iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của ñề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 4
4. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Những ñóng góp mới của luận án 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của ñề tài 6
1.1.1. Cơ sở khoa học 6
1.1.2. Cơ sở thực tiễn 8
1.2. Tình hình sản xuất chè trên thế giới và trong nước 9
1.2.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới 9
1.2.2. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 12
1.3. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 14
1.4. Tình hình nghiên cứu chè trong nước 17
1.4.1. Tình hình nghiên cứu về giống chè 17
1.4.2. Tình hình nghiên cứu về nhân giống vô tính chè 21
1.4.3. Kết quả nghiên cứu ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển của
cây chè 24
1.5. Những kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu tài liệu 29
1.5.1. Về nghiên cứu chọn lọc cây ñầu dòng 29
1.5.2. Về nghiên cứu ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển của cây
chè Shan 29
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 31
2.1. Vật liệu nghiên cứu 31
3.3.2. Đặc ñiểm hình thái của các cây chè Shan ñầu dòng 49
3.3.3. Đặc ñiểm sinh trưởng của các cây chè Shan ñầu dòng 56
3.3.4. Khả năng cho năng suất của các cây chè Shan ñầu dòng 58
3.3.5. Chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm của những cây
chè Shan ñầu dòng 59
3.3.6. Kết quả nghiên cứu khả năng nhân giống của các cây chè Shan
ñầu dòng 62
3.4. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp nâng cao tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất
vườn cho vườn ươm giâm cành chè Shan ở vùng núi cao 72
3.4.1. Kết quả nghiên cứu xác ñịnh thời vụ giâm cành thích hợp cho
chè Shan ở Bằng Phúc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn 72
3.4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón ñến tỷ
lệ sống, tỷ lệ xuất vườn và chất lượng cây xuất vườn của chè
giâm cành 76
3.4.3. Kết quả nghiên cứu liều lượng bón phân và số lần bón phân
thích hợp cho chè Shan giâm cành 80
3.5. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng mới chè Shan
theo phương thức trồng rừng 84
3.5.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cây con ñến sinh
trưởng nương chè trồng mới theo phương thức trồng rừng 84
3.5.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của trồng chè trên một số nền
canh tác khác nhau ñến sinh trưởng của cây chè Shan thời kỳ
kiến thiết cơ bản 91
3.6. Thử nghiệm một số kết quả nghiên cứu vào sản xuất, phát triển chè
Shan ở Bắc Kạn 94
3.6.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu và xây dựng mô hình nhân giống
chè Shan bằng hình thức giâm cành 95
vi
3.6.2. Kết quả thử nghiệm trồng chè trên các nền canh tác khác nhau
16
TB
Trung bình
17 TL Tỷ lệ
18 TL.x vườn
Tỷ lệ xuất vườn
19 TN Thí nghiệm
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới 50 năm
qua (FAO 2010) 10
Bảng 1.2: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng một số nước trồng
chè chính trên thế giới năm 2009 11
Bảng 1.3: Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng chè ở Việt Nam
trong những năm gần ñây (FAO - 2010) 14
