tóm tắt quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của xứ ủy nam bộ và trung ương cục miền nam từ năm 1945 đến năm 1954 - Pdf 22

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐOÀN THỊ HƯƠNG
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA XỨ ỦY NAM BỘ VÀ TRUNNG ƯƠNG
CỤC MIỀN NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954
Chuyên ngành :Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 62 22 56 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2014
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: GS, TS Trịnh Nhu
Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Về khoa học
Xứ uỷ Nam Bộ (1945-1951) là cấp uỷ Đảng cao nhất của Đảng bộ Nam
Bộ, trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Trung ương Cục miền Nam
(1951-1954) là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương tại Nam Bộ-có
nhiệm vụ lãnh đạo kháng chiến kiến quốc ở Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự chỉ đạo của Trung ương Đảng về xây dựng Xứ
uỷ Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam; cơ cấu tổ chức, bộ máy và hoạt động
của Xứ uỷ Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam trong quá trình lãnh đạo
kháng chiến, kiến quốc ở Nam Bộ và thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với cách
mạng Campuchia.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình xác lập, biến
đổi về cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhân sự chủ chốt; hoạt động lãnh đạo của Xứ
ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam trên các phương diện chính yếu: phát
động và điều hành kháng chiến, lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang, mặt
trận dân tộc thống nhất, chính quyền, tổ chức nền kinh tế, văn hóa kháng
chiến, chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng Đảng, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ
phong trào kháng chiến của nhân dân Campuchia.
Thời gian:Luận án nghiên cứu trong thời gian từ năm 1945 đến 1954.
Không gian: Luận án nghiên cứu trên địa bàn Nam Bộ và các khu vực
thuộc phạm vi phụ trách của Xứ ủy Nam Bộ

, Trung ương Cục miền Nam
theo sự phân công của Trung ương Đảng, gồm các tỉnh Nam Bộ và
Campuchia.
4. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận

Từ năm 1948, hai tỉnh cực Nam Trung Bộ là Bình Thuận và Ninh Thuận thuộc về Liên Khu 5
3
Luận án được thực hiện trên cơ sơ vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và
phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nguyên tắc xây dựng tổ chức
Đảng kiểu mới của Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của

1. Các công trình có liên quan đến đề tài
Vấn đề xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ và Trung
ương Cục miền Nam từ 1945 đến 1954 đã được nghiên cứu ở những mức độ,
phạm vi, góc độ khác nhau trong một số công trình lịch sử Đảng, lịch sử dân
tộc, lịch sử quân sự, lịch sử các ban, ngành, đoàn thể Trung ương và lịch sử địa
phương.
1.1. Một số công trình nghiên cứu cơ bản
Đơn cử một số công trình cơ bản như: Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng
Trung ương, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, sơ thảo, Tập 1 (1920 - 1954),
Nxb Sự thật, H. 1981 (tái bản năm 1984); Học viện Chính trị-hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt
Nam, tập III: Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc (1945 -1954), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009; Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh-Viện Lịch sử Đảng, GS,TS Trịnh Nhu chủ biên, Lịch sử biên niên
Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb Chính trị quốc
gia, H. 2002 (tái bản có sửa chữa, bổ sung năm 2008); Ban Chỉ đạo tổng kết
chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp - Thắng lợi và Bài học, Nxb Chính trị quốc gia H. 1996 v.v. Trong các
cuốn sách đó có trình bày một số sự kiện về tổ chức và hoạt động của Xứ ủy
Nam Bộ, Trung ương Cục miền thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược; phản ánh một số khía cạnh công tác xây dựng Đảng ở Nam Bộ.
1.2. Sách chuyên khảo, lịch sử Đảng bộ và lịch sử chiến tranh cách
mạng các khu, tỉnh miền Nam
Một số sách chuyên khảo tiêu biểu như: Quân khu 9 - 30 năm kháng
chiến (1945-1975), Nxb QĐND, H.1996; Quân khu 9 Ba mươi năm kháng
chiến (1945-1975), Nxb QĐND, H.1998; Tây Nam Bộ 30 kháng chiến (1945-
1975), Ban chỉ đạo và biên sọan truyền thống Tây Nam Bộ, 2000; Lịch sử
Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ (1945-1954), Nxb CTQG, H.2003…, đã thể hiện một số chủ trương
của Xứ ủy Nam Bộ và Trung Cục miền Nam, chủ yếu là về quân sự. Sách lịch

