p
ì
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA QUẢN
TRỊ KINH
DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH
DOANH QUỐC
TÊ'
KHÓA
LUẬN
TÓT
NGHIỆP
mtàì:
THUÊ TÀI CHÍNH
ở
VIỆT
NAM
THỨC
TRẠNG
VÀ
GIẢI PHÁP
L.V
0130S
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Lớp
của
hoạt
động
thuê tài chính
4
2.
Khái
niệm, các hình thức
cho
thuê tài chính
5
2.1. Khái niệm và đặc điểm
5
2.2.
Các
hình thức thuê tài chính
8
3.
Phân
biệt
cho
thuê tài chính với
cho
thuê
vận
hành, tín
dụng ngân
hàng
và
mua
với nền kinh tế.
20
5.
Rủi
ro trong giao dịch thuê tài chính
21
5.1. Rủi ro đối với bên đi thuê
2 ở
5.2. Rủi ro đối với bên cho thuê
22
5.3.
Các
rủi ro chung trong kinh doanh
23
6.
Họp đồng
thuê tài chính
24
6.1.
Khái
niệm
24
6.2.
Các
điều khoản cơ bản của
hợp đồng 25
li.
Thuê
tài
chính trên
HOẠT
ĐỘNG
THUÊ
TÀI
CHÍNH
Ở
VIỆT
NAM
HIỆN
NAY 30
ì.
Giới
thiêu
thi
trường cho thuê
tài
chính
Việt
Nam 30
li.
Tình hình
hoạt
động thuê
tài
chính
ở
Việt
Nam 31
1.
Khung pháp
thành tựu đạt được
41
3.2.
Những mụt
còn
hạn
chế.
45
3.3.
Nguyên nhân
tồn tại
48
CHƯƠNG IU: GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN
HOẠT
ĐỘNG CHO
THUÊ
TÀI CHÍNH
Ở
VIỆT
NAM 53
ì.
Đánh giá
hoạt
động thuê
tài
chính
trong
thòi
gian
1.4.
Môi
trường kinh tếViệt
Nam
ngày càng cải thiện
55
Ì .6
Các
công ty
CTTC
phát triển
cả
về chất và lượng
56
1.7
Môi
trường kinh
tế
và Tái chính quốc
tế
đang diễn biến thuận lợi.
57
2.
Khó
khăn
57
2.1
Môi
trường pháp lý
57
Phủ 61
LI. Hoàn
thiện
môi
trường pháp lý điều chỉnh hoạt động
CTTC
61
1.2
Tăng
cường công tác quản lý và thực hiện hoạt động cho thuê
62
2.
Đối
với
bên cho thuê
63
2.1 Gia tăng nguồn vốn hoạt động của các công ty
CTTC
63
2.2
Hoàn
thiện
mô
hình tổ chức hoạt động công ty
64
2.3.
Đa
dạng hoa các sản
phẩm
64
3.4
Thay
đổi thói quen trong vay vốn kinh doanh
70
4.
Đôi
với
Ngân hàng
Nhà
nước và ngán hàng cấp
chủ
quản
của
công
tyCTTC
71
4.1
Về
nguồn vốn
77
4.2 Về
tổ chức
mạng
lưới và lao
động
71
4.3 Về xớ
lý
nợ
71
li
Bảng
4:
Cho
thuê tài chính giáp lưng
12
Bảng 5
:
Phân
biệt cho thuê tài chính và cho thuê vận
hành 13
Bảng
6:
Phân
biệt cho thuê tài chính với vay vốn tổ chức tín
dụng 15
Bảng
7:
Phân
biệt
Cho
thuê tài chính và
Thuê mua
trả góp
75
Bảng
8: Lợi nhuận trước
thuế
của các công ty
CTTC 35
13: Tình hình
nợ
xấu của các công ty
CTTC 45
DANH MỤC
CÁC
CHỮ
VIẾT
TẮT
SÍT Tên
viết
tắt
Tên
đầy
đủ
1
CTTC
Cho thuê
tài
chính
2
ALCI
Công
ty
cho
thuê
tài
chính Ngân hàng Nông
nghiệp
và phát
BLC
li
Công
ty
cho thuê
tài
chính Ngân hàng Đầu
tư
và phát
triển
Việt
Nam
li
6
KVLC
Công
ty
cho thuê
tài
chính
Kexim
7
VCBLC
Công
ty
cho
thuê
tài
chính Ngân hàng
Ngoại
li
CILC
Công
ty
cho
thuê
tài
chính
Quốc
tế
Chailease
12
VFV
Công
ty
cho
thuê
tài
chính công
nghiệp
tàu thúy
13
VILC
Công
ty
cho thuê
tài
chính
Quốc
tế Việt
hữu hạn
20
HTX
Hợp
tác
xã
LỜI
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp
thiết
của đề
tài
Nền
kinh tế Việt
Nam
trong
những
năm gần đây đang trên đà
đổi
mới và phát
triển,
cơ
chế
thị
trường ngày càng được hoàn
thiện
hơn.
