1
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
******************
BÙI THỊ THANH TÌNH
TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62.34.02.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Qua nhiều thập niên kiềm chế tài chính nặng nề, các quốc gia
nhận thức rõ cái giá phải trả, đồng thời, với những điều kiện mới của
môi trường toàn cầu, các nước cố gắng chọn cho mình những giải
pháp tự do hóa tài chính để làm tăng tính cạnh tranh trong hệ thống
tài chính, từ đó cải thiện hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực.
Các nước đều có những sự khác biệt nhất định như: yếu tố
cơ bản của kinh tế vĩ mô; trình độ phát triển của hệ thống tài chính;
mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp lý; năng lực điều hành, quản trị
v.v là những vấn đề cần quan tâm khi lựa chọn các biện pháp và
trình tự tự do hóa tài chính. Mục đích chính là tối đa hóa những lợi
ích của tự do hóa tài chính đồng thời giảm thiểu được những thiệt hại
mà tự do hóa tài chính mang theo. Tự do hóa tài chính giúp tạo ra
một môi trường minh bạch, linh hoạt và hiệu quả cho hệ thống tài
chính, thu hút đầu tư, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, mang lại
động lực phát triển cũng như cơ hội sử dụng các dịch vụ tài chính đa
dạng, chất lượng cao. Những lợi ích tiềm năng của tự do hoá tài
chính là rất lớn, nhưng bên cạnh đó cũng có những mặt trái được cho
là nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ, khủng hoảng tài chính.
Đầu thế kỷ 20 quá trình tự do hóa tài chính đã xuất hiện
nhưng nó chỉ thực sự trở thành làn sóng mạnh mẽ từ sau khi chiến
tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc. Các nền kinh tế phát triển khu vực
Bắc Mỹ và Châu Âu tiến hành tự do hóa tài chính mạnh vào những
năm 1960 - 1970, các nền kinh tế khu vực Mỹ Latinh và Nhật Bản
thực hiện mạnh vào những năm 1980 còn các nền kinh tế đang phát
triển ở Châu Á đẩy mạnh tiến trình này vào những năm 1990.
Tuy nhiên, kể từ khi tự do hóa tài chính trở nên phổ biến trên
thế giới, người ta lại thấy có nhiều cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra
tận dụng được những lợi ích to lớn của tự do hoá tài chính đồng thời
hạn chế những tác động tiêu cực của nó đến nền kinh tế. Vấn đề quan
trọng là lựa chọn được một lộ trình tự do hóa tài chính với mức độ
phù hợp trong từng giai đoạn. Xuất phát từ những yêu cầu đó, tác giả
chọn đề tài “Tự do hoá tài chính ở Việt Nam - thực trạng và giải
pháp” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5
Tự do hóa tài chính đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
rất nhiều các nhà khoa học và các tổ chức trên thế giới như Ngân
hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế Nội dung nghiên cứu về tự
do hóa tài chính rất rộng, nhưng có thể tạm chia các công trình
nghiên cứu thành những nhóm vấn đề sau:
- Những khía cạnh lý thuyết và thực nghiệm về tự do hóa tài
chính: bản chất, lợi ích và chi phí, những điều kiện tiền đề, mức độ tự
do hóa tài chính được đề cập tới trong một số nghiên cứu của J.
Stiglitz (2000), Gerard Caprio, Patrick Honohan and Joseph E.
Stiglitz (2004), Abdul Abiad, Enrica Detragiache, và Thierry Tressel
(2008). Cụ thể như: Gerard Caprio, Patrick Honohan and Joseph E.