Hồ Chí Minh, 1993. Lucien Bodard, Cuộc chiến tranh Đông Dương (La
Guerre d’Indochine), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004 đề cập ít nhiều
đến sự lãnh đạo của cơ quan lãnh đạo kháng chiến ở Nam Bộ.
Nhìn chung, công tác xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ
và Trung ương Cục miền nam mới chỉ được nghiên cứu một cách hạn chế,
thường chìm vào bối cảnh kháng chiến.
2. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu
Đến nay, chưa có công trình lịch sử nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn
diện, hệ thống về cơ cấu tổ chức, bộ máy, vai trò lãnh đạo, những sáng tạo trong
6
hoạt động của hai cơ quan lãnh đạo cao cấp, đặc thù của Đảng ở Nam Bộ trong
kháng chiến chống thực dân Pháp. Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền
Nam thời kỳ 1945-1954 chưa bao giờ được coi là một đối tượng nghiên cứu độc
lập. Sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của Đảng đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ ra
sao? Hệ thống các cấp ủy Đảng, nhất là cơ quan đứng đầu ở Nam Bộ được tổ
chức như thế nào, có những đặc điểm gì? Sự lãnh đạo kháng chiến có những
sáng tạo gì để đưa cuộc kháng chiến “đi trước về sau” của nhân dân Nam Bộ đi
đến thắng lợi? Cơ quan lãnh đạo Đảng ở Nam Bộ thực hiện nhiệm vụ quốc tế,
giúp đỡ cách mạng của nhân dân Campuchia như thế nào? Chừng nào những
vấn đề trên chưa được làm sáng tỏ và luận giải thấu đáo thì những đánh giá, kiến
giải về quá trình xây dựng Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược vẫn chưa đầy đủ, sâu sắc và toàn diện.
3. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
- Phân tích toàn diện những chuyển biến của phong trào kháng chiến ở
Nam Bộ tác động đến công tác xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Nam
Bộ; lý giải những nguyên nhân Trung ương Đảng quyết định củng cố Xứ ủy
Nam Bộ (trong khi giải thể Xứ ủy Bắc Bộ, Xứ ủy Trung Bộ) ngay trong năm
đầu toàn quốc kháng chiến; rồi lại quyết định giải thể Xứ ủy Nam Bộ, lập
Trung ương Cục miền Nam (1951), thiết lập sự lãnh đạo trực tiếp của Trung
ương đối với các Đảng bộ Nam Bộ.