Và
với việc Việt
chuẩn
bị
những điều
kiện
cần
thiết
cho
việc hội
nhập vững chảc
vào sân
chơi
quốc
tế
và khu vực.
Thực tế
cho
thấy
việc
đổi
mới công
nghệ,
máy móc
thiết
bị ở các
doanh
nghiệp
sản
xuất
là một đòi
hỏi
bị của
nhiều
doanh
nghiệp
đã
lạc
hậu
từ
2-3
thế
hệ
so
với
các nước tiên
tiến.
Song
muôn
thuở
nan
giải
vẫn là câu
hỏi:
Lấy vốn ỏ
đâu?
Hiện
nay
lượng
vốn
dài hạn đầu tư
cho
không có đủ
tài sản
đảm bảo
cũng
như uy
tín thì
việc
tiếp
cận nguồn
vốn này
quả là
khó
khăn.
Trong
những
trường hợp như
vậy,
đi
thuê
tài
chính
là
một
giải
pháp
tối
ưu.
Cùng
với
nhiều
ro
đối với
vốn đầu
tư,
vừa nhanh
chóng đáp ứng nhu cầu
đổi
mới công
nghệ của doanh
nghiệp,
đưa
nền
kinh tế
sớm
tiếp
cận
với
trình
độ
khoa
học
kỹ
thuật
tiên
tiến
nhất
trên
thế
giới.
Thuê
bén
thuê.
Ở
nhiều
quốc
gia
trên
thế
giới.
thuê mua
tài
chính
với
những
ưu
thế
của
nó đã được áp
dụng
phổ
biến
và
rộng
rãi
với
những
hình
thức
biến
thể
đầu
tư máy
móc,
cải
tiến
công
nghệ,
Ì
đây là một cản
ngại lớn đối với
quá trình phát
triển
hiện
nay của các
doanh
ngiệp
nói
chung. Hoạt
động thuê tài chính ở
Việt
Nam
tuy
còn
rất
mới mẻ nhưng
thực
tế
cho
thấy
nhu
này
là
do hành
lang
pháp lý còn
thiếu,
sơ hở và chưa đồng bộ.
Xuất
phát
từ những
lý do nêu
trên,
qua tìm
hiểu
về
thị
trường thuê
tài
chính
Việt
Nam tác
giả
đã
lựa
chọn
đề
tài:
" Thuê tài chính ở
Việt
Nam-
những
đặc
điểm
của nó để rút
ra những
bài học
quý báu cho
Việt
Nam để phát
triển
hoạt
động này
trong
thời
gian
tới.
- Tim
hiểu,
phân tích qua đó đánh giá
thực trạng
hoạt
động thuê tài chính ở
Việt
Nam để xác định được
những
điểm
mạnh,
điểm
yếu,
cơ
cứu
Khoa
luận
nghiên cứu về
hoạt
động thuê tài chính của các
doanh
nghiệp
tại
Việt
Nam cùng các văn bản pháp
luật
hiện
hành
của
Việt
Nam về
hoạt
động thuê tài
chính.