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng ñất ở Bằng Phúc 41
Bảng 3.2: Kết quả phân tích 1 số chỉ tiêu lý hoá tính một số loại ñất ở
Bằng Phúc 42
Bảng 3.4: Hiện trạng giống chè Shan ở Bằng Phúc năm 2003-2004 45
Bảng 3.5: Kết quả tuyển chọn cây chè Shan ñầu dòng ở Bằng Phúc 49
Bảng 3.6. Đặc ñiểm hình thái thân cành của 18 cây chè Shan ñầu dòng 50
Bảng 3.7. Đặc ñiểm, hình dạng màu sắc lá của 18 cây chè Shan ñầu dòng 52
Bảng 3.8: Kích thước lá và số ñôi gân chính của 18 cây chè Shan ñầu dòng 53
Bảng 3.9. Đặc ñiểm búp của 18 cây chè shan ñầu dòng 55
Bảng 3.10. Thời gian sinh trưởng búp và số lứa hái trong năm của các
cây chè Shan ñầu dòng 57
Bảng 3.11: Năng suất của 18 cây chè Shan ñầu dòng ở Bằng Phúc 58
Bảng 3.29: Ảnh hưởng của chiều cao cây con ñến ñường kính gốc của
nương chè Shan trồng mới 86
Bảng 3.30: Ảnh hưởng của chiều cao cây con ñến ñộ rộng tán của nương
chè Shan trồng mới 87
Bảng 3.31: Ảnh hưởng của chiều cao cây con ñến số cành cấp 1 trên cây
của nương chè Shan trồng mới 88
x
Bảng 3.32: Ảnh hưởng của chiều cao cây con ñến số lá trên cây của
nương chè Shan trồng mới 89
Bảng 3.33: Ảnh hưởng của chiều cao cây con ñến tỷ lệ sống của nương
chè Shan trồng mới 90
Bảng 3.34: Ảnh hưởng của chiều cao cây con ñến chi phí giống cho 1 ha
trồng mới 90
Bảng 3.36: Ảnh hưởng của các nền canh tác khác nhau ñến bộ khung tán
của cây chè con 93
Bảng 3.37: Ảnh hưởng của các nền canh tác khác nhau ñến tỷ lệ sống
của nương chè 94
Bảng 3.38: Kết quả xây dựng mô hình nhân giống chè Shan bằng hình
thức giâm cành 95
Bảng 3.39: Ảnh hưởng của trồng chè trên các nền canh tác khác nhau
ñến sinh trưởng của nương chè sau trồng 97
Bảng 3.40: Tình hình sinh trưởng của vườn cây ñầu dòng (vườn giống gốc) 98 xi
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ ñồ 1.1: Loại bỏ các cá thể qua các chỉ tiêu ño ñếm 19
Sơ ñồ 1.2: Chọn lọc cá thể chè 20
trong ñiều kiện tự nhiên không ñốn, cây cao, thân lớn (ñường kính thân 20-
2
30cm, ñặc biệt có cây ñường kính thân trên 1000cm), bộ khung tán to khoẻ,
tán cây có ñộ che phủ lớn, sức sinh trưởng khỏe, năng suất cao. Cũng giống
như các vùng chè Shan khác ở Bắc bộ, ở Bắc Kạn nơi có chè Shan phân bố
rộng rãi ở các huyện: Chợ Đồn, Chợ Mới, … nơi có ñộ cao từ 800-1000 mét,
tính ñến năm 2010 Bắc Kạn phấn ñấu có 2000ha chè Shan núi cao, do ñiều
kiện ñịa hình và khí hậu thuận lợi chè Shan Bắc Kạn sinh trưởng tốt và có
năng suất cao, bước ñầu ñã khẳng ñịnh vùng chè Shan hàng hóa nếu áp dụng
các giải pháp kỹ thuật phù hợp.
Qua nghiên cứu chất lượng sản phẩm chè Shan ở các vùng và của Bắc
Kạn cho thấy sản phẩm có hương thơm tự nhiên, vị dịu, có tuyết trắng tạo cho
sản phẩm có ngoại hình ñẹp. Sản xuất chè Shan núi cao tạo ra sản phẩm chè
an toàn. Từ nguyên liệu chè Shan núi cao có thể chế biến thành chè xanh, chè
ñen, chè vàng, chè Phổ Nhĩ có giá trị kinh tế cao. Lợi thế của nguyên liệu chè
Shan là tạo ra sản phẩm chè Phổ Nhĩ một loại sản phẩm chè ñộc ñáo có giá trị
giải khát và dược thảo. Sản xuất chè Shan núi cao vừa có tác dụng như rừng
phòng hộ, góp phần phát triển bền vững vùng núi cao, tạo công ăn việc làm,
xóa ñói giảm nghèo cho ñồng bào dân tộc.