tiêu khởi nghĩa giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân.
Trong hoàn cảnh chính quyền thuộc địa liên tục khủng bố, Đảng bộ Nam
Kỳ có một hạn chế lớn là không thống nhất về tổ chức. Sự tồn tại của 2 cơ quan
lãnh đạo trong cùng một Đảng bộ là đặc điểm ảnh hưởng đến công tác xây
dựng Đảng và lãnh đạo kháng chiến ở Nam Bộ.
Nhận thức rõ tác hại đó, dưới sự chỉ đạo của Trung ương, 2 thống nhất cơ
quan lãnh đạo, nhưng do mâu thuẫn khá sâu sắc nên việc thống nhất cơ quan
lãnh đạo của Đảng bộ Nam Kỳ không mang lại kết quả. Xứ ủy chưa kịp củng
cố thì cuộc kháng chiến ở Nam Bộ đã bắt đầu.
1.1.1.2. Nhân dân Nam Bộ đi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược và những yêu cầu củng cố Xứ ủy Nam Bộ
Công cuộc kháng chiến khởi đầu từ Nam Bộ, trong hoàn cảnh xa Trung
ương (đóng ngoài Bắc), giao thông, liên lạc gặp nhiều khó khăn. Lãnh đạo
kháng chiến trong bối cảnh rất cam go, nhưng hệ thống tổ chức Đảng ở Nam
Bộ, nhất là cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ còn chia rẽ về mặt tổ chức, gây nên
tình trạng “Việt Minh cũ”, “Việt Minh mới” “dẫm chân nhau”. Thực trạng đó là
nguy cơ rất lớn làm tổn hại thanh danh, vai trò lãnh đạo của Đảng, và nguy hại
đối với phong trào kháng chiến của quân và dân Nam Bộ.
Nguyên tắc tổ chức của chính Đảng vô sản theo chủ nghĩa Lênin, yêu cầu
của thực tiễn kháng chiến đòi hỏi Đảng bộ Nam Bộ phải nhanh chóng chấn
chỉnh lại hàng ngũ, kiện toàn một cơ quan lãnh đạo tập trung, thống nhất về tổ
8
chức, ý chí và hành động, đảm bảo sứ mệnh lãnh đạo công cuộc kháng chiến
kiến quốc.
1.1.1.3. Thống nhất cơ quan lãnh đạo của Đảng, lập Xứ ủy duy nhất của
Nam Bộ
Đáp ứng yêu cầu cấp bách của tình hình và thực hiện nguyên tắc tổ chức
của chính đảng Mác-Lênin, được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ
Nam Bộ đã tiến hành nhiều cuộc họp để chỉnh đốn tổ chức, giải thể 2 Xứ uỷ
“Tiền Phong” và Xứ ủy “Giải phóng”, thành lập một Xứ uỷ thống nhất lấy tên

nhanh” của chúng, tạo điều kiện cho các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ có
thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến.
Sau một thời gian gián đoạn, cuối năm 1946, Xứ ủy lâm thời được tổ
chức lại, quyết định củng cố các khu kháng chiến, xây dựng căn cứ địa trong
các vùng nông thôn, căn cứ ven đô, những nơi chính quyền cách mạng kiểm
soát; lãnh đạo các Đảng bộ địa phương xây dựng lực lượng, kiên cường bám
trụ, chống địch đánh chiếm, càn quét, bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến, bảo
vệ nhân dân, mở rộng căn cứ.
1.1.2.2. Xây dựng và chấn chỉnh lực lượng vũ trang Nam Bộ
Trước thực trạng lực lượng vũ trang Nam Bộ phức tạp, hoạt động quân sự
tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thiếu lãnh đạo, chỉ huy, trang bị Xứ ủy
lãnh đạo chấn chỉnh bộ đội, chú trọng chất lượng bộ đội với tinh thần chiến đấu
cao, trung thành, hăng hái kháng chiến, đào tạo cán bộ, huấn luyện chiến sĩ
nhằm thống nhất lãnh đạo, thống nhất chỉ huy trong lượng vũ trang, đặt lực
lượng vũ trang Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời cử cán bộ sang
Campuchia công tác, xây dựng hành lang đưa vũ khí và lực lượng trong Việt
kiều từ Thái Lan về Nam Bộ; phát triển dân quân du kích, tự vệ; xây dựng lực
lượng công an cách mạng.
1.1.2.3. Lãnh đạo xây dựng, củng cố chính quyền, chỉ đạo công tác Đảng
ở địa phương và giúp cách mạng Campuchia
Xứ ủy lãnh đạo củng cố chính quyền theo đúng tinh thần đại đoàn kết của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau nhiều lần điều chỉnh, Uỷ ban Hành chính Nam Bộ
bao gồm các ủy viên thuộc nhiều thành phần đảng phái, tôn giáo, giai cấp. Từ
tháng 3-1946, do chiến tranh, Xứ ủy không thể lãnh đạo tập trung, công tác xây
dựng chính quyền ở Nam Bộ đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương
Đảng và Chính phủ, phạm vi điều hành của Uỷ ban nhân dân Nam Bộ chỉ bó
hẹp trong một số tỉnh giữa Khu 7 và Khu 8. Năm 1947, Xứ ủy thực hiện chủ
trương của Trung ương, chia Nam Bộ thành 3 khu: Khu 7, Khu 8 và Khu 9.
Xứ ủy đã tiến hành chỉ đạo công tác Đảng ở một số địa phương. Từ giữa
năm 1946, công tác chỉnh đốn Đảng ở Nam Bộ đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của