Stiglitz (2004), Financial Liberalization: How Far? How Fast?,
Joumal of Comparatlve Economics, 2004, vol. 32; chỉ ra bản chất của
tự do hóa tài chính và mức độ tiến hành tự do hóa tài chính. Ronald
McKinnon (1993), The Order of Economic Liberalization: Financial
Control in the Transition to a Market Economy, Baltimore, Johns
Hopkins University Press, 1993 thì nói rõ về trình tự tự do hóa tài
chính…
- Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia về tự do hóa tài
Nội của Trần Thị Thái Hà (2006). Tự do hóa tài chính:Lý luận, kinh
nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam lại chủ yếu
nghiên cứu về vấn đề kiềm chế tài chính tiến tới tự do hóa tài chính
và kinh nghiệm của một số quốc gia. Bùi Ngọc Sơn (2010), Tự do
hóa tài chính – Một xu hướng mang tính toàn cầu, Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp bộ, đề tài này đã chỉ ra triển vọng của xu hướng tự do
hóa tài chính trên toàn cầu, đây vẫn là vấn đề còn tiếp diễn bất chấp
những biến động mạnh trong môi trường kinh doanh toàn cầu thời
gian qua. Nguyễn Toàn Thắng (2010), Lý luận và thực tiễn về tự do
hóa các giao dịch vốn và sự ổn định khu vực tài chính Việt Nam:
Khuôn khổ chính sách đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp nhà nước, đề tài này đề cập đến vấn đề tự do hóa giao dịch vốn
trong mối quan hệ với sự ổn định của khu vực tài chính ở Việt Nam.
Đề cập đến mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tăng trưởng kinh
tế có nghiên cứu của Trần Anh Tuấn (2002), Tác động của việc tự do
hoá tài chính đến tăng trưởng kinh tế- lý luận & thực tiễn ở Việt nam,
Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Một số nghiên
cứu của Bộ kế hoạch và đầu tư - Chương trình Phát triển Liên hợp
quốc; Dự án VlE/02/009, Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác
động của tự do hóa dịch vụ tài chính: trường hợp ngành ngân hàng, 7
tháng 12-2005; Nguyễn Đại Lai, Tự do hoá tài chính – Xu thế và giải
pháp chính sách cho ngân hàng Việt nam thời kỳ hậu WTO. Ngoài ra
một số nội dung của tự do hóa tài chính cũng được đề cập tới trong
những tham luận tại các hội thảo khoa học của ngành ngân hàng, tài
chính và các trường đại học.
Tuy nhiên, những công trình trên chưa phản ánh khái quát
đầy đủ, cụ thể thực trạng quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam,
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là tự do hóa tài chính,
điều kiện thực hiện tự do hóa tài chính, các chỉ số đo lường mức độ
tự do tài chính.
- Phạm vi nghiên cứu: Về mặt thời gian, luận án tập trung
vào giai đoạn từ sau đổi mới của Việt nam, đặc biệt giai đoạn từ 2006
– 2011.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các biện pháp nghiên cứu trong
khoa học kinh tế nhằm phân tích vấn đề. Phương pháp thống kê, so
sánh được áp dụng để tìm ra những đặc trưng nổi bật từ tiến trình tự
do hóa tài chính ở các quốc gia trên thế giới. Đồng thời, luận án sử
dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát
hóa.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án hệ thống hoá, góp phần phát triển những vấn đề lý
luận cơ bản về tự do hoá tài chính. Đặc biệt làm rõ những lợi ích, rủi
ro của tự do hóa tài chính, các điều kiện cần thiết, những vấn đề
mang tính nguyên tắc để đảm bảo tận dụng được lợi ích và giảm
thiểu rủi ro của quá trình này.
Phân tích thực trạng tiến trình tự do hoá tài chính ở Việt
Nam, từ đó đưa ra lộ trình, các giải pháp điều kiện thúc đẩy tự do hoá
tài chính trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện
nay.
Bên cạnh đó, luận án có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy,
nghiên cứu, học tập và đề xuất chính sách.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận án được chia thành 3 chương như sau:
Chuơng l: Cơ sở lý luận về tự do hóa tài chính
Chương 2: Thực trạng tự do hóa tài chính ở Việt Nam
Tỷ giá là giá cả của tiền và phản ánh tổng hòa tương quan
mức giá chung xã hội trên thị trường trong nước so với thị trường
nước ngoài.
Khái niệm: Tự do hoá tỷ giá là một quá trình tiến tới cho
phép tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cung cầu thị trường.
Biểu hiện của tự do hóa tỷ giá: Tự do hóa tỷ giá được thể
hiện ở một số khía cạnh như: Bỏ việc ấn định tỷ giá; Các biện pháp
quản lý hành chính về ngoại tệ được loại bỏ và các công cụ mang 10
tính thị trường được sử dụng; Tỷ giá được xác định dựa trên cơ sở
cung cầu ngoại tệ.