Tuy
nhiên,
khoa
luận
chỉ
tập
trung
nghiên cứu về các công
ty
Cho thuê tài
tôi
đã sử
dụng
các phương pháp phân
tích,
tổng
hợp,
đối chiếu,
so
sánh,
diễn
giải,
quy
nạp
để nghiên cứu đề tài
khoa
luận.
Ngoài
ra,
khoa
luận
còn vận
dụng
các
quan
điểm,
đường
lối,
chủ trương phát
triển
của
khoa
luận
được trình bày
trong
3 chương:
Chương
ì:
Một
số vấn
đề lý
luận
về thuê
tài
chính
Chương
li:
Thực
trạng
hoạt
động thuê
tài
chính ở
Việt
Nam
hiện
nay
Chương
HI: Giải
pháp hoàn
kết
quả
tốt
đẹp
nhất.
Tuy
nhiên,
do
hạn chế về
nâng
lực,
thời
gian
và
nguồn
tài
liệu
trong
khi
vấn
đề nghiên cứu còn khá mỹi mẻ nên bài
khoa
luận
không
khỏi
mắc
phải
những
thiếu
sót và
xin
chân thành cảm ơn các
thầy
cô giáo trường
Đại
học
Ngoại
Thương,
đặc
biệt
là
Thạc
sỹ
Nguyễn
Thị Thu Hằng đã
tận
tình hưỹng dẫn và giúp đỡ tác
giả
hoàn thành bài
khoa
luận
này./.
3
CHƯƠNG
ĩ:
MỘT
số VÂN ĐỂ
LÝ LUẬN VỀ
THUÊ
TÀI
ưu
thế của
nó đã
được
áp
dụng
và
phổ
biến rộng rãi với
những
hình
thức biến thể
rất
đa
dạng,
mà
bắt
nguồn
của
nó
là từ hoạt
động thuê
tài sản.
Hoạt
động cho thuê tài sản
đã
xuất hiờn từ
rất
sớm
trong lịch
một công
ty
cho thuê
khoảng
năm
1800
trước
Công nguyên
ở
Babylonia.
Những
người
Hy Lạp cổ là
những
người
đầu
tiên phát
triển
hình
thức
cho
thuê
tại
các
khu
mỏ và
cho thuê
nhà
bâng.
Hợp
thuê
ở
Liên hợp
Anh là
Đạo
luật
xứ
Wales
được
soạn
thảo
vào năm
1284.
Đạo
luật
đã
sử
dụng
những
điều
luật
về
đất
đai sẵn
có làm
khung
pháp lý cho
viờc
thuê
các
cho các công
ty
mỏ
thuê
lại.
Các hợp đồng thuê thường cho
người
thuê
quyền
được
mua
thiết
bị sau khi hết
thời
hạn
hợp đồng.
Đến
đầu
thập
kỷ 50
của
thế
kỷ XX,
giao
dịch
thuê
mua đã có
những
bước
nhảy
Công
ty
cho thuê đầu tiên của
Mỹ
được thành
lập bởi
Henry
Shofeld
vào năm
1952.
Công
ty
được thành
lập
để
phục
vụ
ngành vận
tải
đường
sắt.
Sau đó
nghiờp
vụ
tín
dụng
thuê
mua
phát
triển
là
cho thuê
thiết
bị.
ở Mỹ,
người
ta
cho thuê xe
hơi,
máy
bay,
xe
tải,
tàu
hoa, khoang
tàu thúy và tàu
thúy,
máy
vi
tính,
máy
photocopy,
máy
fax
Những thành
tựu
công
nghệ
khiến
cho các
bị
dưới
các hợp đồng
thuê.
Hơn 80% các công
ty-
từ
những
công
ty
nhộ mới thành
lập
cho
tới
những doanh
nghiệp
nằm
trong
danh
sách
Fortune
500-
đều
đi
thuê một
phần hoặc
toàn bộ máy móc
thiết
bị của họ.
Châu Á, Nam Mỹ và Châu
sở
hữu tài sản
mà
là
trong
quyền sử dụng nó".