Năm 1999 Thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ñã
có quyết ñịnh số 43/1999/QĐ-TTG ngày 13/10/1999 trong ñó có nội dung tập
trung phát triển 1vạn ha chè Shan ở vùng cao phía Bắc và giành một phần vốn
trong chương trình trồng 5 triệu ha rừng ñể phát triển chè Shan vùng núi cao.
Tuy nhiên, do chè Shan vùng núi cao ở Bắc Kạn ñược hình thành tự
phát nhờ sự tán hạt tự nhiên, hoặc do ñồng bào ñã trồng từ hạt của những cây
chè Shan mọc tự nhiên (không ñược tuyển chọn), khi quan sát vùng chè Shan
núi cao không có sự ñồng ñều về hình thái và chất lượng búp, trong ñó có cây
là chè Shan có những cây là các dạng thuộc thứ che khác. Sự không ñồng ñều
về hình thái ñó ñã có ảnh hưởng lớn ñến năng suất của cây chè và ñặc biệt là
4
- Nghiên cứu kỹ thuật trồng mới chè Shan theo phương thức trồng
rừng, nhằm phát triển vùng chè Shan núi cao một cách bền vững.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
- Chọn ñược các cây chè Shan ñầu dòng làm vườn cây giống gốc có
năng suất cao chất lượng tốt, cung cấp hom chè giống ñể phát triển vùng chè.
- Đề tài góp phần bảo tồn cây chè Shan ñầu dòng quý của vùng núi cao
Bắc Kạn.
- Nghiên cứu kĩ thuật giâm cành chè Shan, tạo cây chè con có kích
thước thích hợp ñể trồng chè Shan theo phương thức trồng rừng.
- Nghiên cứu kĩ thuật trồng chè Shan theo phương thức trồng rừng nâng
cao hiệu quả trồng mới
- Góp phần phát triển rừng ñầu nguồn bằng cây chè Shan một cách bền
vững, vừa tạo ra rừng có ñộ che phủ cao vừa tạo ra rừng cho thu hoạch
thường xuyên, quanh năm, từng bước xóa ñói, giảm nghèo cho ñồng bào dân
tộc thiểu số vùng núi cao.
- Kết quả của ñề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho cán bộ khoa học
kỹ thuật, cho người sản xuất kinh doanh chè, cho giáo viên, sinh viên, học
viên cao học trong học tập, nghiên cứu về cây chè.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài ñiều tra về hình thái, năng suất, chất lượng, tuyển chọn cây chè
Shan ñầu dòng; Nghiên cứu kĩ thuật giâm cành, kĩ thuật trồng mới nương chè
theo phương thức trồng rừng.
Đề tài nghiên cứu ñược giới hạn trong tỉnh Bắc Kạn chủ yếu là xã Bằng
Phúc huyện chợ Mới; và tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
5. Những ñóng góp mới của luận án
- Trên cơ sở ñiều tra ñánh giá tình hình sản xuất ñã khẳng ñịnh ñược
Bằng Phúc có ñiều kiện tự nhiên phù hợp cho phát triển chè Shan núi cao,
Shan (Camellia Sinensis var. Shan). Mỗi thứ chè có ñặc ñiểm hình thái: Thân,
cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lượng khác nhau, có
yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau. Trong ñó chè
Shan thường ñược phân bố ở vùng núi cao so với mực nước biển.
Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm
ñã có khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ
ñậu quả rất thấp, thường chỉ ñạt từ 2 - 4%. Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi hoa
khi kết quả có từ 1 - 4 hạt [7]. Mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự
thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác
hoa, ñây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân li
lớn về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng. Nói chung những cây
chè con mọc từ hạt có sự phân li lớn so với cây mẹ.
Chè Shan núi cao ñược trồng từ hạt cũng tuân theo quy luật trên, giữa
các cá thể có sự phân li lớn, có rất nhiều cá thể không còn giữ ñược những
ñặc tính quý là khả năng cho năng suất và chất lượng cao của giống chè Shan.
