiều nghĩa trong câu văn ( Bài tập 1, sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập
1 trang 82)
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
6
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
Bài 1: Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ
nào là từ nhiều nghĩa ?
a. Chín
- Lúa ngoài đồng đã chín rộ.
- Tổ em có chín học sinh.
- Nghĩ cho chín rồi hãy nói.
b. Đường
- Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt.
- Các chú công nhân đang chữa đường dây điện thoại.
- Ngoài đường, mọi người đã đi lại nhộn nhịp.
c. Vạt
- Những vạt nương màu mật
Lúa chín ngập lòng thung
Nguyễn Đình Ảnh
- Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre.
- Những người Giáy, người Dao
Đi tìm măng hái nấm
Vạt áo chàm thấp thoáng
Nhuộm xanh cả ráng chiều
Nguyễn Đình Ảnh
Ngoài ra, với dạng bài tập sau học sinh cũng lúng túng và làm bài sai nhiều:
du lịch đang đi bỗng ngừng lại.) mặc dù giáo viên đã hướng dẫn kĩ. Còn với bài
tập 3 thì các em mắc lỗi sai là đặt hai câu với mỗi từ ( cao, nặng, ngọt) có cùng
một nghĩa. Ví dụ: Bé An mới 4 tuổi mà đã cao gần bằng em.
Bạn Nga cao hơn Lan một cái đầu.
II. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH LỚP
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
8
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
Năm học 2013 – 2014 tôi được phân công giảng dạy lớp 5/3. Sĩ số học sinh
trong lớp gồm 27 em trong đó có 12 học sinh nữ. Với tình hình lớp như trên tôi đã
có những thuận lợi và khó khăn như sau:
1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, phòng học, bàn ghế đầy
đủ đáp ứng tốt cho công tác giảng dạy.
- Trong phòng học có hệ thống đèn chiếu sáng và quạt đầy đủ để sử dụng.
- Là lớp học 2 buổi / ngày, sĩ số học sinh trong lớp vừa phải, không đông
lắm.
- Một số học sinh có ý thức và chấp hành tốt nội quy của trường lớp, luôn
hăng hái tham gia các hoạt động học tập khi được phân công.
2. Khó khăn:
- Các em ít thời gian học bài, do phải phụ giúp gia đình làm việc.
- Ít được sự quan tâm của phụ huynh học sinh mà giao phó cho nhà trường.
- Các em không thích học môn Luyện từ và câu vì vốn từ chưa phong phú.
Trước tình hình lớp như trên, khi dạy các tiết Luyện từ và câu tôi đã gặp
không ít khó khăn, đặc biệt là các tiết dạy lí thuyết về từ.
III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Nghiên cứu để nắm vững nội dung chương trình phân môn Luyện từ
tích ở trên kiểu bài dạy lý thuyết về từ có cấu trúc ba phần: Nhận xét, ghi nhớ và
Luyện tập. Kiểu bài này hướng dẫn học sinh làm quen với một số khái niệm ( thuật
ngữ) lí thuyết về từ như : từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa. Không phải bằng cách dẫn ra các khái niệm khô khan mang tính trừu tượng
khó hiểu ngay từ đầu bài học mà dẫn dắt học sinh đi từ phân tích các hiện tượng
ngôn ngữ sinh động ( được thể hiện trong ngữ liệu là các đoạn văn, đoạn thơ, câu
văn cụ thể đến các khái niệm có tính chất lí thuyết được trình bày ở phần ghi nhớ.
Quy trình dạy khái niệm khoa học theo hướng “ từ trực quan sinh động đến tư duy
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
10
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
trừu tượng” này giúp học sinh sinh bớt được phần nào cảm giác khô khan, nặng nề
khi học các bài lí thuyết về từ nói ở trên.
Tóm lại: Việc nghiên cứu và nắm vững nội dung chương trình phân môn
Luyện từ và câu lớp 5 sẽ giúp giáo viên thuận lợi và chủ động trong việc thiết kế
bài giảng, dự kiến các hoạt động, đặt các câu hỏi để dẫn dắt học sinh tìm ra khái
niệm cũng như luyện tập làm các bài tập trong từng tiết học đạt kết quả tốt hơn.
2. Một vài kinh nghiệm áp dụng để dạy học sinh trong các tiết Luyện từ
và câu “kiểu bài lí thuyết về từ”.
2.1. Tạo hứng thú trong giờ học cho học sinh.
Như chúng ta đã biết, trong cuộc sống làm việc gì cũng vậy, phải có lòng đam
mê, hứng thú thì mới đạt kết quả cao trong công việc. Đối với sự phát triển nhân
cách và hình thành tri thực ở học sinh, hứng thú học tập có ý nghĩa rất qua trọng.
