THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến : Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
nhóm học tập khi dạy luyện từ và câu lớp 5
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Dạy môn Tiếng Việt lớp 5.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến : Từ tháng 9/2014 đến tháng 5/2015
4. Tác giả:
Họ và tên :
Phạm Thị Quỳnh Ly
Năm sinh :
1974
Nơi thường trú :
Thị trấn Gôi - Vụ Bản - Nam Định
Trình độ chuyên môn :
Đại học Sư phạm Tiểu học.
Chức vụ công tác :
Giáo viên.
Nơi làm việc :
Trường Tiểu học Thị trấn Gôi
năng lực, phẩm chất của học sinh theo tinh thần của nghị quyết số 29-NQ/TW hội
nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI. Để đạt được mục tiêu
trên, tôi nhận thấy cách tổ chức dạy học theo nhóm học tập rất có hiệu quả. Dạy học
theo nhóm học tập là mô hình áp dụng phương pháp dạy học thay thế phương pháp
dạy truyền thống, chuyển đổi từ dạy học truyền thụ của giáo viên sang tổ chức hoạt
động tự học của học sinh. Để học sinh tiếp thu tốt nhất kiến thức của bài học thì quá
trình tự học, tự giáo dục của học sinh giữ vai trò trung tâm, còn giáo viên là người
hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu kiến thức. Học nhóm
còn là một trong những phương pháp giúp các em tự rèn luyện và phát triển kĩ năng
làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai
trò trách nhiệm, tính tích cực trên cơ sở làm việc hợp tác. Thông qua học nhóm, các
em được cùng làm những công việc mà một mình không thể tự làm được trong một
khoảng thời gian nhất định. Đối với cấp Tiểu học, việc rèn cho các em các kỹ năng
hợp tác nhóm là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội giao lưu,
học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách
cho học sinh đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục trong thời kì mới.
Để thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt của học
sinh nói chung và nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu nói riêng, nhằm
phát triển các năng lực, phẩm chất của các em, phù hợp với yêu cầu giáo dục trong
giai đoạn hiện nay, một trong những vấn đề tôi cũng như tất cả các đồng nghiệp
quan tâm chính là việc tổ chức và nâng cao hiệu quả của hoạt động của nhóm học
tập. Thực tế cho thấy nếu như tổ chức nhóm hoạt động đúng bản chất là có sự tương
tác thì mọi hoạt động diễn ra rất hiệu quả.
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy phân môn Luyện từ và câu là một phân
môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong trường Tiểu học. Ngoài việc xây dựng thành
phân môn độc lập, các kiến thức và kỹ năng về từ và câu còn được tích hợp
4
- Việc báo cáo kết quả thường chỉ do một học sinh thường xuyên thực hiện
không luân phiên thay đổi.
- Vì điều hành chưa tốt nên giờ học lộn xộn, ồn ào.
* Về phía giáo viên :
- Việc dạy học theo nhóm còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự chú ý
đến hiệu quả của nó đến tất cả học sinh.
- Vì tốn nhiều thời gian nên giáo viên thường hạn chế sử dụng, hoặc quy định
thời lượng chưa phù hợp với dung lượng kiến thức nên hiệu quả hoạt động nhóm
chưa cao.
- Giáo viên ít quan tâm sâu sát đến hoạt động của nhóm, của cá nhân yếu kém
trong nhóm.
Những hạn chế trên xuất phát từ nguyên nhân sau:
- Giáo viên chưa tổ chức hướng dẫn hoạt động nhóm hiệu quả.
- Học sinh chưa xác định rõ nhiệm vụ học tập.
- Kĩ năng hợp tác học sinh của học sinh chưa tốt, học sinh chưa mạnh dạn, tự
tin.
- Học sinh chưa biết tìm kiếm sự trợ giúp của thầy cô hoặc bè bạn khi gặp khó
khăn.
- Học sinh chưa hiểu nhiệm vụ của nhóm trong suốt quá trình học là phải tìm
cách làm cho mọi thành viên trong nhóm hiểu và thực hiện được nhiệm vụ học tập
thầy cô giao cho.
