Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1. Tài chính kiềm chế.
1.1.1. Tài chính kiềm chế là gì?
Tài chính kiềm chế là một cơ chế tài chính được đặc trưng hóa bởi sự can thiệp quá
mức của nhà nước vào các hoạt động và các quá trình tài chính. Trong đó, nhà nước sẽ ấn
định những mức lãi suất trần, trực tiếp điều tiết quá trình phân phối tín dụng bằng các
quyết định hành chính nhiều hơn là thông qua cơ chế thị trường, ưu tiên cho khu vực kinh
tế nhà nước và đặt ra các tỷ lệ dự trữ bắt buộc quá cao và kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn
trong và ngoài nước.
1.1.2. Hậu quả của tài chính kiềm chế.
Tài chính kiềm chế áp dụng mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư, từ đó sẽ thúc
đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, nó gây ra không ít những hạn chế về tăng trưởng kinh tế cũng
như sự mất ổn định kinh tế vĩ mô như:
− Tài chính kiềm chế áp dụng mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư, từ đó sẽ thúc
đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, nó gây ra không ít những hạn chế về tăng trưởng kinh
tế cũng như sự mất ổn định kinh tế, tiềm năng tài chính không được sử dụng và đầu
tư vào sản xuất bởi vì lãi suất thấp thì công chúng sẽ không muốn gởi tiết kiệm mà
sẽ hiện vật hóa dưới dạng vàng, đá quý, ngoại tệ mạnh, hàng hóa tiêu dùng. Vì vậy,
gây ra tình trạng thiếu vốn đầu tư, khan hiếm hàng hóa giả tạo, mất cân đối nghiêm
trọng trên thị trường hàng hóa.
− Cầu về vốn vượt xa khả năng của các nguồn cung cấp nên các danh mục đầu tư có
tỷ suất lợi nhuận cao phải hủy bỏ hoặc sử dụng vốn từ các thị trường ngầm.
− Ngân sách nhà nước luôn phải bao cấp và thiếu hụt vì các doanh nghiệp nhà nước
luôn được ưu tiên vay vốn với lãi suất bao cấp dẫn tới luôn ỷ lại, không sản xuất và
kinh doanh có hiệu quả.
− Hệ thống tài chính không được phát triển và không thể thực hiện được những chức
năng trong việc điều tiết và tạo vốn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
− Thị trường tài chính có thể không có hoặc manh mún, phân tán và đầy rủi ro, lạm
phẩm dịch vụ mới, đa dạng, tiện ích với chi phí và thời gian ít nhất.
− Tự do hoá các dịch vụ tài chính đem đến nhiều cơ hội cho việc chuyển giao công
nghệ và làm giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống.
− Tự do hoá các dịch vụ tài chính tạo điều kiện cho việc thiết lập một chính sách kinh
tế vĩ mô có hiệu quả hơn phù hợp với những điều kiện trong một nền kinh tế mở,
trên cơ sở đó thực hiện phân phối nguồn lực một cách có hiệu quả trên cơ sở khai
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 2/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
thác tối đa lợi thế kinh tế trong nước và thế giới.
1.2.3. Mặt trái của tự do hóa tài chính
Tiềm năng lợi ích của tự do hoá tài chính là rất lớn, tuy nhiên tự do hoá tài chính
cũng cố những mặt trái nhất thiết phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt trong điều kiện
xu thế tự do hoá tài chính cũng mới chỉ dừng lại ở những bước đi ban dầu. Những hạn chế
của tự do hoá tài chính thông thường được nhìn nhận trên hai gốc độ:
− Thứ nhất: Tự do hoá tài chính có thể làm tăng thêm khả năng gây ra khủng hoảng
tài chính nếu tiến trình tự do hoá được thực hiện một cách nôn nóng, sai trình tự
hoặc thiếu đồng bộ trong các biện pháp quản lý vĩ mô ở cả cấp độ quốc gia và quốc
tế.