Một
doanh
nghiệp
không
nhất
thiết
phải
sở
hữu tài sản để làm
ra
lợi
nhuận. Nhiều
khi
chỉ
cần
quyền
sử
dụng
tài sản
trong
một khoảng
thời
gian nhất
định
đủ để
chi trả
các
khoản
thuê.
Trong
tương
lai,
hoạt
động thuê
tài
chính
sẽ
ngày
càng phát
triển
mạnh
mẽ hơn
nữa.
Nguyên nhân chính thúc đẩy các
hoạt
động cho
thuê
tài
chính phát
triển
nhanh là
do nó đã
thể hiện
là hình
niệm.
Hoạt
động cho thuê
tài
chính
(CTTC)
xuất hiện
là
một
tất
yếu
khách
quan
do
nhu
cầu
của
đời
sống
xã
hội
ngày càng
cao,
đặc
biệt
là
trong
lĩnh
vực
sản
dù
hoạt
động
CTTC
tại
mỗi
quốc
gia,
mỗi khu vực đều
có
những
đạc
điểm
riêng
biệt
thể
hiện
sự
phong
phú,
phức tạp
của
nó
nhưng
về
thực chất
khái
niệm
thuê mua, hay
CTTC
thịi
gian nhất
định.
Đổi
lại,
ngưịi đi
thuê
phải
trả
một
số
tiền
cho
chủ
tài sản tương
xứng
với
quyền
sử
dụng.
Khi
hết
hạn
thuê,
ngưịi
đi thuê
có
thể
tiếp
tục
định 16/2001/NĐ-CP về
tổ
chức
và
hoạt
động
của
công
ty
CTTC,
hoạt
động
của
công
ty
CTTC
tại
Việt
Nam
được định
nghĩa
như
sau:
"CTTC
là một
hoạt
động tín
dụng
trung
và
sản
khác
theo
yêu
cầu của
bên thuê và
nắm
giữ
quyền
sở hữu
đối với
tài
sản
cho
thuê.
Bên thuê sử
dụng
tài sản thuê
và
thanh
toán
tiền
thuê
trong
suốt
thịi
hạn
thuê
đã
được
sự
dịch chuyển
về
cơ
bản các
rủi
ro
và
các
lợi
ích gắn
liền
với
quyển sở hữu tài sản
thuê.
Xét
duới
hình
thức
cấp
vốn,
CTTC
là một hình
thức
tài
trợ
vốn
trung
và
dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê
tác
trong
liên
kết
kinh
tế).
2.1.2
Đặc
điểm CTTC.
Là
loại
hình tín
dụng
có
thể
tài
trợ
gần 100% nhu cầu vốn cho
bên đi
thuê.
- Bên thuê được
quyền chọn tài sản
thiết
bị
thực theo
một
mức
giá xác định
trước
trong
quá trình
sử dụng
tài
sản
thuê.
Thời
hạn cho thuê
chiếm
phần
lớn
thời
gian
hữu
dụng
của
tài sản
thiết
bị
và không
thắ
huy
ngang
theo
ý
muốn
của
các bên
(trừ
trường
hợp
tiền
thuê
(tiền
trích
khấu
hao
tài sản
cho
thuê)
cho công
ty
CTTC.
Khi
kết
thúc
thời
hạn thuê,
khách hàng
mua
lại
hoặc
tiếp
tục
thuê
tài sản
đó
theo
các
thoa thuận
trong
chính.
Theo
quy định
của
pháp
luật
Việt
Nam
thì
một
giao
dịch
được
gọi
là
thuê tài
chính
phải thoa
mãn một
trong
những điều
kiện:
Khi
kết
thúc
thời
hạn cho thuê
theo
hợp
đồng,
tài sản
thuê
theo
giá
danh nghĩa
thấp
hơn giá
trị
thực
tế
của tài sản
thuê
tại
thời
điắm
mua
lại.
Thời
hạn cho thuê một
loại
tài sản
ít
nhất phải
bằng
60%
thời
gian
cần
thiết
đắ
ra
là một hình
thức
cấp tín
dụng.
Khi
một hợp
đồng thuê
tài
chính được
ký
kết,
đồng
nghĩa với
việc
doanh
nghiệp
được cấp
một
khoản
vốn.
