SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP GIỜ DẠY TÁC PHẨM PHƯƠNG ĐÔNG BẬC THPT ĐẠT HIỆU QUẢ CAO - Pdf 29

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Châu Thị Hồng Hoa
2. Ngày tháng năm sinh: 28/9/1979
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Trường THPT Long Khánh – TX Long Khánh
5. Điện thoại: (CQ)/ (NR); ĐTDĐ: 0933835495
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn Ngữ văn
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Long Khánh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2001
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Ngữ văn
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Long Khánh
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP GIỜ DẠY TÁC PHẨM
PHƯƠNG ĐÔNG BẬC THPT ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
Người thực hiện: CHÂU THỊ HỒNG HOA
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ Văn: 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
2
1. Cơ sở lý luận:
Theo PGS.TS Phan Thị Thu Hiền, Trường ĐHKHXH NV TP.HCM :
“ Đã có nhiều ý kiến về sự sa sút đến mức đáng báo động của chất lượng,
hiệu quả giảng dạy văn học trong nhà trường THPT. Trên mặt bằng chung thấp ấy,
chất lượng, hiệu quả giảng dạy văn học nước ngoài càng thấp hơn nữa. Trong khi
đó, đối với thời đại hội nhập toàn cầu ngày hôm nay, văn học nước ngoài có vai trò
quan trọng”.
Nói như thế cho thấy: tiếp cận văn học trong quan hệ với các nước giúp
trang bị kiến thức, cung cấp kỹ năng và cả bồi dưỡng thái độ ( cách nghĩ, cách sống)
cho học sinh. Hơn nữa , học sinh là những người trẻ tuổi , say mê cái mới , càng
khao khát tìm hiểu những tác phẩm văn học của dân tộc mình và các dân tộc khác.
Tôi tán thành với Ngô Tự Lập rằng : “ Học sinh trước hết và sau hết phải được dạy
để yêu mến văn học dân tộc. Nhưng cũng hoàn toàn đúng rằng các em đồng thời
cần thiết mở rộng tầm mắt với những nền văn học trong khu vực và trên thế giới”.
Thật vậy, “học người để hiểu mình”, hiểu văn học nước ngoài , đặc biệt là tác
phẩm phương Đông giúp học sinh hiểu biết sâu sắc hơn bản sắc riêng của dân tộc,
quan hệ giao lưu với thế giới.
Vậy nên, làm thế nào để giờ dạy tác phẩm phương Đông bậc THPT đạt hiệu
quả cao là một trong những mục tiêu quan trọng cần hướng đến.
2. Cơ sở thực tiễn:
Trong bộ sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT của Việt Nam hiện nay, phần
văn học nước ngoài chủ yếu lựa chọn để giới thiệu tác giả, tác phẩm tiêu biểu của
các nền văn học lớn, trong đó có văn học phương Đông . Văn học Trung Quốc được
chọn giới thiệu nhiều nhất, trong đó đặc biệt ưu tiên cho thơ Đường.
Lớp 10: học sinh được học : Rama buộc tội( Trích Ramayana), Hoàng Hạc Lâu
tống Mạnh Hao Nhiên chi Quảng Lăng ( Lý Bạch), Cảm xúc mùa thu( Đỗ Phủ),
Hoàng Hạc lâu ( Thôi Hiệu), Khuê oán( Vương Xương Linh) , Điểu minh
giản( Vương Duy), Thơ Haicư của Bashô.

+ Tự sự (gồm sử thi Ramayana của Ấn Dộ, tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa,
Thuốc của Lỗ Tấn).
+ Thơ trữ tình (thơ Đường của Trung Quốc, thơ Haicư của Nhật Bản và Bài thơ số
28 của Tagore).
1.1. Đối với loại hình tự sự:
Gọi chung là loại hình tự sự nhưng giữa các tác phẩm có sự khác biệt rất lớn.
1.1.1. Khi giảng dạy đoạn trích Rama buộc tội (chương 79) trong sử thi
Ramayana (PPCT tiết 17, lớp 10) giáo viên cần thiết phải cho học sinh nắm vững
đặc trưng của thể lọai sử thi, mà ở đoạn trích này, điểm nổi bật là con người bổn
phận trước cộng đồng mà môtip thử thách thường gặp trong loại thể sử thi.
* Thứ nhất: Các lời nói , hành động của các nhân vật Rama, Xita đều xuất phát
từ ý thức bổn bận trước cộng đồng, ý thức danh sự của đẳng cấp Kshatrya.
Nếu học sinh không hiểu điều này (và thực tế nhiều học sinh không hiểu) rất
dễ kết luận nhầm lẫn rằng: Rama buộc tội Xita là do lòng ghen tuông. Thế nên,
giáo viên phải có sự định hướng, dẫn dắt: Trước đây Rama chấp nhân sự lưu đày
14 năm, chấp nhận cuộc sống khổ hạnh trong rừng sâu và nếu chàng chống lại
lệnh cha, đức vua Đaxaratha sẽ trở thành người thất tín và mất danh dự. Giờ đây
Rama có thể tự hào mà nói rằng “Ta đã làm những gì có thể làm được bằng tài
năng của mình”. Như vậy, về phía mình, Rama đã bảo toàn được danh dự.
Nhưng nếu chàng chấp nhận một người vợ không còn danh tiết thì danh dự của
chàng cũng sẽ tiêu tan. Bởi vậy: “Thấy người đẹp khuôn mặt bông sen với
những cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Rama đau như dao cắt,
nhưng vì sợ tai tiếng, chàng bèn nói với nàng, trước mặt những người khác…”
Đây là lúc diễn biến tâm lí của Rama rất phức tạp.
Trong tình huống này, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh khai thác vấn đề:
Tại sao “lòng Rama đau như dao cắt”?
4
Học sinh lớp 10 có thể trả lời được câu hỏi này: Vì Rama yêu và thương Xita
Biểu hiện? - Chàng đã vượt qua bao gian lao thử thách, chiến đấu vô cùng
dũng cảm, tiêu diệt Ravana để cứu nàng.