1.1.2.3. Tự do hoá hoạt động của các tổ chức tín dụng và các định
chế tài chính khác trên thị trường tài chính.
Khái niệm: Tự do hoá hoạt động của các tổ chức tín dụng và
các định chế tài chính nghĩa là xóa bỏ sự can thiệp trực tiếp của
Chính phủ vào quá trình hoạt động các tổ chức này, để các tổ chức
này hoạt động theo quy luật thị trường.
Biểu hiện của tự do hoá hoạt động của các tổ chức tín dụng
và các định chế tài chính: (i)Loại bỏ kiểm soát lãi suất; (ii)Giảm dự
trữ bắt buộc; (iii)Giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước đối với các
quyết định cho vay của các ngân hàng, xóa bỏ tín dụng chỉ định đối
với các ngân hàng thương mại; (iv)Tư nhân hóa các ngân hàng quốc
doanh; (v)Sự mở rộng hơn nữa các định chế tài chính trong nước và
gia nhập của các tổ chức tài chính nước ngoài tăng lên.
1.1.2.4. Tự do hoá giao dịch vốn
Giao dịch vốn là những giao dịch liên quan đến chuyển dịch
vốn giữa người cư trú và người không cư trú của một quốc gia.
Khái niệm: Tự do hoá giao dịch vốn là quá trình dỡ bỏ dần
hóa tài chính chứ không riêng về giao dịch vốn nên được lựa chọn sử
dụng trong luận án.
1.1.4. Nguyên tắc và trình tự tự do hóa tài chính
1.1.4.1. Nguyên tắc về trình tự tự do hóa tài chính
Nguyên tắc 1: Tự do hóa tài chính được thực hiện tốt nhất trong bối
cảnh kinh tế vĩ mô lành mạnh.
Nguyên tắc 2: Tự do hóa tài chính phải gắn bó chặt chẽ với việc thiết
lập một cơ sở hạ tầng thể chế có thể giảm thiểu rủi ro bất ổn tài
chính.
Nguyên tắc 3: Để có tốc độ tự do hóa tài chính thích hợp, tại từng
thời điểm, cần phải xem xét lại những điều kiện tài chính và sự lành
mạnh của các định chế tài chính cũng như thời gian cần thiết để tái cơ
cấu các định chế này (nếu cần).
1.1.4.2. Một số quan điểm về trình tự tự do hóa tài chính
Thực tế cho thấy, không thể có một trình tự tự do hóa tài
chính thống nhất cho mọi quốc gia, do các vấn đề về đặc điểm từng
quốc gia, thời điểm tự do hóa tài chính cũng như bối cảnh quốc tế.
Đã có nhiều quan điểm khác nhau về trình tự tự do hóa tài chính.
a. Quan điểm của McKinnon và Shaw
b. Quy tắc về lộ trình tự do hóa tài chính của OECD 12
c.Cách tiếp cận tổng hợp của IMF
d. Cách tiếp cận của ADB
1.1.5. Tác động của tự do hóa tài chính đến nền kinh tế
1.1.5.1 Tác động tích cực
a. Phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả trên phạm vi quốc gia và
toàn cầu
b. Làm tăng quy mô tín dụng
Giai đoạn từ 1973 đến giữa thập niên 1980:
Giai đoạn từ giữa thập niên 1980 đến giữa thập niên 1990:
Giai đoạn từ giữa thập niên 1990 đến nay:
1.3.2. Kinh nghiệm tự do hóa tài chính của một số quốc gia
1.3.2.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
1.3.2.2. Kinh nghiệm của Thái Lan
1.3.2.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Qua nghiên cứu kinh nghiệm tự do hóa tài chính của Trung
Quốc, có thể thấy một số vấn đề sau:
Thứ nhất, Trung Quốc tiến hành quá trình tự do hóa dần dần, không
phải là chiến dịch ”cấp tốc” như một số nước Mỹ La tinh.
Thứ hai, các chính sách đi kèm với tự do hóa tài chính nội địa phải
được lựa chọn kỹ lưỡng và sự nối tiếp cũng phải được lên kế hoạch
tốt.