- Học sinh chưa biết lắng nghe ý kiến của bạn và chưa tích cực chủ động suy
nghĩ đưa ra ý kiến của riêng mình.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
2.1 Giáo viên xác định và đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức
hoạt động nhóm:
Để học hợp tác nhóm đạt hiệu quả tôi luôn chú ý đảm bảo những nguyên tắc
sau:
2.1.1 Các thành viên trong nhóm phối hợp tích cực.
một vai trò nhất định. Các vai trò ấy được luân phiên thường xuyên trong các nội
dung hoạt động khác nhau (Nhóm trưởng, thư kí, báo cáo viên ...). Mỗi thành viên
đều hiểu rằng không thể dựa vào công việc của người khác. Khi nhiệm vụ cá nhân,
dưới sự điều khiển của nhóm trưởng, tất cả các thành viên trong nhóm đều phải làm
7
việc. Có thể mỗi cá nhân có tiến độ thực hiện công việc khác nhau, nếu gặp khó
khăn hay tốc độ chưa đảm bảo, tôi khuyến khích các em giỏi hơn theo dõi giúp đỡ
bạn. Khi cần thảo luận hoặc thống nhất nội dung gì, nhóm trưởng nêu yêu cầu, mọi
thành viên trong nhóm đều có trách nhiệm đóng góp ý kiến. Nhóm sẽ kịp thời biểu
dương những học sinh có nhiều ý kiến hoặc những thành viên vốn rụt rè nhút nhát
mà có tiến bộ. Từ đó nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân trong nhóm.
2.1.4 Sử dụng kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội.
Tôi luôn chú ý rèn cho học sinh các kĩ năng làm việc trong nhóm nhỏ. Đó là
các kĩ năng:
+ Kĩ năng hình thành nhóm như: tham gia ngay vào hoạt động nhóm, không rời
khỏi nhóm.
+ Kĩ năng giao tiếp như: biết chờ đợi đến lượt, tóm tắt và xử lí thông tin, biết
chấp nhận ý kiến đúng và bổ sung ý kiến...
+ Kĩ năng xây dựng niềm tin như bày tỏ sự ủng hộ qua ánh mắt, nụ cười, yêu
cầu giải thích, giúp đỡ và sẵn sàng giải thích giúp bạn.
+ Kĩ năng giải quyết mối bất đồng như: kìm chế bực tức, không xúc phạm bạn
khi phản đối ý kiến...
Có những kĩ năng có thể rèn được ngay, nhưng cũng có những kĩ năng với một
số học sinh thì phải cần cả một quá trình.
2.1.5 Rút kinh nghiệm tương tác nhóm:
Sau mỗi hoạt động hợp tác, tôi hướng dẫn học sinh đánh giá quá trình hoạt động
của mỗi thành viên nhóm như những mặt tốt trong hoạt động chung và những đóng
góp cá nhân nổi bật cần được phát huy, những mặt cần thay đổi, cải thiện để hoạt
Các thành viên trong nhóm cần có nhiệm vụ, vai trò rõ ràng. Sau mỗi hoạt
động nhóm, các thành viên cần thay đổi vai trò cho nhau, tránh tình trạng mỗi thành
viên chỉ đóng một vai trò trong thời gian quá lâu. Vai trò của các thành viên trong
một nhóm bao gồm:
+ Nhóm trưởng : Nhóm trưởng là người nhận nhiệm vụ từ giáo viên, điều
hành hoạt động của nhóm, giải thích rõ nhiệm vụ hoạt động của nhóm, tóm tắt, kiểm
tra sự hiểu biết vấn đề trao đổi, thống nhất ý kiến của nhóm, xây dựng bầu không khí
ấm áp, giải quyết các "mâu thuẫn" trong quá trình hoạt động nhóm. Với vai trò này
9
học sinh cần có nhiều năng lực hơn, đặc biệt là năng lực quản lí, giám sát và hướng
dẫn bạn. Nhóm trưởng hoạt động trong nhóm như một thầy cô giáo của một lớp học
nhỏ
+ Thư kí : Ghi chép, tóm tắt mọi ý kiến, tổng hợp ý kiến, đồng thời cùng các
thành viên trong nhóm trao đổi, đóng góp ý kiến về nhiệm vụ được giao của nhóm,
ghi lại sự tiến bộ của bạn để báo cáo thầy cô.
+ Báo cáo viên : Thay mặt các thành viên trong nhóm báo cáo kết quả làm
việc của nhóm mình và giải trình ý kiến thắc mắc trước lớp, đồng thời cùng các
thành viên trong nhóm trao đổi, đóng góp ý kiến về nhiệm vụ được giao qua từng
hoạt động.
+ Các thành viên : Trao đổi, bàn bạc, chia sẻ, đóng góp, thống nhất chung ý
kiến về nhiệm vụ được giao.