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên thuyết giảng: Những người thuộc đẳng
cấp Kshatrya, nam cũng như nữ, đều rất trọng danh dự. Giờ đây danh dự của
Xita bị xúc phạm nặng nề. Nàng đã dùng lời lẽ để chứng minh: Lời nàng rất
chân thành và hợp lí, có thể làm xao động tâm hồn mọi người. Nhưng không
thay đổi được quyết tâm của Rama. Xita cũng biết vậy: “Tình yêu của thiếp,
lòng trung thành của thiếp, nay xem ra hoàn toàn vô ích…”
Giáo viên nên nhấn mạnh : từ khi Gianaki bắt đầu lên tiếng, Rama không
nói một lời nào nữa. Nghĩa là chàng không cần đôi co: lời buộc tội của chàng là
một sự phán quyết không có một lời lẽ nào có thể bác bỏ được.
5
Tình thế đã trở nên bế tắc. Xita chỉ còn hành động. Nàng nói với Lắcmana:
“Hỡi Lắcmana, em hãy chuẩn bị cho chị một giàn hỏa thiêu. Với nông nổi đáng
buồn hiện nay, đó là phương thức duy nhất cho chị. Chị không muốn sống sau
những lời tố cáo lầm lạc như vậy. Chồng chị không hài lòng về chị. Chàng đã
ruồng rẫy chị trước mặt mọi người. Giờ thì chị từ bỏ tấm chân thành này cho
ngọn lửa.”
Xita không còn cách lựa chọn. Lời buộc tội của Rama không cho phép nàng
lựa chọn cách nào khác. Đây chính là dụng ý của Rama.
Học sinh phải có ý thức đặt chương này vào toàn bộ sử thi Ramayana trong
truyền thống đạo lý, xã hội và văn học Ấn Độ cổ đại mới hiểu được dụng ý của
Rama: chàng muốn thử thách Xita. Có điều sự thử thách này quá khủng khiếp,
đến nỗi: “Vào lúc đó, chẳng có ai trong đám bạn bè dám nói gì với Rama, hoặc
nhìn vào chàng, lúc đó nom chàng khủng khiếp như thần chết vậy”.
Rama là người anh hùng Kshatrya. Trong sử thi Ấn Độ, con người bổn phận
và con người hướng nội, tình cảm phải nén ở trong lòng, không được dao động.
Còn Xita không có cách gì chứng minh được sự thủy chung trong sạch của nàng.
Những lời nói đều là vô ích. Xita phải hành động để tự khẳng định danh dự của
một người phụ nữ Kshatrya: “Gianaki lượn quanh qua giàn lửa rồi dũng cảm
bước vào ngọn lửa”.
Giáo viên trở lại với một ý chính: Một người phụ nữ Ấn Độ bị nghi ngờ, có

thách.
Cụ thể: Rama đã dũng cảm xông pha trên chiến trường - đó là lòng dũng cảm
được biểu hiện trong tư thế động. “Rama vẫn ngồi mắt dán xuống đất”- là lòng
dũng cảm trong tư thế tĩnh khi phải dằn lòng buộc người vợ thân yêu nộp mình
cho ngọn lửa.
Còn Lắcmana? Giáo viên yêu cầu học sinh tìm chi tiết.
“Cố nén cơn giận, Lắcmana nhìn Rama, và qua nết mặt, cử chỉ của người
anh, Lắcmana đoán được động cơ của anh, chàng chuẩn bị một giàn hỏa thiêu
cho Xita.
Một đoạn ngắn nhưng đã cho thấy phẩm chất và tính cách của Lắcmana. Đó
là gì? –Kín đáo, thông minh, trung hậu, kính mến anh chị và trung thành với bổn
phận.
* Tóm lại: Khi giảng dạy đoạn trích này , giáo viên cần lưu ý những điều
sau:
- Chủ đề của Ramayana được biểu hiện một cách tập trung và đạt đến đỉnh cao
trong Rama buộc tội. Đó là lí do để đoạn trích này được chọn lọc để dạy và học ở
lớp 10. Có thể khi mới đọc qua, học sinh chưa hiểu, sẽ trách Rama tầm thường
(ghen tuông) và tàn nhẫn. Vì vậy, cần phải căn cứ vào đặc trưng thể loại sử thi, giáo
viên cung cấp cho các em những hiểu biết về tư tưởng, xã hội Ấn Độ cổ đại, từ
đó dần dần giúp các em hiểu được giá trị cao đẹp của hình tượng nhân vật
được biểu hiện qua chương này.
- Thử thách ở chương Rama buộc tội là đỉnh điểm, nhưng phải đến chương
tiếp theo (chương 80) mới được mang tên là “Thử thách”. Thực ra đây là kết quả
của sự “thử thách”, là sự “mở nút”. Phải qua “thử thách” người ta mới biết đó là thử
thách. Tư duy Ấn Độ thâm trầm, kì diệu là thế.
1.1.2. Tương tự như thế, khi giảng dạy đoạn trích Hồi trống Cổ Thành , giáo viên
giúp học sinh phát hiện, khai thác môtip thử thách – thử thách lòng trung
thành, dũng cảm của Quan Vũ.
Giáo viên cần thiết thuyết giảng cho học sinh biết lí do vì sao nói “môtip”
Vì thử thách ở Hồi trống Cổ Thành không phải là thử thách duy nhất, mà