Thứ ba, có liên quan chặt chẽ với các điểm trên, phát triển thể chế
phù hợp là yếu tố cần thiết cho sự thành công của quá trình tự do hóa
tài chính, trong đó các quy phạm pháp luật và hệ thống luật pháp
mạnh là điều kiện tiên quyết.
1.3.3. Bài học cho Việt Nam từ việc nghiên cứu kinh nghiệm tự
do hóa tài chính của các quốc gia
1.3.3.1. Về các tiền đề cho quá trình tự do hóa tài chính
a. Tự do hóa tài chính phải được tiến hành trong khuôn khổ một
chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh.
b. Tự do hóa tài chính sẽ dẫn đến đổ vỡ nghiêm trọng nếu không
có việc tăng cường khu vực tài chính, đặc biệt đối với những quốc
gia có hệ thống tài chính yếu kém
c. Cung cấp thông tin, tăng cường tính minh bạch ở cả cấp độ vĩ
mô và vi mô là một yêu cầu để ngăn ngừa và giảm nhẹ mức độ
nghiêm trọng của khủng hoảng khi tiến hành tự do hóa tài chính
1.3.3.2. Về tốc độ tự do hóa tài chính
2.2.1. Tự do hóa lãi suất
2.2.1.1. Đối với lãi suất Việt Nam đồng
Qúa trình tự do hoá lãi suất Việt Nam đồng được diễn ra theo
trình tự như sau (i) Giai đoạn thứ nhất (bắt đầu từ tháng 6/1992-
12/1995) ; (ii) Giai đoạn thứ hai (từ 1/1996 - 8/2000 ;(iii) Giai đoạn
thứ ba (từ tháng 8/2000 - 5/2002);(iv)Giai đoạn thứ tư (từ 1/6/2002
đến tháng 5/2008): Lãi suất VND được tự do hoá hoàn toàn.Theo đó,
các TCTD xác định lãi suất cho vay bằng VND trên cơ sở cung cầu 15
vốn thị trường, chi phí hoạt động và mức độ rủi ro của khách hàng.
(v)Giai đoạn thứ năm (từ tháng 5/2008 đến nay) : Từ giữa tháng
5/2008 do nhiều yếu tố tác động từ nền kinh tế nên quá trình tự do
hóa lãi suất tạm thời bị ngưng lại. Quản lý hành chính được thiết lập
dưới nhiều hình thức: Khống chế trần lãi suất tiền gửi; Khống chế
trần lãi suất cho vay. Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước còn đưa ra các
chế tài kiểm soát lãi suất khác và tiến hành thanh tra giám sát việc
chấp hành mức trần lãi suất đã đưa ra
2.2.1.2. Đối với lãi suất ngoại tệ
Từ việc ấn định cụ thể lãi suất huy động và cho vay, việc tự
do hóa suất ngoại tệ cũng được thực hiện dần. Trước năm 1990,
NHNN qui định cụ thể các mức lãi suất huy động và cho vay bằng
ngoại tệ của các TCTD. Sau năm 1990, NHNN điều hành lãi suất
ngoại tệ dựa trên cơ sở diễn biến thị trường trong nước và quốc tế.
2.2.2. Tự do hóa tỷ giá hối đoái
Giai đoạn trước tháng 2/1999: Điều hành tỷ giá dựa trên tỷ
giá chính thức hay nói cách khác là chế độ tỷ giá cố định, điều này
thể hiện rằng việc tự do hóa tỷ giá hối đoái là hoàn toàn không có.
Giai đoạn từ tháng 2/1999 đến năm 2008: Điều hành tỷ giá
Bên cạnh đó, xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tiếp tục
gia tăng, đặc biệt sau khi có những thay đổi về cơ chế thông qua việc
ban hành Luật Đầu tư mới, Nghị định 78/2006/NĐ-CP, mặc dù xét về
quy mô chưa phải là lớn.
2.2.4.2. Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Ở Việt Nam có hai kênh để thực hiện đầu tư gián tiếp từ
nước ngoài:
Thứ nhất, thông qua các Sở giao dịch chứng khoán : tham gia thị
trường phát hành, giao dịch chứng khoán niêm yết (gồm tham gia
đấu giá, mua bán trái phiếu, cổ phiếu và các loại chứng khoán khác
được niêm yết) và đầu tư ủy thác.