Nhà giáo dục học nổi tiếng của nước Nga K.Đ.U-sin-xki đã nói : “Việc học tập
không hứng thú và chỉ do sức mạnh cưỡng bức sẽ giết chết ham muốn nắm tri thức
của học sinh”. Trong thực tế, học sinh lớp tôi có nhiều em say mê, chăm chỉ học tập
nhưng cũng còn một số em chưa có thái độ học tập đúng đắn, còn lơ là và chán học
nhàng, tự nhiên. Chính vì vậy, qua giảng dạy thực tế, tôi đã rút ra một số kinh
nghiệm từ các tiết dạy Luyện từ và câu có hiệu quả cao như sau:
a. Cách giới thiệu vào bài mới:
Nhiều giáo viên cho rằng : việc giới thiệu vào bài mới chỉ là việc làm có tính
chất hình thức, màu mè và chỉ chuẩn bị khi có tiết thao giảng, giảng mẫu hoặc dự
thi giáo viên dạy giỏi. Ngược lại, với tôi bước này rất qua trọng vì vốn dĩ các bài
học có tính khô khan, bắt buộc. Nếu học sinh có tâm lí “ ngán, sợ” các em khó tiếp
thu bài hơn là khi tạo được một tâm lí tốt trong giờ học cuốn hút các em chú ý vào
tiết học ngay từ những phút đầu tiên tạo tâm thế thoải mái, và hứng thú học tập của
các em được duy trì qua từng hoạt động của giờ học. Trong các giờ học Luyện từ
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
12
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
và câu kiểu bài Lí thuyết về từ tôi dùng cách mở bài đơn giản: dùng các đồ dùng
trực quan như tranh, ảnh, vật thật, để giới thiệu vào bài mới.
Ví dụ 1: Bài “ Từ đồng nghĩa” tôi dùng một quả cam và hỏi : “ Trên tay cô
cầm gì ?” Học sinh trả lời “ Thưa cô, tay cô cầm quả cam”, tôi tiếp lời học sinh “
ngoài gọi bằng quả cam còn có cách gọi khác là gì ?, học sinh trả lời ngay : “ Thưa
cô, gọi bằng trái cam”. Vậy từ quả (cam) – trái (cam) thuộc loại từ gì ? cô cùng
các em tìm hiểu qua bài “ Từ đồng nghĩa”
Ví dụ 2: Bài “Từ trái nghĩa” tôi cho học sinh quan sát hai sợi dây dù một sợi
dài 1m, còn sợi kia chỉ dài 10cm, tôi chỉ vào từng sợi dây và hỏi : “ So sánh hai sợi
dây dù em thấy thế nào?, học sinh trả lời “ Một sợi dài, một sợi ngắn”. Tôi nêu và
viết bảng, vậy từ dài – ngắn thuộc từ loại gì ? Chúng ta cùng học bài “ Từ trái
nghĩa”.
Ví dụ 3: Với bài “ Từ đồng âm” tôi cho học sinh quan sát ảnh minh họa rồi
tìm từ điền vào chỗ chấm trong câu cho sẵn sau :
học và giúp học sinh vận dụng khi làm bài tập phần luyện tập.
Phần 3 là bảng “động” ghi ví dụ học sinh nêu thêm hoặc các bài tập để học
sinh làm, phần này ta luôn xóa được.
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
14
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
Tóm lại, với cách trình bày bảng như trên, học sinh có được cái nhìn bao
quát về toàn bộ kiến thức trong từng tiết dạy, điều đó giúp các em khắc sâu kiến
thức và thuận tiện cho việc làm bài luyện tập.
c. Lựa chọn và sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
phù hợp cho từng bài dạy, kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế bài
giảng trên phần mềm Powerpoint.
Việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong một tiết học
có tầm qua trọng đặc biệt, nó ảnh hưởng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệu
quả của giờ học. Với mỗi bài dạy, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ nội dung, ý đồ
sách giáo khoa, xác định rõ việc chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tối
ưu nhất ở từng vấn đề, từng hoạt động của từng bài dạy để có thể sử dụng linh hoạt,
mềm dẻo, phù hợp và tiết kiệm thời gian, công sức chuẩn bị mà học sinh tiếp thu
kiến thức tốt nhất. Không nhất thiết phải cầu kì ở các khâu làm cho tiết học nặng nề
cho cả giáo viên và học sinh mà cần làm cho các em chủ động trong việc tiếp thu
kiến thức.