Khoản
vốn này có được do
doanh
nghiệp
không
phải
bỏ
tiền
ra
giá
trị
tài sản
trong
hợp đồng thuê
tài
chính bao
gồm
cả vốn gốc
và
lãi.
7
2.2.
Các
hình thức thuê
tài
chính.
2.2.1
Cho
thuê
tài
chính thông thường:
Theo
phương
thức
này,
bên
thuê được
quyền lựa chọn,
thoa thuận
sự
tham
gia
của
nhà
cung cấp
do
trước
khi thực
hiện
giao
dểch,
tài sản
thuê đã
thuộc
quyền sở hữu của
bên cho thuê.
Quy trình
CTTC
thông thường được
thể
hiện
qua sơ đồ:
Bảng
1:
Cho
thuê
tài
chính thông thường
Nhà
khoản
mà
bên
đi
thuê đã
thoa thuận với
nhà
cung cấp.
(3):
Nhà
cung
cấp
giao
hàng cho
bên
thuê,
lắp đặt,
chạy
thử,
nghiệm thu
tài
sản.
(4):
Bên
đi
thuê
thanh
toán
tiền
thuê.
sảm
phẩm nhằm
lựa
chọn
ra
những
sản
phẩm phù hợp
nhất
thoa
mãn
tối
đa yêu
cầu của
bên thuê.
8
Bên cho thuê không
phải
mua
sản phẩm
trước,
như
vậy sẽ
giảm bớt
chi
phí về kho
bãi,
hao
mòn
trong
ra
khi
bèn thuê
từ
chối
chấp nhận
hàng do
những
sai
sót về mặt
ly
thuật.
-
Do
việc
lắp đặt,
bảo
dưạng,
sửa
chữa
sản phẩm đều
thuộc
trách
nhiệm
của
nhà
cung cấp
và bên thuê nên bên cho thuê không
phải
quan
thức
này,
khách hàng sẽ
lập tức
nhận
được một
khoản
tiền
mặt
từ
việc
bán
tài sản đồng
thời
được
hưởng
các
lợi
ích
của
việc
cho
thuê
tài
chính.
Doanh
nghiệp
cũng
thiết
lập
tài sản sau
khi hết
hạn sử
dụng
đều không
phải
bận
tâm
nữa.
Các
quan
hệ
trong
hình
thức
CTTC
theo
kiểu
Bán và
cho thuê
lại
được
mô
tả
qua sơ đồ
sau:
Bảng
2:
CTTC
Bán và
đi
thuê
Giải
thích sơ đồ:
(1)
Hợp
đồng
mua bán
tài
sản:
Chủ
sở hữu ban đầu của tài sản
và
công
ty
CTTC ký
kết
hợp đồng
mua
bán
tài
sản,
trong
đó
chủ sở hữu ban đầu là
người
bán,
phía công
ty
CTTC
tài
sản:
Công
ty
CTTC
(người
mua)
thanh
toán
tiền
mua
tài
sản
cho chủ sở hữu
đầu
tiên
của tài sản (người bán).
(4)
Hợp
đồng cho
CTTC:
Công
ty
CTTC
(bên cho
thuê)
cho chủ sở hữu ban
đẫu(bên
đi
thuê)
sở hữu đầu tiên (bên đi
thuê)
sẽ
thanh
toán
tiền
thuê
cho
công
ty
CTTC
Đặc
trưng chủ
yếu của
hình
thức
này là bên đi thuê
giữ
lại
quyền
sử
dụng
tài
sản
và
chuyển
giao
quyền
sở hữu pháp lý tài sản cho bèn cho
thuê,
thời
điểm
diễn
ra
hoạt
động
mua
bán.
2.2.3.
Cho
thuê
hợp
vốn:
Đây là hình
thức
mà
nhiều
bên cho thuê tài chính cùng tài
trợ
cho một
bên
thuê,
trong
đó có một bên
cho thuê đứng
ra
làm
đầu
mối.
Hình
CTTC
hợp
vốn
được
mô
tả
qua sơ đồ
sau:
10
Bảng
3:
Cho
thuê
tài
chính hợp
vốn.