Đây là cơ sở khoa học ñể nghiên cứu chọn cây ñầu dòng phục vụ cho công tác
nhân giống vô tính, phát triển diện tích chè Shan.
7
Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả nhân giống bằng hạt thì người
ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương
pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành Ưu ñiểm của phương pháp
nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ ñược những ñặc tính
tốt của cây mẹ, vườn chè có ñộ ñồng ñều cao, có khả năng cho năng suất cao
hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có ñộ ñồng ñều cao, dễ canh tác, thu hái và
chế biến. Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất
chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường ñược nhân giống
bằng phương pháp giâm cành.
Giâm cành có ưu ñiểm hơn so với các hình thức nhân giống vô tính
khác (nuôi cấy mô, chiết, ghép ) là không yêu cầu kỹ thuật quá cao, có hệ số
ñược trồng từ cây con mọc từ hạt hoặc bằng hạt lấy ở trong rừng, do vậy cũng
có các ñặc ñiểm là có ñộ phân li lớn. Trong rừng chè, vườn chè chỉ có từ 30-
35% cá thể chè Shan, phần còn lại là các dạng trung gian khác. Nguyên liệu
ñược thu hái từ những cây chè Shan khi chế biến cho chất lượng cao hơn so
với nguyên liệu thu hái từ các dạng chè trung gian khác.
Mặt khác, hầu hết các nương chè Shan ñược ñồng bào trồng ñều ở xa
so với nơi sinh sống và phân tán, nằm ở nơi có ñộ dốc lớn, ñi lại vận chuyển
chủ yếu bằng thủ công, khó khăn, cây chè Shan ñược trồng theo phương
pháp trồng rừng: Phát băng, ñào hố, có sự cạnh tranh lớn giữa cây chè và
cây tự nhiên. Do vậy cây chè con cần có kích thước lớn hơn ñể có khả năng
chống chịu tốt hơn, bầu chè (cây chè con) có khối lượng nhẹ hơn ñể thuận
lợi cho quá trình vận chuyển ñi trồng ở những nơi có ñịa hình dốc, phức tạp,
giao thông khó khăn.
9
Những vấn ñề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của ñề tài. Nghiên cứu
chọn lọc cây ñầu dòng phục vụ công tác nhân giống cho vùng, nghiên cứu kỹ
thuật nhân giống, tạo cây con thích hợp, phục vụ cho kỹ thuật trồng chè Shan
vùng núi cao của Bằng Phúc - Bắc Kạn và những vùng tương tự.
1.2. Tình hình sản xuất chè trên thế giới và trong nước
1.2.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ [60], Quốc gia ñầu tiên trên thế giới phát triển
sản xuất chè là Trung Quốc, sau ñó ñược truyền bá sang Nhật Bản vào những
năm 805 sau Công nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780,
vào Nga năm 1833, Malaixia năm 1914, vào những năm 1920 vào Châu Phi:
Kenia, Malavi, Ghine ñến nay chè ñã ñược trồng ở 58 quốc gia với quy mô
khác nhau, phân bố ở khắp 5 Châu như sau:
- Châu Á: Châu Á có 20 nước trồng chè bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ,
Srilanca, Indonexia, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Bănglañet, Iran, Myanma, Việt
Nam, Thái Lan, Lào, Mailaixia, Campuchia, Nêpan, Philipin, Triều Tiên,
Vạn
tấn
Tốc ñộ tăng
so với 10 năm
trước (%)
1959
83,20
- 8,97
- 74,63
-
1969
101,60
22,1 10,00
1,1 101,60
36,1
1979
189,71
86,7 7,73
-22,7 146,61
qua cho thấy:
- Diện tích chè thế giới 50 năm qua tăng mạnh trong 30 năm từ 1954 -
1984. Sau mười năm diện tích chè thế giới tăng từ 22,1% ñến 86,7% tăng
mạnh nhất là 10 năm từ 1969-1979, và ổn ñịnh trong 20 năm gần ñây, chỉ
tăng khoảng 1,0% sau 10 năm.