Thứ hai, thông qua việc góp vốn, mua cổ phần (chưa niêm yết) của
các
doanh nghiệp Việt Nam.
Hoạt động đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đã gia tăng, quy
mô lớn dần, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng lượng vốn
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy
tính chất dễ biến động và rất khó kiểm soát của dòng vốn này.
2.2.4.3. Dòng vốn vay nợ nước ngoài 17
Thông qua vay nợ nước ngoài cho thấy dòng vốn chu chuyển
qua kênh này ngày càng tăng, và bắt đầu tăng mạnh từ năm 2004.
Đây là giai đoạn mà việc quản lý vay trả nợ nước ngoài đối với
doanh nghiệp được nới lỏng hơn, đồng thời các khoản vay ODA của
Chính phủ cũng tăng hơn khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu.
2.2.4.4. Dòng vốn đầu tư dưới hình thức tiền và tiền gửi
Lượng ngoại tệ chuyển về trong nước thông qua các tài
khoản mở tại TCTD được phép tăng lên dần. Điều đó phản ánh chính
- Về tự do hóa lãi suất: (i) Mặc dù trên danh nghĩa, lãi suất đã được
tự do hóa hoàn toàn, song trạng thái tự do của lãi suất chưa thực
chất. (ii)Điều hành lãi suất vẫn còn nhiều bất cập, chính vì vậy chưa
thể nói lãi suất ở Việt Nam đã thực sự tuân theo nguyên tắc thị
trường.
- Về tự do hóa tỷ giá hối đoái: (i)Tỷ giá hiện nay vẫn bị kiểm soát,
hạn chế bởi một biên độ và tỷ giá mặc dù được cải thiện theo hướng
rổ tiền tệ, nhưng vẫn còn neo khá chặt với đồng USD, do đó việc
định giá đồng Việt Nam bằng các loại ngoại tệ khác phải sử dụng
phương pháp tỷ giá chéo không phản ánh chính xác giá trị trao đổi
giữa các đồng tiền. (ii)Việc dựa vào tỷ giá bình quân trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng đơn thuần để xác định tỷ giá là không phù
hợp, bởi vì cơ chế tỷ giá hiện hành mới chỉ tính tới các yếu tố thị
trường đơn thuần, bỏ qua các yếu tố kinh tế vĩ mô (cán cân thanh
toán quốc tế, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, ).
-Về tự do hóa hoạt động tín dụng của các TCTD: (i) Mặc dù trên
danh nghĩa là đã được tự do hóa trong hoạt động tín dụng, tuy nhiên,
một số giai đoạn nhất định, NHNN Việt Nam vẫn thực hiện kiểm
soát tăng trưởng tín dụng của các TCTD khá chặt chẽ để đảm bảo
thực thi CSTT. (ii)Theo chỉ định của nhà nước, sự tồn tại của các
khoản tín dụng ưu đãi, mang tính trợ cấp, phi thương mại dưới sự bảo
trợ của Chính phủ ảnh hưởng xấu đến khả năng cạnh tranh của các
NHTM.
- Về tự do hóa hoạt động của các định chế trên thị trường tài chính
Hiện nay, hoạt động bảo hiểm xã hội và bảo hiểm nhân thọ còn mang
tính độc quyền và được bảo hộ cao do tốc độ mở cửa thị trường dịch
vụ này còn rất chậm. Các loại dịch vụ tài chính khác, như xếp hạng
tín nhiệm; phân tích, đánh giá và quản trị rủi ro của các định chế tài
chính; quản lý quỹ đầu tư; tài chính cho thuê; tài chính bất động sản
v.v. đang thiếu nghiêm trọng nguồn cung cấp có chất lượng và uy tín
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 đã chỉ rõ
phải chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, có hiệu
quả và quan điểm tự do hóa tài chính không thể nằm ngoài sự chỉ đạo
chung này.