chức một số ban chuyên môn của Đảng, chính quyền và quân sự; qui định lề lối
làm việc và hội họp quân dân chính. Cơ quan Xứ uỷ cùng bộ máy giúp việc
ngày càng được kiện toàn theo hướng đáp ứng tốt hơn yêu cầu lãnh đạo kháng
chiến trên địa bàn Nam Bộ.
1.2.2. Xứ ủy Nam Bộ lãnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện trên
địa bàn Nam Bộ
1.2.2.1. Phát triển phong trào chiến tranh du kích gắn kết với xây dựng
lực lượng vũ trang 3 thứ quân
Gắn liền với lãnh đạo phong trào kháng chiến, Xứ ủy Nam Bộ đẩy mạnh
lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân
11
đánh giặc. Xứ ủy Nam Bộ tập trung xây dựng các chi đội chủ lực, phát triển lên
tới trung đoàn, khắc phục tình trạng phân tán trong chỉ huy. Đồng thời, đẩy
mạnh xây dựng dân quân du kích và bộ đội địa phương; tăng cường xây dựng
các căn cứ làm nơi đứng chân cơ quan lãnh đạo các cấp và xây dựng thực lực
kháng chiến; đẩy mạnh phong trào đô thị, nhất là khu vực nội thành Sài Gòn-
Chợ Lớn; tăng cường đánh địch trên mặt trận địch vận.
1.2.2.2. Lãnh đạo xây dựng Đảng bộ và Mặt trận, các đoàn thể nhân dân
Nam Bộ thống nhất và mạnh mẽ
Về xây dựng Đảng, Xứ ủy chủ trương xây dựng Đảng bộ Nam Bộ thống
nhất ý chí và hành động; chú trọng công tác xây dựng, củng cố các cấp bộ
Đảng, tăng cường công tác rèn luyện, giáo dục, nâng cao trình độ cho cán bộ
đảng viên, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến đang diễn ra ngày càng quyết
liệt. Năm 1949, Xứ ủy ra Nghị quyết về công tác Đảng, nhấn mạnh nhiệm vụ
phát triển đảng viên. Phát triển Đảng trong bộ đội được đẩy mạnh. Cuối năm
1950 toàn Nam Bộ phát triển lên 110.387 đảng viên; có 2.500 chi bộ. Cuối năm
1948, thực hiện tổ chức hệ thống Đảng trong quân đội quốc gia, thực hiện
nguyên tắc: Đảng chỉ có một hệ thống tổ chức.
Đối với Mặt trận, đoàn thể, Xứ ủy lãnh đạo xây dựng và phát huy vai trò
của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng vào sự nghiệp kháng chiến nhằm đoàn