Các
định
chế
tài
chính
Các nhà
sản
xuất
Chi
nhánh
(1)
(2)
(3)
(4)
tài
chính.
(2)
Quyền sử
dụng
tài
sản:
Bên
cho thuê
chuyển
quyền
sử
dụng
tài sản cho
bên
đi
thuê.
(3)
Trả
tiền
thuê
tài
sản:
Bên
đi
thuê
thanh
toán
tiền
thuê
CTTC
là các bên không được huy
ngang
hợp
đồng
trước
thời
hạn.
Do
đó,
nếu
sau
khi
ký
hợp
đồng,
bên thuê không còn nhu cầu
sử
dụng
tài sản
nữa và
thời
hạn thuê
vẫn
chưa
hết
thì
họ
sẽ
ở
hình
thức
CTTC mà
trong
đó,
được
sự
đồng
ý
của
bên cho
thuê,
bên
đi
thuê
thứ
nhất
cho bên
đi
thuê
thứ hai
thuê
lại
tài sản
mà
bên đi
thuê
thứ
nhất
đã thuê
Bên có
tài sản cho thuê
ký
kết
hợp
đồng
và
chuyển
giao
quyền sử dụng tài sản cho
bên
đi
thuê
thứ nhất.
(2)
Tiền
thuê:
Bên
đi
thuê
thứ nhất thanh
toán
tiền
thuê cho bên cho thuê.
(3)
Quyền sử
dụng
tài
sản:
Bên
Tiền
thuê:
Bên
đi
thuê
thứ hai thanh
toán
tiền
thuê
tài sản cho
bên
đi
thuê
thứ
nhất.
Kể
từ
thời
điểm
hợp đồng thuê
lại
được
ký
kết,
mọi
quyền
lợi
nghĩa
vụ cùng
tài sản được
thoa thuận với
nhau.
Tuy
nhiên,
bên
đi
thuê
thứ nhất
vẫn
phải
chịu
trách
nhiủm
liên
đới
đối với
những
rủi
ro
và
thiủt
hại
liên
quan
đến
tài
sản vì họ là
người
trực
tiếp
thứ nhất
không còn nhu
cầu
đối với
tài sản
đã thuê nên họ
phải
tìm bên
đi thuê
thứ hai
để
chuyển
giao
hợp đồng do hợp đồng
CTTC
là
không
thể
huy
ngang.
Sự
chuyển
giao
hợp đồng
vì
thế
phải bắt
buộc
phải
có
hoạt
động cho thuê
tài sản
thông thường
(cho
thuê vận
hành),
với
hình
thức
thuê
mua
trả
góp và
với
hoạt
động vay vốn của
các
tổ
chức
tín
dụng
để mua
tài sản
và giúp cho
việc
nhận
diện
một
giao
Phán
biệt
cho
thuê
tài
chính
với
thuê
vận
hành.
Cho thuê
vận
hành hay còn
gọi
là
cho thuê
hoạt
động
là
hình
thức
thuê
ngắn
hạn
tài
sản.
Trong đó, người
cho thuê cấp vốn
kinh
doanh
trách
nhiệm
bảo
trì,
bảo
hiểm tài sản.
-
Trong
hợp đồng cho thuê vận hành
thì người
cho thuê có
quyền
huy
ngang
hợp
đồng
khi
đã
thông
báo
trước cho
người
cho thuê
trong
một
khoảng
thời
gian
nhất
định.
Phân
biệt
cho thuê
tài
chính và cho thuê vận hành
Tiêu chí
Cho thuê
tài
chính
Cho thuê
vận
hành
Bên
cho
thuê
Công
ty
cho
thuê
tài
chính
Bất
kỳ cá
nhân,
tổ
chức
nào
có
đủ
nâng
Không được
quyền
huy
ngang
hợp
đồng
Được
quyền
huy
ngang
hợp
đồng
Tiền
thuê
tài
sản
Thường
lớn
hơn
hoặc bằng
giá
tri
của tài
sản cho thuê
tại thời
Thường
nhỏ hơn
rất nhiều
so
với
Chi
phí vận hành,
bảo
trì,
bảo
hiểm
và
rủi
ro liên
quan
đến
tài
sản
Do bên thuê
chịu
Do bên
cho
thuê
chịu
Chuyển quyền
sỏ
hựu
khi kết
thúc hợp
đồng
Do
hai
bên
thoa thuận
và nếu
chính
Hợp đồng thuê
tài
sản
Luật
điều chỉnh
Pháp
luật
về cho
thuê
tài
chính
Pháp
luật
dân sự
3.2.