tình Trong 52 tập thơ mà Tagore “dâng” cho loài người, có nhiều bài thơ viết về
tình yêu và ông dành riêng cho chủ đề này hai tập thơ tuyệt vời: Tặng phẩm của
người yêu và Người làm vườn.
Thơ Tagore phần nhiều không đề, bài được chọn dạy – học ở Ngữ Văn 11 là
bài số 28 trong tập Người làm vườn( PPCT tiết 92). Có thể học sinh ngạc nhiên –
sao thơ tình mà lại mang tên “Người làm vườn”? Giáo viên giảng giải cho học sinh
hiểu: Nếu đọc tập thơ, và ngay cả chỉ đọc một bài 28 này thôi, chúng ta sẽ “ngộ” ra
rằng: Không có cái tên nào hợp hơn khi Tagore quan niệm tình yêu là một mảnh
vườn mà nhà thơ là người vun trồng, chăm sóc mảnh vườn kì diệu ấy.
Tagore làm thơ tình và thơ cho trẻ em khi vợ rồi con trai, con gái của nhà thơ
đã qua đời. Ông đã đem kỉ niệm về tính yêu với tâm huyết của “người làm vườn”
chăm chút, vun trồng cho vườn tình. Tagore yêu quý công việc “làm vườn” của
mình biết bao.
Bài 28 là bài thơ được xếp vào một trong những bài thơ tình hay nhất thế
giới.
Có thể học sinh không tin. Mời học sinh đọc bài thơ, đọc những lời “anh” nói
cùng “em” (hay nếu đổi ngôi đi – thành “em” nó cùng “anh” thì cũng thế). Tagore
đã “mách bảo” với những đôi lứa yêu nhau trên đời này. Tình yêu là một thế giới rất
gần gũi, thân thuộc mà cũng là thế giới kì diệu và vô biên bí ẩn.
8
Giáo viên dẫn dắt để học sinh thấy được rằng: Bài 28 là một thế giới nghệ
thuật đầy bất ngờ, được tạo nên bởi sự “lạ hóa”- một bí quyết tạo nên sức hấp dẫn
cho tác phẩm văn học (cũng như trong nghệ thuật nói chung). Có nghĩa là gì? - Cái
mà vô cùng quen thuộc, thì nhà thơ chỉ cho ta thấy nó thật lạ lùng.
Giáo viên đưa ra câu hỏi định hướng : Vậy, bằng cách nào Tagore đã làm
được điều đó?
Bằng những nghịch lí – Tagore đã chiếu một cái nhìn mới mẻ, khác lạ lên
một đối tượng quen thuộc là tình yêu . Và chính vì rất quen nên không ngờ nó lạ
thế.
Giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra những nghịch lí.

ra những điều thi nhân muốn gửi gắm thì có nghĩa là đã “giải mã” được những
thông điệp nghệ thuật của người xưa.
9
Vì đặc trưng của thơ Đường là tạo lập nên nhưng mối quan hệ, nên người đọc
thơ Đường cần phải phát hiện ra những mối quan hệ ấy, mà để phát triển được thì
phải dành thời gian cho học sinh suy nghĩ và tưởng tượng, liên tưởng.
Thơ Đường vốn rất hàm súc, nói ít gợi nhiều, lời ít ý nhiều… nên thường gây
nên tâm lí sợ thiếu thời gian, giáo viên thuyết giảng nhiều mà ít đàm thoại. Cách
này vô hình trung đã đi ngược lại cái “phép” của thơ Đường: “nói ít gợi nhiều”.
Mỗi tác phẩm, mỗi bài thơ dẫu chỉ vỏn vẹn 4 câu, 20 chữ, vẫn là một thế giới
nghệ thuật. Thi nhân có thể giấu mình đi, tức trong bài thơ không hề có chủ ngữ
nhân xưng ngôi thứ nhất, nhưng cái tâm, cái thần của chủ thể trữ tình vẫn “phổ” vào
thế giới nghệ thuật ấy. Vậy thì làm sao để nhận ra tình ý mà thi nhân muốn gửi
gắm?
Mỗi người có thể có cách riêng để cảm nhận. Có lẽ cách làm tích cực là giáo
viên gợi ý cho học sinh đặt mình vào vị trí của chủ thể trữ tình, nghĩa là có
chung “điểm nhìn” với chủ thể trữ tình để nghiêm ra tâm tình của thi nhân.
Chẳng hạn: đặt mình vào vị trí của người đưa tiễn, dõi nhìn cách buồn cô đơn của
người bạn cũ dần xa rồi khuất vào trời nước mênh mang, mà tình vô tận (bài Hoàng
Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch). Nghiêm ra được
điều ấy rồi thì có lẽ không cần phải nói gì nhiều thêm nữa.
Phải chăng phép giảng thơ Đường cũng nên theo “phép” làm thơ Đường:
“Nói ít gợi nhiều”.
Mặt khác, khi nói rằng: “Mỗi tác phẩm là một thế giới nghệ thuật” thì cũng
có nghĩa là cách tiếp cận không thể giống nhau. Bởi vậy không nên cố chấp theo
một lối nào, chỉ có định hướng cơ bản mà thôi.
Xin nêu ở đây quan niệm của người viết: ngoài nguyên tắc chung là tôn trong
chỉnh thể nghệ thuật của văn bản, bảo đảm tính thống nhất giữa nội dung và hình
thức, thì khi hướng dẫn học sinh phân tích một bài thơ Đường luật, giáo viên nên
lưu ý ba trọng điểm:

sầu.”
Vì sao câu mở đầu lại là một “phản đề” như vậy?
Vì sao chồng ra trận mà người khuê phụ “không buồn”?
Giáo viên gợi lại bức tranh thời thịnh Đường: Trung Quốc là một nước giàu
mạnh và có lãnh thổ rộng lớn. Nhà Đường đã phái quân đội ra trấn thủ biên cương
và nếu có điệu kiện thuận lợi thì mở mang lãnh thổ. Hoàn cảnh ấy dấy lên tinh thần
“Kiến công lập nghiệp” ở các tướng sĩ. Nhiều người ra biên cương với hi vọng lập
công để được phong hầu. Thân nhân, kể cả vợ của họ, cũng ủng hộ ước nguyện ấy.
Bởi vậy, trong bài thơ, người thiếu phụ có chồng ra trận mà lòng vẫn bình yên. Và
nàng vẫn làm công việc bình thường, hàng ngày cũng là “công việc muôn thuở” của
người phụ nữ khuê các: trang điểm. Trang điểm xong lên lầu ngắm cảnh cũng là
chuyện đương nhiên.
Lên lầu rồi.
“Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc”
(Chợt thấy màu dương liễu ở đầu đường)
Lập tức người thiếu phụ:
“Hối giao phu tế mịch phong hầu”
(Hối hận đã để chồng đi kiếm ấn phong hầu)
Tại sao thấy “màu dương liễu”, người thiếu phụ lại hối hận?
Học sinh biết gì về phong tục của người Trung Quốc xưa khi chia tay?
Lúc chia tay, người ở lại bẻ một cành dương liễu tặng cho người ra đi để biểu
thị niềm lưu luyến. (Trong tiếng Trung Quốc, chữ “liễu” và chữ “lưu” có âm đọc
gần giống nhau). Màu dương liễu là tín hiệu của mùa xuân cũng là biểu tượng của li
biệt, nó như một giọt xúc tác nhỏ vào tâm lí của người thiếu phụ khiến phản ứng
11
tâm lí lập tức xảy ra, khiến nàng bừng tỉnh, hối hận đã để chồng đi tìm kiếm ấn
phong hầu.
Theo em, chữ “hốt” (bỗng, chợt) ở đầu câu thứ ba có tác dụng gì?
Nó đánh dấu một sự “chuyển”, một sự đột biến, vượt cấp của xúc cảm, nhận
thức.

phương diện tình cảm, có thể nói Lý Bạch là nhà thơ của tình bạn.
Đọc hai câu thơ cuối, không một chữ “buồn”, chứ “trông”, chứ “luyến”…
mà ta cứ thấy thần hồn nhà thơ dõi theo bóng buồm của bạn, Một dòng tình cảm
chảy mãi theo dòng Trường Giang. Nhà thơ đã gửi dòng sông hữu hạn vào bầu trời
vô hạn, thể hiện mối tình thâm thẳm như dòng sông, vô tạn như bầu trời.
Sau cùng, giáo viên tổng kết lại về con người Lý Bạch, về thơ Lý Bạch: ta đã
từng biết một Lý Bạch yêu tự do, phóng túng, mãnh liệt, ngang tàng, kiêu hãnh…
Với những bài thơ về tình bạn, ta còn biết một Lý Bạch đằm thắm, ân tình.
Giáo viên rút ra bài học nhận thức cho học sinh: tình bạn chân thành
muôn thuở vẫn là một tình cảm đẹp của con người.
* Về bài Hoàng Hạc lâu (Lầu Hoàng Hạc) của Thôi Hiệu , giáo viên đặt câu hỏi
để học sinh tìm hiểu nhan đề bài thơ cũng như hoàn cảnh sáng tác. “Hoàng Hạc
lâu” là tên một cái lầu trên mõm Hoàng Hạc Cơ, núi Hoàng Hạc (còn gọi là núi Xà
Sơn) thuộc huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc. Truyền thuyết nói rằng: Thời xưa có
12
người tiên là Tử An đã cưỡi hạc vàng đến nơi này, cưỡi hạc lên tiên; người sau
dựng lầu Hoàng Hạc để kỷ niệm sự tích ấy
Tiếp đến, giáo viên hướng dẫn học sinh phân chia kết cấu, bố cục bài thơ
dựa theo mạch cảm xúc của tác giả. Bài thơ có thể chia làm hai phần: 4 cầu đầu là
sự hoài niệm quá khứ; 4 câu sau là sự thất vọng trước hiện tại và nỗi lòng buồn nhớ
quê hương.
Ngay từ hai câu thơ khởi đề, ta đã gặp một tâm trạng. Nhà thơ không tả về cái
đang có mà nhớ về một cái đã có và đã mất – thể hiện sự trống vắng, sự hẫng hụt
trong tâm hồn. Đến hai câu tiếp, trong hoài niệm của con người, cánh hạc vàng kia
vẫn còn day dứt.
Học sinh nhận thấy điều gì đặc biệt trong câu thơ thứ hai, ba, bốn?
Ba câu thơ liền nhau, “hoàng hạc” cứ trở đi trở lại đến ba lần, mà cả ba lần
đều không thực.
Tác dụng của điều này?
Cánh hạc vàng trở về trong tâm tưởng chỉ để con ngời thêm khắc khoải, thấm