* *
Từ 1945 đến 1951, Xứ ủy Nam Bộ là cơ quan lãnh đạo cao nhất của
Đảng bộ Nam Bộ, trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Nam Bộ. Chủ
trương duy trì Xứ ủy Nam Bộ là hợp lý trong điều kiện phong trào kháng chiến
ở Nam Bộ xa sự chỉ đạo của Trung ương. Trong quá trình xây dựng tổ chức và
hoạt động, Xứ ủy Nam Bộ gặp rất nhiều khó khăn, phải sớm đương đầu với
cuộc xâm lăng của thực dân Pháp; thực lực cách mạng ở buổi đầu xây dựng với
bao bộn bề và trở ngại; nhận thức, kinh nghiệm và tâm lý của đội ngũ cán bộ
chủ chốt còn nhiều bỡ ngỡ trước cục diện mới; những vấn đề nội bộ từ thời kỳ
đấu tranh giành chính quyền chưa được giải quyết, trong hoàn cảnh chiến tranh
lại nảy sinh những khó khăn phức tạp mới.
Trong bối cảnh đó, Xứ ủy Nam Bộ nhận được sự quan tâm chỉ đạo của
Trung Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ trương, tư tưởng, tổ
chức, cán bộ, từng bước chấn chỉnh và kiện toàn cơ quan Xứ ủy Nam Bộ.
Trong quá trình hoạt động, tuy có thời gian bị gián đoạn, Xứ ủy Nam Bộ
đã thực hiện vai trò lãnh đạo phong trào kháng chiến và giúp phong trào kháng
chiến của nhân dân Campuchia. Trên nhiều vấn đề, nhiều nội dung lãnh đạo,
Xứ ủy đã phát huy sự chủ động, sáng tạo, có những đóng góp to lớn vào lý luận
thực và tiễn lãnh đạo kháng chiến nói chung cũng như công tác xây dựng Đảng.
Xứ ủy Nam Bộ đã chủ động đề xuất Trung ương Đảng thiết lập một cơ quan
lãnh đạo cao hơn ở Nam Bộ, từ đó, dẫn đến sự thành lập Trung ương Cục miền
Nam, đưa phong trào kháng chiến ở Nam Bộ phát triển lên tầm cao mới.
13
Chương 2
TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO
KHÁNG CHIẾN Ở NAM BỘ ĐI ĐẾN THẮNG LỢI (1951-1954)
2.1. Thành lập Trung ương Cục miền Nam, lãnh đạo đẩy mạnh
kháng chiến trong giai đoạn giữ vững và phát triển thế chủ động chiến
lược (1951-1953)
2.1.1. Đáp ứng yêu cầu kháng chiến, Trung ương Đảng quyết định

Tháng 5-1951, Trung ương Cục miền Nam tiến hành Hội nghị quán triệt
Nghị quyết Đại hội II của Đảng, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương. Ngày 7- 6-1951, Trung ương Cục miền
Nam ra "Thông cáo số 1" tuyên bố bãi bỏ Xứ uỷ Nam Bộ và thành lập Trung
ương Cục miền Nam. Các bộ phận giúp việc của Trung ương Cục miền Nam
được kiện toàn trên cơ sở các ban chuyên môn giúp việc của Xứ uỷ Nam Bộ
xây dựng từ trước, sau đó thành lập thêm và điều chỉnh.
Tháng 5-1952, đồng chí Lê Duẩn ra Trung ương công tác. Thành phần
nhân sự và phân công trong Trung ương Cục còn lại 5 "Trung ủy"; Lê Đức Thọ
làm Bí thư. Cùng với kiện toàn về tổ chức, bộ máy và xác định rõ qui chế, lề lối
làm việc, trên cơ sở tuân thủ các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị,
Trung ương Cục miền Nam đã khẩn trương chỉ đạo phong trào kháng chiến ở
Nam Bộ và bộ phận Đảng Lao động Việt Nam ở Campuchia.
2.1.3. Lãnh đạo phân lại địa giới hành chính; kiện toàn bộ máy chính
quyền các cấp; đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng
Trung ương Cục miền Nam ra đời đúng vào thời điểm thực dân Pháp tăng
cường bình định Nam Bộ, đánh phá phong trào kháng chiến trên các mặt quân
sự, chính trị, kinh tế, văn hóa Trước các thủ đoạn mới của địch, một bộ phận
cán bộ, đảng viên lúng túng, xuất hiện tư tưởng bi quan, dao động; sự lãnh đạo
phong trào kháng chiến bộc lộ nhiều khuyết điểm, hạn chế. Trung ương Cục
miền Nam đề ra nhiệm vụ: "giành lại thế chủ động chiến trường, phát triển sâu
rộng du kích chiến tranh trên chiến trường Nam Bộ"; vạch ra các công tác
chính; chỉ đạo phân định lại địa giới hành chính; sắp xếp lại tổ chức các cơ quan
kháng chiến hành chính, các đơn vị vũ trang.
Trung ương Cục miền Nam trực tiếp chỉ đạo sáp nhập 17 tỉnh, thành của
Nam Bộ thành 11 tỉnh và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; giải thể các Khu 7, Khu
8, Khu 9, phân chia Nam Bộ thành 2 Phân Liên khu là Phân Liên khu miền
Đông và Phân Liên khu miền Tây, tạo thuận tiện việc lãnh đạo kháng chiến của
Trung ương Cục, sự chỉ đạo của các cơ quan Quân-Dân-Chính Nam Bộ, thuận
lợi cho việc bố trí lại lực lượng vũ trang thích hợp với hoàn cảnh chiến trường.