− Thứ hai: Tài chính thường được coi là công cụ quản lý chiến lược và là lĩnh vực đặc
biệt cần được nắm giữ bởi Nhà nước để tập trung thực hiện những mục đích quan
trọng của một quốc gia. Việc mở cửa thị trường tài chính có thể có nguy cơ làm xao
nhãng hoặc thiếu tập trung trong việc điều hành thực hiện những mục tiêu của nhà
nước vì các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài sẽ không quan tâm đến một mục đích
nào khác hơn là mục đích lợi nhuận. Đặc biệt, trong điều kiện hệ thống tài chính nội
địa có khả năng cạnh tranh kém, nền tài chính có nguy cơ bị thống trị bởi các tổ
chức, doanh nghiệp tài chính nước ngoài thì quyền lực kiểm soát, khống chế và điều
khiển thị trường tài chính của Nhà nước sẽ dần bị thu hẹp lại, và do đó có thể
phương hại đến mục tiêu chiến lược của quốc gia. Hơn nữa, việc mở cửa thị trường
với các khoản đầu tư dài hạn-ngắn hạn thông qua hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Cho các doanh nghiệp trong nước tự do tiếp cận với các nguồn vốn quốc tế thông
qua phát hành cổ phiếu – trái phiếu.
− Đối với người dân tự do hóa nguồn vốn cho phép họ thực hiện các hoạt động ở
nước ngoài như mở tài khoản ngân hàng, tham gia các hoạt động đầu tư nhằm đạt
lợi nhuận cao.
− Các doanh nghiệp được phép đầu tư và sở hưu các công ty khác nhau, các dòng vốn
được tự do di chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp sang những nơi có tỷ suất sinh
lợi cao.
1.2.5. Điều kiện để cho tự do hóa tài chính thành công
Cải cách tài chính ở Việt Nam, hội nhập tài chính bằng cách mở cửa dần từng bước
các giao dịch thương mại trên lĩnh vực tài chính là một xu hướng tất yếu. Việt Nam muốn
hội nhập tài chính thì chính sách tài chính và chính sách tiền tệ phải linh hoạt - ổn định
đáng tin cậy. Những điều kiện cho việc tự do hóa tài chính thành công là:
− Quản lý kinh tế vĩ mô vững chắc và tiết kiệm quốc gia cao.
− Thực hiện đúng lộ trình tự do hóa kinh tế.
− Hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả.
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 4/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
− Hệ thống giám sát ngân hàng hợp lý và việc thi hành có hiệu quả.
− Không có khoản cho vay mang tính chất chính trị và lạm dụng hệ thống tài chính.
− Một Chính Phủ triệt để chống tham nhũng và lãng phí.
− Tính minh bạch trong công bố thông tin.
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 5/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
CHƯƠNG 2
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 6/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
Được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài phục vụ các nhu cầu thanh toán và
chuyển tiền. Có trách nhiệm xuất trình các chứng từ theo quy định của tổ chức tín dụng
khi mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài. Khi mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước
ngoài phục vụ các giao dịch vãng lai, người dân không phải xuất trình các chứng từ liên
quan đến việc xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế với Nhà nước Việt Nam.
Chính vì vậy, có thể nói rằng việc tự do hóa giao dịch vãng lai có ảnh hưởng lớn tới
hoạt động doanh nghiệp và đại bộ phận dân cư. Cụ thể là việc mua ngoại tệ phục vụ nhu
cầu cá nhân như: du lịch, khám chữa bệnh, du học hay của các doanh nghiệp khi thanh toán
xuất nhập khẩu, vay tín dụng thương mại nước ngoài ngắn hạn sẽ không nhiều thủ tục về
giấy phép như hiện nay. Cũng theo quy định trong Pháp lệnh Ngoại hối, người dân và các
tổ chức kinh tế còn được trực tiếp vay trả nợ nước ngoài theo nguyên tắc tự vay tự chịu
trách nhiệm.
Các giao dịch vãng lai bao gồm các khoản thanh toán và chuyển tiền liên quan đến
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; các khoản vay tín dụng thương mại và ngân hàng
ngắn hạn; các khoản chuyển tiền một chiều cho mục đích tiêu dùng...