2.2.2 Hướng dẫn tổ chức hoạt động nhóm:
Tôi chia lớp thành 5 nhóm học tập, cho các em tự đặt tên cho nhóm dựa vào
đặc trưng của nhóm ví dụ nhóm chăm chỉ, nhóm đoàn kết, nhóm cần cù...., các em tự
làm và trang trí biển tên nhóm, quy định việc bố trí sắp xếp các đồ dùng dùng chung
trong nhóm hay của từng cá nhân cho phù hợp. Qua việc này, tôi nhận thấy mỗi
cũng là bước khởi đầu của hoạt động nhóm. Các em làm việc cá nhân cùng với tài
liệu học tập. Lúc này các em tích cực, chủ động huy động kiến thức, vốn sống, vốn
hiểu biết cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ. Tài liệu của các em là sách giáo khoa, vở
bài tập, từ điển... Quá trình này đối với các em có lực học khá giỏi là đơn giản,
nhưng đối với các em học yếu thì còn gặp khó khăn. Giải pháp của tôi lúc này là
khuyến khích các em tìm kiếm sự trợ giúp từ thầy cô, bè bạn. Các học sinh khá giỏi
có thể giảng giải cho bạn, giáo viên cũng bám sát, kịp thời giúp đỡ các em. Việc tự
học có thể dành cho phần Nhận xét, hoặc hoạt động thực hành của mỗi bài Luyện từ
và câu. Ví dụ tìm hiểu để biết về từ đồng nghĩa, đại từ,....hoặc làm các bài tập theo
thứ tự trong vở bài tập.
Dưới đây là một vài hình ảnh học sinh đang làm việc cá nhân trong nhóm học
tập.
11
Học sinh làm việc cá nhân trong nhóm học tập
12
Học sinh làm việc cá nhân trong nhóm học tập
13
Học sinh làm việc cá nhân trong nhóm học tập
Sau học cá nhân, học sinh sẽ chia sẻ trong cặp đôi và sau đó là trao đổi trong
nhóm. Trong quá trình tự học rất nhiều vấn đề nảy sinh mà mỗi cá nhân không thể tự
mình giải quyết hoặc kiểm chứng, trao đổi với bạn cùng bàn và trong nhóm sẽ giúp
các em tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong lúc tự học.
Học sinh có thể đổi vở để kiểm tra bài làm của bạn; nói cách nghĩ, cách làm bài
cho bạn nghe; tiếp thu góp ý của bạn; điều chỉnh ý kiến; kết quả của mình. Chia sẻ
các em làm việc tốt hơn. Khi gặp vấn đề khó, tất cả các nhóm đều vướng mắc, tôi sẽ
tổ chức hoạt động chung của cả lớp giúp các em tháo gỡ kịp thời. Với từng bài học
cụ thể, giáo viên cần dự kiến trước các khó khăn của đa số học sinh để quan sát và
giúp đỡ đúng thời điểm.
2.2.4 Tổ chức báo cáo và nhận xét tương tác nhóm:
Trước khi cho đại diện nhóm trình bày, giáo viên cần nêu lại vấn đề để cả lớp
tập trung lắng nghe. Phải rèn cho học sinh có thói quen lắng nghe và khuyến khích
các em đưa ra nhận xét cụ thể hoặc ý kiến bổ sung cho nội dung nhóm bạn vừa trình
bày. Cao hơn nữa là tập cho học sinh đặt vấn đề, nêu câu hỏi tạo tình huống phản
biện. Quá trình báo cáo kết quả thảo luận nếu điều hành tốt thì sẽ giúp học sinh rút
thêm kinh nghiệm khi điều hành thảo luận trong nhóm sau này và kĩ năng hợp tác
nhóm của học sinh sẽ ngày một cao hơn.
Các em sẽ rất muốn chia sẻ kết quả làm việc trong nhóm để khẳng định kiến thức.
Đây chính là tâm thế tốt của các em trước khi tiến hành tương tác nhóm. Do vậy mà
mỗi khi đại diện nhóm trình bày, các em rất chăm chú lắng nghe để đối chiếu với kết
quả làm việc của nhóm mình để nhận xét, bổ sung.
Tôi hướng dẫn các em luân phiên thay đổi báo cáo viên trong nhóm. Ban đầu ,
những học sinh có năng lực trình bày lưu loát sẽ báo cáo kết quả, sau đó thì luân
16
chuyển để em nào cũng được trình bày, nhằm rèn cho các em năng lực trình bày
trước đám đông, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp.