tộc thiểu số.
2.1.5.Lãnh đạo phát triển nền kinh tế kháng chiến, tăng cường khối đại
đoàn kết dân tộc
Xây dựng kinh tế kháng chiến là một nội dung quan trọng trong lãnh đạo
của Trung ương Cục miển Nam. Trung ương Cục miền Nam đề ra phương
châm thực hiện công tác kinh tế phục vụ kháng chiến là: phát huy mọi khả
năng, điều kiện sản xuất nhằm đảm bảo tự cung tự cấp, không trông chờ ỷ lại,
đặc biệt là ở những vùng căn cứ; sản xuất, tiết kiệm phải dựa vào nhân dân, tin
ở nhân dân để giải quyết mọi vấn đề; tăng gia sản xuất và tiết kiệm, phải lấy
nông nghiệp làm chủ yếu Nhiệm vụ kinh tế của Nam Bộ là: Tích cực bảo vệ
16
nền kinh tế và quyết tâm thực hiện kế hoạch tăng gia sản xuất tự cung tự cấp,
phá bao vây kinh tế của địch, đồng thời tích cực đánh phá kinh tế của địch, chú
trọng đánh địch lấy quân nhu địch làm quân nhu của ta.
Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo các địa phương thực hiện tạm cấp
ruộng đất và thực hiện giảm tô, giảm tức; vận động địa chủ hiến điền. Tinh
thần dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân Nam Bộ về nhiệm vụ
cách mạng ruộng đất được thể hiện rõ trong việc Trung ương Cục miền Nam
tạm hoãn rồi quyết định chưa thi hành chủ trương phát động quần chúng đi đến
xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất
của nông dân được thông qua tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (1-1953). Việc thực thi chính sách ruộng đất một cách rất sáng tạo
của Trung ương Cục miền Nam đã bảo đảm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc,
thu hút nhân tâm, tập hợp và phát huy mọi tiềm lực trong nhân dân phục vụ
kháng chiến. Việc thi hành chính sách ruộng đất của Đảng ở Nam Bộ đã có ảnh
hưởng sâu sắc đến tình cảm của nông dân với cách mạng, làm cho sự gắn bó
giữa nông dân với Đảng ngày càng trở nên tình sâu nghĩa nặng, làm cho khối
liên minh công nông được tăng cường vững chắc, không có sức mạnh phản
động nào phá vỡ được.
Trung ương Cục miền Nam xác định một trong những nhiệm vụ lớn là

cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, chuyển hướng
phong trào cách mạng Nam Bộ sau Hiệp định Giơnevơ (1953 – 1954)
2.2.1. Lãnh đạo phối hợp đấu tranh trong chiến cuộc Đông-Xuân
1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ
Trong chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954, Trung ương Cục lãnh đạo quân
dân Nam Bộ phối hợp đấu tranh với chiến trường chính và coi đây là một
nhiệm vụ trọng tâm cho toàn thể chiến trường Nam Bộ Sau đợt hoạt động phối
hoạt động, đã manh nha mô hình ba mũi giáp công trên chiến trường Nam Bộ.
Trên chiến trường Campuchia, Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo Ban
Cán sự Đảng Cao Miên và lực lượng vũ trang trên địa bàn đẩy mạnh các hoạt
động quân sự phối hợp trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, góp phần tiêu
diệt sinh lực địch, giải phóng được nhiều vùng tạm bị chiếm và xây dựng vùng
du kích.
2.2.2. Lãnh đạo đấu tranh sau Hiệp định Giơnevơ, chuyển hướng
phong trào cách mạng Nam Bộ (từ tháng 7 đến cuối năm 1954)
2.2.2.1. Lãnh đạo công tác chuyển quân, tập kết
Trung ương Cục miền Nam ban hành một số chỉ thị chỉ đạo các cấp uỷ
lãnh đạo chặt chẽ, triệt để giữ bí mật những vấn đề liên quan đến kế hoạch
chuyển quân tập kết, tuyệt đối giữ bí mật danh sách cán bộ, đảng viên ra Bắc
hay ở lại miền Nam; bố trí cán bộ ở lại bám sát dân, hoạt động trong hoàn cảnh
18
đấu tranh chính trị sắp tới; chấn chỉnh những biểu hiện sai lầm có nguy cơ làm
lộ bí mật, ảnh hưởng tổ chức Đảng sau này; lãnh đạo thực hiện chuyển hướng
về tổ chức; ra Nghị quyết Tổ chức Đảng uỷ chuyển quân và tổ chức Đảng trong
các lực lượng Dân Chính Đảng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.
Những chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Cục đã góp phần làm cho công
tác chuyển quân tập kết diễn ra thành công.
2.2.2.2. Đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ, bảo vệ nhân dân
Sau khi Hội nghị Giơnevơ về đình chiến ở Việt Nam, Lào và Campuchia,
lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung

điều chỉnh. Trung ương Đảng quyết định chấm dứt hoạt động của Trung ương
Cục miền Nam và thành lập Xứ uỷ Nam Bộ cho phù hợp với điều kiện Đảng
rút vào hoạt động bí mật. Trên danh nghĩa, Trung ương Cục miền Nam kết thúc
hoạt động, hoàn thành sứ mệnh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp xâm
lược. Nhưng do tình hình Nam Bộ gặp nhiều khó khăn, việc tổ chức, bộ máy và
nhân sự cho Xứ ủy tái lập cần có thời gian, nên trên thực tế, Trung ương Cục
miền Nam vẫn trực tiếp lãnh đạo các Đảng bộ và nhân dân Nam Bộ tiếp tục
thực hịên một số nhiệm vụ của cách mạng miền Nam cho đến cuối năm 1954.
*
* *
Trực tiếp lãnh đạo kháng chiến trên địa bàn Nam Bộ, Trung ương Cục
miền Nam luôn nắm vững đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng, kịp
thời lãnh đạo các cấp bộ Đảng và nhân dân Nam Bộ đẩy mạnh toàn diện kháng
chiến, hòa nhịp với chiến trường cả nước. Trong quá trình lãnh đạo kháng
chiến, tổ chức Đảng các cấp ở Nam Bộ không ngừng được kiện toàn gắn với
các nhiệm vụ trung tâm của Nam Bộ. Mặc dù có những vấn đề chưa thành
công, những thiếu sót, khuyết điểm trong chỉ đạo thực tiễn, nhưng tinh thần
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đề cao tính chủ động, năng động
sáng tạo của các địa phương; chú trọng tổng kết thực tiễn, kịp thời khắc phục
những sai lầm trong chỉ đạo thực tiễn là một nhân tố thành công trong hoạt
động lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam giai đoạn này.
Chương 3
NHẬN XÉT, KINH NGHIỆM
3.1. Nhận xét
3.1.1. Duy trì Xứ ủy Nam Bộ rồi thành lập Trung ương Cục miền Nam
là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng
20
Hiện thực hoạt động, lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền
Nam cho thấy việc củng cố kiện toàn Xứ ủy cũng như việc thành lập Trung
ương Cục miền Nam vào những thời điểm quyết định, do hoàn cảnh kháng