Phăn
biệt
cho
thuê
tài
chính
với
vay
vốn
các
tổ
chức
tín
dụng.
thông qua các tài sản đảm bảo sẽ cho
doanh
nghiệp
vay
tiền.
Doanh
nghiệp
dùng
tiền
đó để mua
tài
sản.
Sự khác
nhau
giựa
CTTC
và vay vốn
tổ chức
tín
dụng
được
thể
hiện
trong
bảng sau:
14
Bảng
6:
Phân
biệt
có
tài sản bảo
đảm
Quyền
sở hữu tài
sản
Tài sản
thuộc
quyền
sở hữu cặa
bên cho thuê
trong
suốt
quá trình
thuê
Người
vay vốn dùng
tiền
vay
để mua tài sản và là
người
sở
hữu
tài sản
đó
Thời
hạn hợp
đồng
Trung
hoặc
mua bán
trả
góp
là
người
đi
mua
trả
trước
một
khoản
tiền
nhất
định
khoảng
từ
25-35%
giá
trị
cặa tài sản,
số còn
lại
sẽ
trả
dần
trong
thời
hạn từ
1-3 năm
theo nhiều kì.
thức
Cho thuê
tài
chính Thuê mua
trả
góp
Bên
cho
thuê Công
ty
cho thuê
tài
chính
Nhà
cung
cấp
hoặc
Công
ty
cho thuê
tài
chính
Bên
đi
thuê
Các pháp nhân
Các pháp nhân và
thể
nhân
Thời
Chuyển
giao
cho
người
thuê
khi hết
hạn hợp đồng
Quyền
sở
hữu
Quyền
sở hữu
thuộc
về
bên cho thuê và có thể
được
chuyển
giao
cho bên
thuê
khi kết
thúc hợp đồng
Chuyển
giao
cho bên thuê
vào
thời
điểm
kết
thúc hợp
rõ hơn đặc
điểm
khác
biệt
của
CTTC,
qua đó nhữmg
lựa
chọn
thích hợp
khi
doanh
nghiệp
có nhu cớu về
tài sản
cố
định,
nên vay vốn để mua, thuê
ngắn
hạn
hay
là
thuê
tài
chính.
4.
Lợi
ích
của
thuê
thuê
Đối
với
bên cho
thuê,
việc
ra đời
và áp
dụng
phương
thức
tài
trợ
cho thuê tài
chính không
phải
là
loại
hình
thay thế
các phương
thức
tài
trợ
cổ
điển
như cho vay
trung
và
dài hạn
tài
trợ
này có có một
số
lợi
ích so
với
loại
tài
trợ
khác như
sau:
-
Hoạt
động thuê
mua
đã góp
phớn
đa
dạng
hoa các phương
thức
đớu tư
vốn.
Thực
hiện
nghiệp
vụ thuê
mua
góp
nghiệp
ở
từng
thời
kì khác
nhau
trong
quá trình phát
triển.
Do
vậy,
thông qua
nghiệp
vụ
này
có
thể
mở
rộng
diện
khách hàng
tiếp
cận khu vực tài
chính.
-
Hoạt
động
CTTC
là
hình
tư cách là sở hữu chủ về mặt pháp
lý,
vì
vậy họ được
quyền quản
lý
và
kiểm
soát tài sản
theo
các
điều khoản
của hợp đồng cho
thuê.
Do
người
cho thuê
luôn
nắm
giữ
quyển
sở hữu về
tài
sản
trong
suốt
thời
gian
cho thuê nên
người
không cớn phán
quyết
của
toa
án.