3.1.2. Định hướng lộ trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam
Định hướng chiến lược về tự do hóa tài chính cho Việt nam
như sau: 20
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện lộ trình đã được đưa ra trong các cam kết
của Việt Nam khi hội nhập vào kinh tế toàn cầu, ví dụ như các cam
kết khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Thứ hai, mức độ tự do hóa tài chính của Việt Nam trong giai đoạn
sắp tới là chưa thể tự do hóa tài chính hoàn toàn, ở từng nội dung cụ
thể vẫn cần phải có những bước tiến thận trọng, đặc biệt là với tự do
hóa các giao dịch vốn.
Thứ ba, tự do hóa tài chính phải xác định sự vận hành của thị trường
tài chính trên cơ sở các mối quan hệ thị trường thật sự, thông qua
việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản là giảm thiểu sự can thiệp hành
chính của nhà nước, tăng cường cạnh tranh và đảm bảo giá cả phản
ánh đúng quan hệ cung cầu trên thị trường (nhất là đối với lãi suất và
tỷ giá).
3.2. LỘ TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Lộ trình tự do hóa tài chính theo Hiệp định thương mại song
phương Việt Nam - Hoa Kỳ:
Lộ trình tự do hóa tài chính theo các cam kết của Việt Nam
khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới:
Gợi ý về lộ trình tự do hóa tài chính ở Việt nam cho từng nội
dung cụ thể
cần phối hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu lực của các chính sách kinh
tế vĩ mô: Chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách tài khóa
3.3.2.Hoàn thiện hệ thống thể chế và luật pháp.
3.3.3. Tăng cường khả năng bền vững của nợ nước ngoài
3.3.4. Phát triển và hoàn thiện các thị trường tài chính: Thị
trường tiền tệ; Thị trường ngoại hối; Thị trường vốn
3.3.5. Thiết lập khuôn khổ quản lý và giám sát phòng ngừa
Thứ nhất: Những biện pháp đơn giản vẫn có thể là thích hợp đối với
Việt Nam.
Thứ hai: Những chuẩn mực phòng ngừa cần phải giành sự quan tâm
đặc biệt cho các ngân hàng.
Thứ ba: Tính liên thông quốc tế của các chuẩn mực phòng ngừa.
Thứ tư: Thiết lập và duy trì các chính sách phòng ngừa dựa trên ba
trụ cột chính là: sự quản lý và giám sát của chính phủ; những thông lệ
và biện pháp kiểm soát nội bộ; kỷ luật thị trường.
Thứ năm: Đạt được một sự cân bằng thích hợp giữa việc giảm nguy
cơ chấp nhận rủi ro quá mức và sự kìm hãm quyền tự do của các định
chế trong việc chấp nhận những rủi ro bình thường vốn có trong hoạt
động trung gian tài chính. 22
3.3.6. Tái cấu trúc hệ thống tài chính nhằm củng cố, nâng cấp
đồng bộ cả hệ thống ngân hàng và các định chế khác trên thị
trường tài chính nội địa
3.3.7. Công tác thu thập, phân tích và cung cấp thông tin cần
được cải tiến nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin.
3.3.8. Cải thiện hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế
KẾT LUẬN
1/ ThS. Bùi Thị Thanh Tình (2007), Tổ chức công tác kế toán
tại các Công ty Chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Khoa học và
đào tạo ngân hàng số 58, tháng 3 năm 2007.
2/ ThS. Lê Ngọc Lân, ThS. Bùi Thị Thanh Tình (2011), Đánh
giá hoạt động thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng số 110,
tháng 7 năm 2011.
3/ ThS. Bùi Thị Thanh Tình, ThS. Lê Ngọc Lân (2012), Kiềm
chế tài chính và tự do hóa tài chính – nhìn từ góc độ lý thuyết,
Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng số 118, tháng 3 năm
2012.
4/ NCS. Bùi Thị Thanh Tình, TS. Lê Ngọc Lân (2012), Đặc
điểm chủ yếu của tiến trình tự do hóa tài chính trên thế giới,
Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng số 120, tháng 5 năm
2012.
5/ ThS. Bùi Thị Thanh Tình (2012), Tác động của tự do hóa tài
chính tới khủng hoảng tài chính, Tạp chí Khoa học và đào tạo
ngân hàng số 124, tháng 9 năm 2012.
.