Để báo cáo viên có thể trình bày rõ kết quả làm việc của nhóm, nhóm phải tổ
chức tập huấn trước, khi đó các em sẽ đưa ra các tình huống giả định khi nhóm bạn
phát biểu ý kiến để chuẩn bị các phương án tranh luận góp ý. Việc này khiến học
sinh nào cũng phải nỗ lực hết khả năng của mình để hoàn thành nhiệm vụ. Các em
khác cũng chuẩn bị sẵn phương án giúp đỡ, điều đó tăng cường mối quan hệ và tinh
20
những nhiệm vụ về hợp tác diễn ra như thế nào? Học sinh nào đã thực hiện tốt,
những gì có thể thay đổi để hoạt động hợp tác ngày càng được tốt hơn ? Dần dần, tôi
hướng dẫn học sinh tự nhận xét nhóm mình, các nhóm khác nhận xét nhóm bạn, tôi
đóng vai trò tập hợp, khái quát, bổ sung những nhận xét của từng nhóm.
Việc nhận xét quá trình làm việc của nhóm cũng không nên qua loa, đại khái.
Càng đưa ra nhận định cụ thể càng giúp học sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm cho
những hoạt động sau. Những tiêu chí nhận xét cần thiết phải có:
- Tinh thần thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thảo luận.
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Kĩ năng trình bày kết quả hoặc giải thích chất vấn trước lớp.
- Sự luân phiên trong nhóm.
* Lưu ý: Cần khen ngợi những học sinh biết lắng nghe và đưa ra những câu hỏi
thắc mắc phù hợp.
Để học sinh hiểu, biết được vai trò và trách nhiệm của mình, tôi có thể làm
mẫu để học sinh học tập. Qua việc làm mẫu học sinh hiểu được cách thức thảo luận
và biết được vai trò của mình trong nhóm (Việc làm này thường diễn ra ở giai đoạn
đầu năm học)
2.3 Tổ chức hướng dẫn hoạt động nhóm khi dạy phân môn Luyện từ và
câu lớp 5.
Trong chương trình hiện hành, phân môn Luyện từ và câu lớp 5 có 62 tiết
(không kể 4 tuần ôn tập) chia làm 3 kiểu bài:
- 18 tiết thuộc kiểu bài hình thành kiến thức mới.
- 22 tiết thuộc kiểu bài ôn tập, luyện tập.
- 22 tiết thuộc l kiểu bài mở rộng vốn từ.
Các bài học Luyện từ và câu lớp 5 thường có cấu trúc như nhau là gồm hệ
thống bài thực hành với các nhiệm vụ hoặc yêu cầu khá rõ. Cụ thể như sau:
* Kiểu bài Hình thành kiến thức mới.
Bài tập nhận diện cũng có nội dung rất phong phú tương ứng với các vấn đề lí
thuyết. Qua các bài tập này, học sinh củng cố được tri thức lí thuyết đã được học.
Trong quá trình hướng dẫn HS giải bài tập, bài tập nhận diện là loại phải giải quyết
đầu tiên.
Bài tập vận dụng có mục đích giúp học sinh ứng dụng những kiến thức lý
thuyết đã được học vào hoạt động giao tiếp hàng ngày.
22
Ví dụ, bài Từ nhiều nghĩa (tr.66, Tiếng Việt 5, tập 1)
Từ nhiều nghĩa
I - Nhận xét
1. Tìm nghĩa ở cột B thích hợp với mỗi từ ở cột A:
A. Từ
B. Nghĩa
Răng
a) Bộ phận ở hai bên đầu người và động vật, dùng để nghe.
Mũi
b) Phần xương cứng, màu trắng, mọc trên hàm, dùng để cắn, giữ và
nhai thức ăn.
c) Bộ phận nhô lên ở giữa mặt người hoặc động vật có xương sống,
Tai
dùng để thở và ngửi.
* Kiểu bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề
- Kiểu bài Mở rộng vốn từ của sách giáo khoa Tiếng Việt hiện nay được thiết
kế thành hệ thống các bài tập nhằm hướng đến cả ba mục đích giải nghĩa từ, hệ
thống hoá vốn từ, tích cực hoá vốn từ. Học sinh tham gia giải quyết các bài tập để
kiến thức và kỹ năng sử dụng từ ngữ được hình thành một cách tự nhiên. Các từ ngữ
được hình thành sau giờ học là những từ ngữ mở, phong phú, đa dạng không chỉ bó
hẹp trong bảng từ gợi ý của sách giáo khoa như trước đây.
Bài tập của kiểu bài Mở rộng vốn từ ở sách giáo khoa lớp 5 gồm các dạng
sau đây:
- Phân loại, quản lý vốn từ: Loại bài tập này yêu cầu HS dựa theo các tiêu chí
quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa, đề tài, chủ đề, cấu tạo từ, nghĩa của yếu tố Hán Việt để hệ thống hoá lại vốn từ của mình.