Giáo viên cần cho học sinh thấy: đây là chủ đề ngâm vịnh của thi nhân thời
cổ, Trung Quốc hay Việt Nam cũng vậy.
Chỉ hai từ “Thu hứng”, Đỗ Phủ đã khái quát chủ đề của bài thơ, của cả chùm
thơ tám bài. Bài chọn để dạy – học là bài thứ nhất. Và cũng chỉ một câu mở đầu :
“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm” đã làm rõ nhan đề bài thơ.
Câu thơ miêu tả cảnh gì? Từ ngữ nào tập trung miêu tả điều đó?
Khung cảnh rừng phong tàn tạ, đặc biệt tập trung ở hai chữ “điêu thương”.
Giáo viên giảng giải, cắt nghĩa giúp học sinh hiểu hai chữ này tính – động từ
“điêu thương” do chính Đỗ Phủ sáng tạo ra để tả cảnh rừng phong tàn tạ, lòng
người buồn thương.
Và cả núi non vốn hùng vĩ kia - Vu Sơn, Vu Giáp giờ cũng hiu hắt, nhạt nhòa
trong hơi thu. Quy luật của thiên nhiên, cảm hứng trong tâm hồn là như vậy.
Những câu thơ nào được xem là hay nhất trong toàn bài thơ?
“Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm
(Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà)
Có thể nói đây là hai câu hay nhất trong bài thơ, cả trong chùm thơ Thu
hứng” của Đỗ Phủ. Hai câu này đa nghĩa. Ý nghĩa cụ thể có thể “khảo sát” được là
cúc đã hai độ nở hoa từ ngày Đỗ Phủ ngụ cư Quỳ Châu. Cúc lại nở khiến người
ngậm ngùi rơi lệ. Nhưng trên từng chữ của câu thơ, thật lạ lùng, cúc nở ra không
phải là hoa, mà là nước mắt.
Học sinh lí giải vì sao?
Đối cảnh sinh tình? Hay là con người đã phổ tình vào cảnh? Làm sao phân
biệt được nước mắt hoa hay nước mắt thi nhân khi mà con người với ngoại giới
chung một tâm tình, khi “vạn vật với ta là một”. Và con thuyền cô quạnh cuộc mãi
vào mối tình thương nhớ vườn xưa.
Hai câu kết đến một cách đột ngôt. Ý kiến của học sinh về vấn đề này?
Giáo viên tổng hơp ý kiến rồi kết luận: Nói đột ngột vì suốt cả sáu câu thơ
trước không có một âm thanh nào cả. Người thơ đang chìm trong “tấm lòng thương

trọng, bản lĩnh, chừng mực, biết lối cần đi, biết nơi cần đến, biết chỗ nên dừng, làm
sao gợi được suy nghĩ cho học sinh rồi theo cách của nhà thơ Haicư, hãy dừng lại
để suy nghĩ tiếp. Bởi vậy người dạy cần chuẩn bị những tri thức cần thiết và tâm thế
để có thể làm người hướng đạo đưa học sinh đến với thế giới nghệ thuật thơ Haikư.
Theo phân phối chương trình, Ngữ Văn 10 tiết 53, giáo viên chỉ giảng dạy
thơ hai-cư của Bashô ở các bài 1.2.3.6 nên người viết đề tài cũng chỉ tập trung vào
bài này.
* Về bài thơ thứ nhất trong chùm thơ haicư của Bashô – người viết trình bày
ở giải pháp sau.
* Bài thơ thứ hai:
Chim đỗ quyên hót
ở kinh đô
mà nhớ kinh đô
Giáo viên thuyết giảng cho học sinh về ý nghĩa tiếng hót chim đỗ quyên.
Trong văn học cổ điển Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, hình tượng chim
đỗ quyên thường gắn với điển cố vua Thục mất nước hóa thành chim đỗ quyên. Ở
Nhật Bản, chim đỗ quyên gọi là chim hôtưtuhisu, còn được viết bằng chữ Hán là
“thời điểu” (chim thời gian); loài chim này kêu khi chuyển từ xuân sang hè, khi
sẩm tối, đêm trăng, tiếng kêu buồn da diết. Vì thế tiếng chim tuy không được dùng
15
với nghĩa mất nước nhưng vẫn được dùng với nghĩa nhớ tiếc thời gian. Nó đã trở
thành một hình ảnh ước lệ thể hiện nỗi buồn, niềm hối tiếc, sự vô thường.
Bài thơ có tứ thơ rất lạ, học sinh chỉ ra điều này
Thông thường đi xa mới nhớ. Nay “ở kinh đô” mà “nhớ kinh đô” 20 năm
trước.
Điều gì đã dẫn dắt nỗi nhớ này?
Chính là tiếng chim đỗ quyên đã mở thông lối về kỉ niệm. Nhà thơ đã dùng
không gian (kinh đô), cảnh vật (tiếng chim đỗ quyên) để thể hiện nỗi nhớ thời gian.
Cái diệu của bài haicư này là ở chỗ ấy.
* Ở bài thơ thứ ba:

16
2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu quan niệm nghệ thuât về
con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là cách lí giải, cắt nghĩa của nghệ thuật
(ở đây là văn học) về bản chất, vị trí, giá trị của con người.
- Con người, nó là ai?
- Vị trí của nó là ở đâu trong thế giới này?
- Con người thế nào là thiện, là mĩ; con người thế nào mới xứng đáng là
con người?
Cách trả lời những câu hỏi ấy làm nên hệ thống quan niệm nghệ thuật về con
người của một dân tộc, một thời đại, một tác giả…
Đặc biệt, quan niệm nghệ thuật về con người luôn qui định nguyên tắc và các
thủ pháp xây dựng nhân vật. Khi giảng dạy các tác phẩm văn học phương Đông,
giáo viên phải thấy được những điều sau :
+ Trong sử thi, tiểu thuyết sử thi, con người là con người cộng đồng, được phú cho
sức mạnh của cộng đồng, đại biểu cho cộng đồng nên con thực hiện bổn phận trước
cộng đồng. Điều con người quan tâm là an nguy của cộng đồng, là danh dự của
dòng họ, tập đoàn, của quốc gia, dân tộc. Ở Rama và Xita thì đó là danh dự của
đấng quân vương với tư cách là đại biểu cho đẳng cấp Kshatrya; ở Quan Vũ và
Trương Phi thì đó là lòng trung với sự nghiệp khuông phò Hán thất, là nghĩa huynh
đệ, là phẩm chất trung nghĩa theo chuẩn tắc Nho giáo đã được cộng đồng Hán tộc
thừa nhận.
+ Trong thơ Đường và thơ haicư thì con người lại được đặt trong quan hệ tương
thông hòa diệu với thiên nhiên. Ở bài Điểu minh giản của Vương Duy: cây quế
cành lá xum xuê nhưng hoa quế rất nhỏ, vậy mà nghe được tiếng “hoa quế rụng”, rõ
là “người nhàn”, “đêm vắng”. Kết thúc Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng là dòng Trường Giang chảy vào bầu trời vô hạn, thể hiện mối tình
thăm thẳm như dòng sông, vô tận như bầu trời. Đọc Thu hứng của Đỗ Phủ, ta thấy
mùa thu nở ra dòng lệ trên khóm cúc, bắt gặp trái tim thi nhân buộc mãi mối tình
quê hương trên con thuyền cô đơn. Ở đó, ta còn nghe thấy âm thanh dồn dập của

vậy hình tượng trong thơ ông trong sáng, linh thiêng, giọng thơ luôn thiết tha, trân
trọng.
Như trên cho thấy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người là điều rất quan
trọng, có tính chất quyết định để hiểu thế giới nghệ thuật trong một tác phẩm, trong
sáng tác của một tác giả. Mà muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của
một tác giả, giáo viên yêu cầu học sinh tất yếu phải đọc, phải tìm hiểu về thời
đại, về cuộc đời, về sự nghiệp sáng tác của tác giả.
*Chẳng hạn, về Lý Bạch, cuộc đời của ông là một một cuộc hành trình vươn tới
cái cao cả của lý tưởng làm người, cũng là cuộc hành trình đi tìm và thể hiện cái
đẹp của thiên nhiên, đời sống và của tình người.
Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn vĩ đại của Trung Quốc. Vì tính khoáng đạt, thơ lại
hay nói đến cõi tiên nên Lý Bạch được gọi là "Thi tiên". Thơ ông hiện còn trên
1000 bài.
Nội dung thơ Lí Bạch rất phong phú, với những chủ đề chính: ước mơ vươn tới
lí tưởng cao cả, khát vọng giải phóng cá tính, bất bình với hiện thực tầm thường, thể
hiện tình cảm phong phú và mãnh liệt. Phong cách thơ Lí Bạch rất hào phóng, bay
bổng lại rất tự nhiên, tinh tế và giản dị. Đặc trưng nổi bật của thơ Lí Bạch là sự
thống nhất giữa cái cao cả và cái đẹp.
* Đỗ Phủ xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và thơ ca lâu
đời. Ông sống trong nghèo khổ, chết trong bệnh tật.
Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, là danh nhân văn hóa thế
giới. Thơ Đỗ Phủ hiện còn khoảng 1500 bài, có nội dung rất phong phú và sâu sắc.
Đó là những bức tranh hiện thực sinh động và chân xác đến mức được gọi là "thi
sử"; đó cũng là niềm đồng cảm với nhân dân trong khổ nạn, chứa chan tình yêu
18
nước và tinh thần nhân đạo. Giọng thơ Đỗ Phủ trầm uất, nghẹn ngào. Ông sành tất
cả các thể thơ nhưng đặc biệt thành công ở thể luật thi. Với nhân cách cao thượng,
tài năng nghệ thuật trác việt, Đỗ Phủ được người Trung Quốc gọi là "Thi thánh".
* Thôi Hiệu là một nhà thơ rất nổi tiếng thời Thịnh Đường. Thời trẻ tính tình
ông phóng túng, phong cách thơ phù diễm. Về sau, ông du lịch nhiều nơi, thể