phần vào thắng lợi cuộc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
3.1.3.2. Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, thống
nhất.
21
3.1.3.3. Thực hiện sáng tạo, linh hoạt chính sách ruộng đất của Đảng ở
Nam Bộ, vừa bảo đảm yêu cầu kháng chiến vừa bảo đảm giữ vững khối đại
đoàn kết dân tộc.
3.1.3.4. Thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giúp đỡ cuộc kháng chiến của
nhân dân Campuchia, góp phần xây dựng liên minh chiến đấu của hai dân tộc
chống kẻ thù chung
3.1.3.5. Hoàn thành tốt công tác xây dựng Đảng ở Nam Bộ đáp ứng yêu
cầu lãnh đạo kháng chiến
3.1.4. Quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ,
Trung ương Cục miền Nam có một số hạn chế, thiếu sót
3.1.4.1. Công tác xây dựng tổ chức, bộ máy và nhân sự của Xứ ủy Nam
Bộ trong thời đầu còn lúng túng.
3.1.4.2. Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam có hạn chế, thiếu
sót trong giải quyết những vấn đề cụ thể lãnh đạo kháng chiến và chỉ đạo xây
dựng Đảng
3.1.4.3. Trung ương Cục miền Nam chưa chủ động đề xuất duy trì cơ
quan lãnh đạo cấp Trung ương tại miền Nam trong bối cảnh đế quốc Mỹ ráo
riết thay chân Pháp ở miền Nam, phong trào cách mạng gặp nhiều bất lợi.
Những hạn chế, khuyết điểm trên của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục
miền Nam có nhiều nguyên nhân, song, nguyên nhân cơ bản là cuộc kháng
chiến diễn ra rất quyết liệt, nhiệm vụ chính trị nặng nề, xa Trung ương, nhiều
vấn đề đặc thù ở Nam Bộ cần phải có thời gian để nắm bắt và xử lý, cán bộ chủ
chốt thiếu điều kiện nghiên cứu, học tập và nâng cao trình độ lý luận, chính trị.
3.2. Một số kinh nghiệm
Từ hiện thực nghiên cứu quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ
ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam từ năm 1945 đến năm 1954, bước đầu

kiện toàn, lãnh đạo xây dựng Đảng bộ thống nhất về tổ chức, chính trị, tư
tưởng và hành động; đảm đương nhiệm vụ lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam
Bộ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất.
Do yêu cầu cấp thiết của phong trào kháng chiến Nam Bộ cùng với sự
thay đổi của tình hình cả nước và khu vực Đông Dương, trên cơ sở bộ máy tổ
chức Xứ ủy, Trung ương Cục miền Nam được thành lập vào tháng 3-1951 và
chính thức đi vào hoạt động tháng 6-1951. Sự thành lập Trung ương Cục miền
Nam là sáng kiến của Xứ uỷ Nam Bộ, trải qua quá trình chuẩn bị, khảo sát của
Trung ương và đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng ở Nam Bộ để đi
đến quyết định chính thức tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng.
Lần đầu tiên trong lịch sử xây dựng và phát triển của Đảng, mô hình tổ
chức Trung ương Cục miền Nam được thành lập. Đây là một loại hình cơ
quan lãnh đạo cấp chiến lược đặc thù, vừa là một bộ phận chịu sự lãnh đạo
23
của Ban Chấp hành Trung và Bộ Chính trị vừa có tính độc lập rất cao, được
xây dựng ở Nam Bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn chiến trường Nam
Bộ, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung của Trung ương Đảng đối với một địa bàn
rộng lớn, luôn bị chia cắt, lại ở xa Trung ương (đóng tại Việt Bắc).
Trung ương Cục miền Nam là một cơ cấu được tổ chức gọn nhẹ, chỉ có
từ 5 đến 6 ủy viên Trung ương, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ
và theo một cơ chế phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến, trong đó các đồng chí
ủy viên Trung ương Cục miền Nam có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, mỗi
đồng chí được phân công một địa bàn hoặc một lĩnh vực cụ thể; đồng thời,
luôn có sự phối hợp hoạt động trên cơ sở bám sát nhiệm vụ trọng tâm của cả
thời kỳ cũng như của từng thời đọan; đặc biệt là có tinh thần dám nghĩ, dám
làm, có ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, trước sinh mệnh
của quần chúng. Nhân sự tương đối ổn định và sự thành lập các ban chuyên
môn, tham mưu, giúp việc cũng giúp cho Trung ương Cục miền Nam hoạt
động có hiệu quả.
Sự ra đời Trung ương Cục miền Nam là một sáng tạo lớn trong công tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status