Tùy từng nội dung bài dạy mà giáo viên lựa chọn, vận dụng các phương
pháp, hình thức tổ chức dạy học mới có tính tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh như: thảo luận nhóm, sắm vai, trò chơi, giải ô chữ,
Thiết kế bài giảng trên phần mềm powerpoint cũng góp phần giúp cho giờ
học Luyện từ và câu sôi nổi hơn, vì trong các slide trình chiếu, ngoài các kiến thức
cần cung cấp giáo viên có thể sư tầm tranh, ảnh minh họa cho tiết dạy hoặc thiết kế
Bài 2: Tôi cho học sinh trao đổi nhóm đôi thay thế vị trí các từ đồng nghĩa
trong từng đoạn văn cho nhau và nêu nhận xét :
Xây dựng và kiến thiết có thể thay thế cho nhau được vì nghĩa của các từ ấy
giống nhau hoàn toàn.
Vàng xuộm, vàng hoe , vàng lịm không thể thay thế cho nhau được vì nghĩa
của chúng không giống nhau hoàn toàn.
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
16
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
Sau khi học sinh trả lời xong, tôi hướng dẫn các em rút ra kết luận chung:
Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn, có thể thay thế cho nhau trong lời
nói. Và gợi ý cho học sinh nêu các ví dụ về từ đồng nghĩa hoàn toàn để các em hiểu
bài kĩ hơn như: bát – chén; xe lửa – tàu hỏa; máy bay – tàu bay; quả - trái, lợn –
heo,
Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn. Khi dùng những từ này ta
phải cân nhắc để lựa chọn cho đúng. Và gợi ý để học sinh nêu thêm các ví dụ
ngoài sách giáo khoa để các em hiểu bài kĩ hơn như: chết, hi sinh, từ trần, bỏ mạng
( biểu thị thái độ, tình cảm khác nhau đối với người được nói đến) hay cho, tặng,
biếu ( biểu thị thái độ khác nhau đối với từng người được nhận quà)
Đến phần luyện tập ở bài tập 2 tôi tổ chức cho các em làm phiếu bài tập như
sau:
Gạch bỏ từ không thuộc nhóm từ đồng nghĩa :
a. xinh, xinh đẹp, mĩ lệ, đẹp, xinh tươi, tốt đẹp, đẹp tươi. ( từ gạch bỏ: tốt
đẹp)
b. to lớn, to tướng, khổng lồ, rộng rãi, vĩ đại, to, lớn. (từ gạch bỏ: rộng rãi)
c. học tập, học hành, học, học hỏi, sáng tạo. (từ gạch bỏ: sáng tạo)
Cuối tiết học, để củng cố lại kiến thức cho các em, tôi tổ chức trò chơi “ Tìm
Ví dụ 2: Dạy bài “Từ đồng âm” tôi thiết kế bài giảng trên powerpoint và thực
hiện như sau:
Ở phần nhận xét, tôi yêu cầu các em trao đổi nhóm đôi để chọn dòng nêu
đúng nghĩa từ câu.
Câu (cá): Bắt cá, tôm bằng móc sắt nhỏ ( thường có mồi) buộc ở đầu một
sợi dây.
Câu (văn): Đơn vị của lời nói diễn đạt một ý trọn vẹn, trên văn bản được mở
đầu bằng một chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một dấu ngắt câu.
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
19
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
Hỏi: hai từ câu trên phát âm như thế nào ? ( hoàn toàn giống nhau). Nghĩa có
giống nhau không ? ( nghĩa khác hẳn nhau) và tôi giới thiệu: Những từ giống nhau
về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa là những từ đồng âm.
Sau đó tôi hướng dẫn các em rút ra phần ghi nhớ.
Phần luyện tập:
Bài tập 1: Phân biệt nghĩa của những từ đồng âm trong các cụm từ :
a) Cánh đồng – tượng đồng – một nghìn đồng
b) Hòn đá – đá bóng
c) Ba và má – ba tuổi
Yêu cầu của bài tập này là các em phải nêu nghĩa của các từ đồng, đá, ba
trong các từ đã cho. Nếu để học sinh làm việc cá nhân các em sẽ lúng túng, và mất
nhiều thời gian nên tôi tổ chức cho các em thảo luận nhóm 4, dùng các trang từ
điển được chuẩn bị để nêu nghĩa của các từ đồng, đá, ba trong từng cụm từ nêu
trên. Học sinh báo cáo xong, tôi kết hợp cho học sinh quan sát một số tranh, ảnh,
vật thật ( tờ 1000 đồng), hành động cụ thể ( đá nhẹ quả bóng) minh họa cho các từ
trên.