ông đã phấn đấu không mệt mỏi và có những đóng góp, cống hiến quan trọng cho
sự nghiệp phục hưng văn hóa Ấn Độ, giải phóng Ấn Độ khỏi ách thực dân; góp
phần vào cuộc đấu tranh của nhân loại vì độc lập, hòa bình, hữu nghị giữa các dân
tộc.
Tagore để lại một gia tài khổng lồ các tác phẩm thuộc nhiều kĩnh vực khác nhau
mà ở lĩnh vực nào cũng thành công xuất sắc: 52 tập thơ. 12 bộ tiểu thuyết, hàng
trăm truyện ngắn, 42 vở kịch, 63 tập tiểu luận triết học, khoảng 2500 bài ca, hàng
19
nghìn bức họa Trong đó, tập "Thơ Dâng" đã đem đến cho ông vinh dự của người
Châu Á đầu tiên được nhận Giải thưởng Nôben về văn học vào năm 1913.
* Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng Trung Quốc. Năm 13 tuổi, chứng kiến cảnh người
cha lâm bệnh, vì không có thuốc mà chết, ông ôm ấp nguyện vọng học nghề thuốc.
Một lần xem phim ông thấy những người Trung Quốc khỏe mạnh, hăm hở xem
quân Nhật chém một người Trung Quốc làm gián điệp cho quân Nga, ông nhận ra
rằng: chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Ông chuyển
sang làm văn nghệ.
3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu không gian và thời gian nghệ
thuật của tác phẩm:
Không gian và thời gian nghệ thuật là hình tượng không gian và thời gian được
sáng tạo nên trong tác phẩm, nó "định vị" con người trong thế giới nghệ thuật của
tác phẩm, nó luôn tương ứng với con người. Con người "phong tư tài mạo tót vời"
như Kim Trọng xuất hiện thì không gian quanh chàng bừng sáng, được mĩ hóa:
"Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao"
Chàng hiệp sĩ Lục Vân Tiên thì:
"Vân Tiên đầu đội kim khôi
Tay cầm siêu bạc mình ngồi ngựa ô
Một mình lướt trận xông vô"
Các anh hùng trong "Tam quốc" thì thường xuất hiện trong không gian và thời
gian chiến trận. Trong thơ Đường thì tâm hồn con người tương thông, hòa điệu với

thiết tha của thi nhân gửi theo hình bóng bạn hiền.
Nếu ở bài thơ này mà giáo viên không phân tích không gian tống biệt thì
sao thấy được cánh buồm trong đôi mắt thể hiện tình cảm, tấm lòng của thi
nhân? Ý tại ngôn ngoại là thế.
Lại chẳng hạn như bài thơ thứ nhất trong chùm thơ haicư của Bashô. Quê Bashô
ở Miê, ông lên Êđô ở, mười năm sau mới về thăm quê. Mười năm ở Êđô, cứ cảm
thấy Êđô là "đất khách".
Nhưng về quê rồi lại thấy nhớ Êđô, cảm thấy Êđô thân thiết như quê mình.
Đối với Bashô, Êđô là đất khách chứ đâu phải quê hương, nhưng sống ở Êđô đến
mười năm đủ cho Êđô trở thành thân thiết. Nhưng xa Êđô rồi mới cảm thấy "Êđô là
cố hương". Tại sao lại nói mười mùa sương? Đây là cách nói hoán dụ chỉ mười
năm, thời gian thật dài mà vẫn thấy Êđô là "đất khách", nhưng ở đến mười năm tự
nhiên thành gắn bó, để rồi khi xa Êđô, dẫu là về thăm lại quê hương bản quán, lại
thấy nhớ Êđô. Thời gian đã làm công việc của nó: đã làm "đất khách" thành "cố
hương". Cả không gian và thời gian ấy đều là trong thực tại mà cũng là trong tâm
tưởng được con người chứng nghiệm nên nó có sự gặp gỡ với những tâm hồn đồng
điệu.
Trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, không gian và thời gian nghệ thuật
vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Quán trà là không gian thực nhưng cũng
tượng trưng cho cuộc sống tối tăm, bệnh hoạn của nhân dân lao động. Nơi hành
quyết người cách mạng thì tranh tối tranh sáng, nhập nhoạng như chốn âm ti địa
ngục; kẻ đao phủ như quỷ sứ hiện hình, nghĩa địa thê lương với những nấm mồ
"chen dày khít, lớp này lớp khác như bánh bao trên mâm cỗ nhà giàu ngày mừng
thọ". Còn thời gian là quá trình vận động từ bóng tối ra ánh sáng nhưng là từ bóng
tối của đời thường đến bóng nhập nhoạng khi trời sắp sáng. Đến ánh sáng ban ngày
thì chiếu soi lên những nấm mồ thê thảm trên bãi tha ma. Ý nghĩa tượng trưng của
tác phẩm hiện ra thật rõ: Nếu cứ mê muội, tàn nhẫn sát hại lẫn nhau thì tương lai
của Trung Quốc chỉ là những nấm mồ.
Qua một vài ví dụ trên, chúng ta có thể thấy việc tìm hiểu, phân tích không -
thời gian nghệ thuật là yếu tố hữu cơ của hệ thống thi pháp.