- Năng suất chè thế giới năm 1979 giảm 22,7% so với 10 năm trước ñó,
các thập kỷ sau tăng từ 12,1% ñến 27,0% năng suất cao nhất vào năm 2009,
ñạt 12,99 tạ/ha.
- Sản lượng chè thế giới tăng mạnh trong 5 thập kỷ qua và ñạt 319,69
vạn tấn/năm. Với nhịp ñộ tăng sau mỗi thập kỷ từ 13,4% ñến 49,7%, tăng
mạnh nhất vào giai ñoạn 1969 - 1989.
11
Bảng 1.2: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng một số nước
trồng chè chính trên thế giới năm 2009
STT
Nước
Diện tích
(vạn/ha)
Năng suất
(Tạ/ha)
Sản lượng
(vạn/tấn)
1 Trung Quốc 94,31 8,70 82,10
2 Ấn Độ 44,50 18,98 84,50
3 Srilanca 21,07 14,38 30,30
4 Kênia 14,00 20,71 29,00
5 Nhật Bản 4,70 20,21 9,50
6 Việt Nam 10,20 9,51 9,70
- Thời kỳ Pháp thuộc (1882 - 1945):
Ngay sau khi chiếm Đông Dương người Pháp ñã phát triển sản xuất
chè, nhằm khai thác tiềm năng phát triển cây trồng nhiệt ñới ở Việt Nam.
- Năm 1890, Đồn ñiền sản xuất chè ñầu tiên ñược thành lập tại Tĩnh
Cương - Phú Thọ với diện tích là 60ha, sản xuất chè xuất khẩu sang Châu Âu.
- Năm 1918 trạm nghiên cứu Nông nghiệp ñầu tiên ñược thành lập tại
Phú Hộ - Phú Thọ, chuyên nghiên cứu về phát triển chè, các kỹ thuật nông
nghiệp và công nghệ chế biến chè của Indonexia, Srilanca ñã ñược nghiên cứu
áp dụng với nhiều thiết bị chế biến nhập từ Anh. Sau ñó là có 2 trạm nghiên
cứu khác về chè ñược thành lập tại Plây Cu (1927) và Bảo Lộc (1931).
- Đến 8-1945 Việt Nam ñã có 13.505ha chè, hàng năm sản xuất ra 6000
tấn chè khô, chè ñen xuất khẩu sang thị trường Bắc Phi (Angiêria, Tuynizi,
Marốc ). Chất lượng chè của Việt Nam ñược ñánh giá tốt, tương ñương với
chè Ấn Độ, Srilanca và Trung Quốc [60].
- Thời kỳ 1945 - 1954:
Đây là thời kỳ có thể coi là suy thoái của ngành sản xuất chè Việt Nam.
Do ảnh hưởng của chiến tranh, các vườn chè bị bỏ hoang, sản xuất chè ñình
trệ, làm cho diện tích chè, sản lượng chè ñều giảm sút.