Ở bài dạy trên, tôi đã sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, đàm thoại gợi
mở và phương pháp quan sát để các em tham gia vào hoạt động học tập. Cả lớp đều
tích cực hoạt động, tham gia phát biểu ý kiến và làm các bài tập được giao. Được
quan sát tranh, ảnh các em cũng hiểu rõ hơn các nghĩa của từ đồng âm được nhắc
tới trong bài học.
Ví dụ 3: Dạy các bài tập đặt câu để phân biệt nghĩa của từ nhiều nghĩa ( trong
các tiết Luyện tập về từ nhiều nghĩa)
Với các bài tập mà học sinh khó thực hiện như Bài 4 Sách giáo khoa Tiếng
Việt trang 74, để giúp các em hiểu đúng nghĩa và dùng đúng từ yêu cầu đặt câu của
đề bài, tôi mời học sinh lên thực hiện hành động như: đi ra cửa lớp; đi (xỏ) bao tay
vào tay; đứng thẳng trên bục giảng; cái đồng hồ kim đứng, không chuyển động. Để
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
22
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
câu văn học sinh đặt được phong phú, tôi gợi ý các em nêu thêm những ví dụ về
các đồ vật khác.
Ví dụ 4: Dạy bài tập phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa có sẵn trong các
câu văn cho trước ( Bài 1, sách Tiếng Việt 5 tập 1 trang 82). Để giúp các em dễ
dàng phân biệt những từ nào là từ đồng âm, những từ nào là từ nhiều nghĩa, giáo
viên cho học sinh nêu nghĩa trước sau đó mới trả lời câu hỏi của bài tập.
a. Chín
- Lúa ngoài đồng đã chín rộ. ( chín : hạt lúa phát triển đến mức thu hoạch được).
- Tổ em có chín học sinh. ( chín : số tiếp theo số 8)
- Nghĩ cho chín rồi hãy nói. (chín: suy nghĩ kĩ càng)
Từ đó, học sinh sẽ nêu được từ “ chín” ở câu 1 và câu 3 là từ nhiều nghĩa, và
đồng âm với từ “chín” ở câu 2.
b. Đường
học sinh. Do đó, với mỗi bài dạy, giáo viên cần nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung
bài và ý đồ sách giáo khoa để thiết kế bài giảng cho phù hợp. Với các tiết dạy lí
thuyết về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa thì tổ chức thảo luận nhóm,
trò chơi tiếp sức, tiết học sẽ sinh động; tuy nhiên với các tiết Luyện tập về từ
đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa thì nên coi trọng hoạt động cá nhân để các
em luyện tập, thực hành.
Ví dụ 1: dạy bài “Từ nhiều nghĩa”, sau khi học sinh tìm hiểu bài và làm bài
tập 1 xong, đến bài tập 2, tôi tổ chức cho các nhóm thi tìm từ nhanh bằng cách ghi
các từ tìm được vào bảng phụ trong thời gian quy định. Hết thời gian, nhóm nào
tìm được nhiều từ và đúng là nhóm thắng cuộc.
Giáo viên tổng kết trò chơi và chốt lại các nhóm từ:
Lưỡi: lưỡi liềm, lưỡi hái, lưỡi dao, lưỡi cày, lưỡi rìu, lưỡi cưa, lưỡi gươm,
lưỡi lê,
Miệng: miệng bát, miệng chai, miệng li, miệng hố, miệng bình, miệng túi,
Cổ: cổ tay, cổ chân, cổ chai, cổ bình, cổ lọ,
___________________________________________________________________________
Đề tài: “M ột vài kinh nghiệm để giờ dạy Luyện từ và câu kiểu bài Lí thuyết về từ” ở lớp 5
đạt hiệu quả cao”
24
________________________Sáng ki ế n kinh nghi ệ m – N ă m h ọ c 2013 -
2014________________
Tay: tay áo, tay quay, tay nghề, tay bóng bàn,
Lưng: lưng núi, lưng đồi, lưng ghế, lưng trời, lưng áo,
Một số hình ảnh hoạt động của học sinh trong giờ học:
Học sinh thảo luận nhóm
Học sinh báo cáo kết quả
Ví dụ 2: Dạy bài “ Từ trái nghĩa” phần củng cố tôi tổ chức cho học sinh chơi
trò chơi “ Ai nhanh, ai đúng ?”, tìm các từ trái nghĩa thích hợp điền vào các câu
thành ngữ sau:
- Kẻ đứng người ( ngồi)