những ý được nhà thơ thể hiện, chỉ ra được "nhãn tự" và "ý tại ngôn ngoại" của thế
giới nghệ thuật Đường thi.
Trong quá trình khai thác, giáo viên lưu ý học sinh cần thiết so sánh, đối
chiếu bài thơ ở phần phiên âm và dịch thơ
Chẳng hạn: Bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên của Lý Bạch thuộc
thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, Ngô Tất Tố dịch theo thể lục bát – thể thơ thất ngôn tứ
tuyệt, Ngô Tất Tố dịch theo thể lục bát – thể thể quen thuộc nhất đối với người Việt
Nam. Thể thơ này thuận lợi cho sự biểu hiện tình cảm tha thiết, đằm thắm.
Trong bản dịch thơ, Ngô Tất Tố đã dung chứ “’bạn” để dịch từ “cố nhân” là
đứng nhưng chủa đủ nghĩa. “Cố nhân” là bạn cũ. Trong thơ cổ, từ “Cố nhân” bao
giờ cũng ham nghĩa rất thietes tha Từ “yên hoa” được dịch thẳng nghĩa đen “hoa
khói cũng đúng, nhưng trong thơ Đường, từ “yên hoa” thường hàm nghĩa nơi phồn
hoa đô hội.
22
Bản dịch của Ngô Tất Tố rất hay, tiếc là chưa diễn tả được hình ảnh cánh
buồn đơn chiếc dần xa trong cái nhìn vời vợi trông theo ủa Lý Bạch. Nhưng dù vậy,
người dịch cũng đã thể hiệnđược tình bạn trong sáng, thiết tha đằm thắm của “thi
tiên”
Khi giảng bài Thu hứng của Đỗ Phủ, giáo viên hướng học sinh đến hai câu
thơ được xem là hay nhất trong bài:
"Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cổ viên tâm"
(Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà)
Nhãn tự của hai câu này là hai động từ "khai" (nở) và "hệ" (buộc): nở ra
nước mắt, buộc vào trái tim. Ngoài ra ở hai câu thơ còn có hai từ rất lạ: "lưỡng" và
"nhất". Đây là hai số từ được dùng làm trạng ngữ gắn với hai động từ "thi nhãn"
kia: "lưỡng khai", "nhất hệ".
"Lưỡng" là hai mà cũng là phiếm chỉ số nhiều, chỉ sự lặp lại: đã từng nở,
bây giờ lại nở; đã từng rơi nước mắt, bây giờ lại rơi nước mắt. Vậy nên Nguyễn

IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
1. Kết quả từ phiếu thăm dò ý kiến( từ phía giáo viên)
a. Sự cần thiết của việc giảng dạy tác phẩm phương Đông
Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết
8/10 2/10 0/10 0/10
b. Ý nghĩa của việc giảng dạy tác phẩm phương Đông
Nâng cao chất
lượng
Phát triển tư duy
học sinh
Học sinh hiểu tác
phẩm phương Đông
Phát huy tính tích
cực của học sinh
5/10 2/10 2/10 1/10
c. Mức độ hứng thú của học sinh
Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú
5/10 3/10 2/10 0/10
d. Mức độ hiểu bài của học sinh
Hiểu sâu sắc Bình thường Không hiểu Tùy thuộc
3/10 5/10 0/10 2/10
2. Kết quả từ phiếu thăm dò ý kiến(từ phía học sinh)
a. Mục đích học tác phầm phương Đông
Lớp Yêu thích Đạt điểm cao Đối phó Không có
10A4 23/37 11/37 3/37 0/37
11C12 26/38 10/38 1/38 0/38
12B10 21/37 15/37 1/37 0/37
b. Mức độ hứng thú
Lớp Rất hứng thú Không hứng
thú

- Nội dung các bài kiểm tra nên lấy một phần kiến thức từ tác phẩm văn học
nước ngoài.
2. Khuyến nghị khả năng áp dụng:
Ngoài những giải pháp đã nêu ở trên, người viết có thêm vài điều cần lưu ý
giáo viên trong quá trình giảng dạy tác phẩm phương Đông :
- Cần bảo đảm tính thống nhất giữa nội dung và hình thức, nhưng không
có nghĩa là với mọi tác phẩm đều phải khai thác tất cả những yếu tố của hệ thống
thi pháp. Bởi vì mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật có đặc điểm hình thức
riêng, không phải bao giờ nó cũng bao gồm đầy đủ mọi yếu tố. Vì vậy, với mỗi tác
phẩm, giáo viên cần xác định và lựa chọn hướng tiếp cận, trọng điểm phân tích cụ
thể, tránh sự tràn lan, yếu tố nào cũng đề cập đến nhưng cuối cùng vẫn không làm
rõ được cái hay đích thực của tác phẩm.
- Chẳng hạn khi phân tích tác phẩm tự sự, giáo viên lưu ý học sinh cần
quan tâm đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, cốt truyện, không gian và thời gian
nghệ thuật nhưng không đề cập đến mạch cảm xúc của chủ thể trữ tình. Vậy mà
mạch cảm xúc của chủ thể trữ tình lại là linh hồn của các bài thơ trữ tình; trong khi
đó cốt truyện thì không cần bàn tới, đơn giản vì ở thể loại này không có cốt truyên.
Ngay trong cùng một thể loại thì hướng khai thác ở các tác phẩm cũng không
giống nhau. Chẳng hạn như một số bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn bậc
THPT đã nói phần trên. Thơ haicư thì rất khó vì nó quá ngắn, nó chỉ ghi lại một
mảnh của đời sống, một sự ngẫu nhiên gặp gỡ giữa cái tâm của người nghệ sĩ với
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status