- Giải nghĩa từ: Bài tập loại này có nhiều dạng: xác lập sự tương ứng giữa từ
và nghĩa của từ, lựa chọn nghĩa phù hợp với từ, tìm từ thích hợp với nghĩa đã cho,
trả lời câu hỏi về ý nghĩa của từ (thành ngữ, tục ngữ).
- Sử dụng từ: Bao gồm các kiểu sau: điền từ, đặt câu, tạo ngữ, viết đoạn
Mỗi bài Mở rộng vốn từ thường từ 3 - 5 bài tập, bao gồm tất cả các dạng nêu
trên được sắp xếp theo một lô gíc nhất định, thuận tiện cho quá trình giải quyết bài
tập, hình thành vốn từ cho học sinh.
Ví dụ, bài Mở rộng vốn từ: Nhân dân (tr.27, Tiếng Việt 5, tập 1, Nxb Giáo
dục, 2006).
1. Xếp các từ ngữ trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp nêu dưới đây:
24
a) công nhân
d) quân nhân
b) nông dân
Theo Nguyễn Đổng Chi
25
- Tập quán : thói quen đã thành nếp trong đời sống của cộng đồng.
- Đồng bào : những người cùng giống nòi, cùng đất nước ( đồng : cùng, bào :
màng bọc thai nhi ).
a) Vì sao người Việt Nam ta gọi nhau là đồng bào ?
b) Tìm từ bắt đầu bằng tiếng đồng ( có nghĩa là " cùng ").
M:
- đồng hương ( người cùng quê)
- đồng lòng ( cùng một ý chí )
c) Đặt câu với một trong những từ vừa tìm được
* Kiểu bài Luyện tập thực hành.
- Kiểu bài Luyện tập thực hành hay phần Luyện tập trong bài học đều có mục
đích chung là giúp học sinh củng cố và vận dụng các kiến thức đã học. Bên cạnh đó,
có những vấn đề rộng, không thể khuôn trong một bài học cũng phải có thêm bài
Luyện tập thực hành. Do đó, bài Luyện tập thực hành còn có thêm mục đích: thông
qua thực hành, giúp học sinh hiểu biết thêm về một bộ phận kiến thức nào đó, chuẩn
bị cho nội dung học tập tiếp theo hoặc cần lưu ý khi sử dụng. Ví dụ: Luyện tập về từ
nhiều nghĩa (Tiếng Việt 5) nhằm giúp HS hiểu biết thêm về các thành phần nghĩa
của từ nhiều nghĩa (nghĩa gốc và nghĩa chuyển), giúp HS phân biệt về từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa.
- Những bộ phận kiến thức được mở rộng ở phần Luyện tập hay ở kiểu bài
Luyện tập thực hành là những kiến thức không bắt buộc ghi nhớ như những kiến
thức qui định trong phần Ghi nhớ.
- Kiểu bài này cũng được xây dựng thành một hệ thống bài tập trong đó cũng
- Kiểu bài Ôn tập có mục đích giúp HS hệ thống hoá lại các kiến thức đã học,
tiếp tục củng cố, khắc sâu và hướng dẫn vận dụng. Vì vậy, ngoài các bài tập nhận
diện, vận dụng còn có bài tập yêu cầu hệ thống hoá kiến thức. Ví dụ, dựa vào kiến
thức đã học ở lớp 4 và các ví dụ dưới đây, hãy lập bảng tổng kết về tác dụng của
dấu gạch ngang (Tiếng Việt 5, tập 2, tr.159). Giải quyết bài tập này HS sẽ hệ thống
hoá được các kiến thức về tác dụng của dấu gạch ngang. Kiểu bài Ôn tập chỉ xuất
hiện ở SGK Tiếng Việt 5 và có mục đích giúp HS ôn tập các vấn đề đã học ở lớp
dưới.
Mục đích của kiểu bài này không chỉ hướng dẫn HS luyện tập thực hành thông
qua các bài tập mà còn khái quát hoá, hệ thống hoá, các kiến thức lý thuyết đã học.
Vì vậy, sau mỗi bài tập GV cần có thêm bước 5: Yêu cầu HS rút ra những lưu ý cần
thiết về kiến thức lý thuyết..
Qui trình lên lớp kiểu bài Hình thành kiến thức mới
Qui trình này bao gồm bốn bước cơ bản:
Bước 1: Thực hiện bài tập phân tích ngữ liệu thông qua các thao tác phân tích,
so sánh, đối chiếu, tổng hợp hoá, khái quát hoá trên ngữ liệu tự hình thành được các
kiến thức lí thuyết tương ứng.
27