13
- Thời kỳ 1954 - 1990:
Sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc cây chè ñược ñánh giá là cây có giá trị
kinh tế cao, có tầm quan trọng chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội ở
miền Bắc Việt Nam. Nhiều nông trường Quốc doanh ñược thành lập với sự
tham gia của các ñơn vị bộ ñội như: Nông trường Vân Lĩnh, nông trường Phú
Sơn, Đoan Hùng , Sông Lô (Phú Thọ), Nghĩa Lộ (Yên Bái), nông trường
Tân Trào (Tuyên Quang), Sông Cầu, Quân Chu (Thái Nguyên), nhiều nhà
máy chè ñen, chè xanh cũng ñược thành lập với các thiết bị tiên tiến ñồng bộ
nhập từ Liên Xô, Trung Quốc. Cùng với nông trường quốc doanh thì các hợp
tác xã chuyên canh cây chè cũng ñược thành lập, các cơ sở nghiên cứu chè ở
(1000 tấn)
Xuất khẩu
(1000 tấn)
2005 70,30 9,90 69,90 55,60
2006 80,00 9,46 75,70 67,90
2007 98,00 9,61 94,20 74,80
2008 99,00 9,54 94,50 62,00
2009 102,00 9,51 97,00 95,00
(Nguồn: FAO Strt Citation 2010)[102]
Hiện nay Việt Nam là một trong 10 quốc gia ñứng ñầu thế giới về diện
tích và sản lượng chè, ñứng thứ 8 về xuất khẩu. Cả nước có 34 tỉnh thành phố
sản xuất chè với tổng diện tích là 120.000ha, tổng sản phẩm chế biến hàng
năm trên 120 nghìn tấn. Trong ñó khoảng 70% là chè ñen, còn lại 30% là chè
xanh, và các loại chè khác.
1.3. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc
nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm. Giống ñược coi là tiền
ñề của sản xuất, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp.
Ấn Độ là quốc gia chỉ ñứng hàng thứ hai trên thế giới về diện tích chè
nhưng lại ñứng ñầu thế giới về sản lượng chè. Đạt ñược thành tích trên là do
Ấn Độ rất quan tâm nghiên cứu triển khai các giống tốt vào sản xuất.
15
Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ [60], thì từ những năm 50 của thế kỷ 20 Ấn
Độ ñã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt, trong ñó có 102 giống
chè ñược nhân bằng phương pháp vô tính. Đến năm 2009 Ấn Độ ñã có trên
80% diện tích chè ñược trồng bằng giống tốt. Trong ñó có trên 20% giống
ñược trồng bằng cây con ñược nhân giống bằng phương pháp giâm cành.
Eden (1958) [92], cho rằng: Những giống chè ở Trung Quốc, Ấn Độ có
nhiều dạng hình khác nhau, có khả năng sinh trưởng và cho năng suất khác
, trong ñó có các giống nổi tiếng như TRI
777
,
TRI
2043
. Trong những năm 1950, 1960 Srilanca ñã chọn ra các dòng chè triển
vọng như TRI
14
, DT, DN, DP và DV [60].
Hiện nay diện tích trồng chè bằng các giống chè ñược nhân giống vô
tính ñạt trên 40% diện tích trồng chè trong cả nước.
Theo Satoshi Yamagushi, Jitanaka (1995) [104], giống chè chủ yếu ở
Nhật Bản là giống chè lá nhỏ, phù hợp cho chế biến chè xanh.
Công tác chọn dòng cũng ñược ñặc biệt chú ý ở Nhật Bản, nhiều giống
chè mới ñã ñược ñưa vào sản xuất, trong ñó giống Yabukita ñược trồng phổ
biến nhất chiếm tới 70% diện tích chè ở Nhật Bản [31].
Kenia mới chỉ bắt ñầu sản xuất chè vào những năm 1925 - 1927 tuy
nhiên do có ñiều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển, do
chú trọng ñầu tư, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cho nên Kênia là
một trong những quốc gia có năng suất chè cao nhất thế giới, ñạt trên 1500kg
chè khô/ha.
Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ (2000) [60] Kênia lần ñầu tiên nhập giống chè
vào năm 1903 và trồng thành công ở Limuri với diện tích ban ñầu là 0,81ha,
cho ñến nay công tác giống ñược quan tâm rất nhiều ở Kênia. Các giống chè
chọn lọc, giâm cành cho năng suất cao hơn giống chè ñại trà tới 20%. Diện
tích chè ñược trồng bằng các giống chọn lọc, giâm cành chiếm tới 67% ở khu
vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các ñồn ñiền lớn. Ngoài nhân
giống bằng hình thức giâm cành, Kênia còn nhân giống bằng hình thức ghép.