Vì
vậy,
việc
thu hồi
tài sản
này
thường là
thuận
16
lợi,
ít tốn
kém
hơn so
với
việc
thu hồi
tài sản
mà
doanh
nghiệp
dùng
làm
tài sản
bảo
đảm
trong
quá trình
sản
xuất,
kinh
doanh của
mình.
Mừt
khác,
người
đi thuê
trả tiền
thuê
bằng
hiệu
quả
thu
được
từ
việc
sử
dụng
tài sản
thuê.
Người
cho thuê
có
nhiều
khả
năng
còn
lại
đã dự
tính
ban đầu do
người
đi thuê
phải
luôn bảo
quản
máy
móc,
thiết bị,
phương
tiện
sao
cho
nó
thể hoạt
động
tốt
nhất
nhằm
mang
lại lợi
nhuận
cho
họ.
Vì
vậy, khi thu hồi
linh
hoạt
trong
kinh
doanh.
Trong
thời
gian
tài
trợ,
vốn
của người
cho thuê bỏ
ra
để
mua sắm máy
móc,
thiết
bị
cho
thuê
sẽ
được
thu
hồi
dần cho phép
người
cho thuê có
thể
sử
người
đi thuê và
người
cho
thuê do
giảm
thiểu
một
số
thủ tục
như:
Thẩm
định
tài sản
bảo
đảm
tiền
vay,
giải
trình về
việc
tăng
vốn khi
doanh
nghiệp
đi vay ngân
hang hoừc
đề
nghị
tăng vốn
người
đi
thuê.
4.2.
Đối
với
bên
đi
thuê.
-
Hạn
chế sự
lạc
hâu
của
máy
móc,
thiết
bị,
phương
tiện.
Do
thời
gian
hữu
dụng
của
máy
móc,
thiết
công
nghệ.
Được tài
trợ
vốn thông qua
tài
sản
với
tỷ
lệ
cao,
thậm
chí đến
mức
tài
trợ
toàn bộ cho
chi
phí
mua sắm máy móc
thiết
bị. Việc
tài
trợ
cho thuê được
đảm
bảo
bởi
chính bản thân
máy
hay
người
đi thuê không
bị
hạn
chế về
hạn
mức
tín dụng
của
ngân
hàng.
Giá
trị
tài sản
đi thuê được
hạch
toán
ngoại
bảng
nên không
làm
tăng
số
nợ
của doanh
nghiệo.
Vì
vậy,
không làm ảnh hưởng
thuê không bị đọng vốn
trong
tài sản
cố
định.
Do
không
phải
bỏ
ngay
ra
một
khoản
tiền
không nhỏ để
mua
máy
móc,
thiết
bị
nhưng
vẫn
có
tài sản
để
sử
dụng
nên
doanh
nghiệp
khả năng
dự
trữ
các
nguồn tín dụng
cho tương
lai
của doanh
nghiệp
cũng
như giúp
doanh
nghiệp
vượt
qua được
giai
đoạn khó khăn về
tài
chính trưọc
mắt.
Như
vậy doanh
nghiệp
vừa
có
tài sản
để
sử dụng
lại
vừa
giản,
linh
hoạt
nhanh
gọn hơn
đi vay
vì
bọt
được
thời
gian
làm
thủ tục
thế
chấp,
bảo
lãnh.
Nếu bạn
cần
có
thiết bị,
máy móc
ngay
lập
tức,
việc
đi thuê
sẽ
được
chấp
thuê tài
chính sẽ dễ dàng
hơn
nhiều
so
vọi
đi vay ngân hàng. Hình
thức
tài
trợ
thông
qua
CTTC có
thể coi
là "cứu cánh"
đối vọi
các
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ
hoặc những
doanh
nghiệp
không được các
tổ
chức tài
chính,
tín
chấp nhận những
người
đi
thuê không có uy tín
lọn,
hơn nữa công
ty
vừa và nhỏ
có
thể
không
có
mối
quan
hệ gần
gũi vọi
các
tổ
chức
tài
chính,
tín
dụng
và
các tổ
chức
tài
chính,
tín
dụng