Khi xuất nhập cảnh, các cá nhân sẽ không phải khai báo nếu mang ngoại tệ hay
đồng VN bằng tiền mặt dưới hạn mức qui định (hạn mức đang áp dụng hiện nay là 7.000
USD)... Trong trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài muốn mua bán chứng khoán, các
giấy tờ có giá khác và góp vốn, mua cổ phần tại VN, phải mở tài khoản vốn đầu tư gián
tiếp bằng đồng VN tại ngân hàng...
Hiện trạng tự do giao dịch vãng lai tại Việt Nam:
− Thực tế trong những năm qua, người dân có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ mạnh
như USD hoặc Euro vẫn tìm điểm đến là các tiệm vàng. Theo quy định, người dân
muốn mua USD tại các ngân hàng hay các quầy thu đổi ngoại tệ chính thức phải
xuất trình đủ các loại giấy tờ chứng thực việc cần mua USD cho việc chuyển ra
nước ngoài nộp học phí hay đi du lịch... Do đó, trong trường hợp người dân muốn
và thế giới. Song, nó cũng làm cho nền kinh tế quốc gia trở nên dễ bị tổn thương hơn.
Tại Việt Nam, tự do hóa tài khoản vốn đang từng bước thực hiện là một trong bốn
nội dung của Lộ trình Hội nhập Tiền tệ và Tài chính khu vực ASEAN được thông qua tại
Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN lần thứ 7 vào tháng 8/2003 với mục tiêu là tự do
hóa hơn các luồng chu chuyển vốn vào năm 2020. Trên cơ sở đó, Nhóm Công tác về tự do
hoá tài khoản vốn (cấp kỹ thuật) đã được thành lập để triển khai các kế hoạch đã được đề
ra trong Lộ trình Tự do hoá tài khoản vốn.
Tự do hóa tài khoản vốn nhằm tạo thuận lợi và tự do hóa hơn nữa các luồng luân
chuyển vốn được đề ra trong Kế hoạch Tổng thể Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC
Blueprint), theo đó, tự do hóa các luồng chu chuyển vốn được thực hiện theo các nguyên
tắc: (i) tự do hóa tài khoản vốn phù hợp với điều kiện thực tế và mức độ sẵn sàng của các
nước thành viên; (ii) cho phép phòng vệ chính đáng trước các nguy cơ mất ổn định kinh tế
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 8/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
vĩ mô và rủi ro hệ thống; và (iii) đảm bảo chia sẻ lợi ích giữa tất cả các nước ASEAN.
Trên cơ sở các nguyên tắc định hướng nêu trên, các nước thành viên sẽ tiến hành tự
do hoá theo bốn bước sau: (i) nới lỏng hoặc loại bỏ các qui định liên quan đến giao dịch
vãng lai (2008-2015); áp dụng Điều VIII của IMF về loại bỏ hạn chế đối với các thanh
toán và chuyển tiền để thực hiện các giao dịch vãng lai quốc tế vào năm 2011; (ii) đánh giá
và dần dần nới lỏng các qui định về chuyển tiền quốc tế liên quan đến FDI (2008-2015);
(iii) đánh giá và dần dần nới lỏng các qui định về các luồng vốn đầu tư gián tiếp; đặc biệt
các qui định về nợ và cổ phần (2009-2015); và (iv) đánh giá và dần dần nới lỏng các qui
định về các luồng vốn khác, đặc biệt cả qui định về vay nợ nước ngoài dài hạn của người
cư trú (2011-2015).
Tiến trình thực hiện và định hướng trong thời gian tới
Theo lộ trình hội nhập tài chính tiền tệ, nguyên tắc tự do hoá tài khoản vốn phải
đảm bảo quá trình tự do hoá có trật tự, phù hợp với kế hoạch của từng quốc gia, từng nước
thành viên sẽ thực hiện quá trình tự do hoá tài khoản vốn theo phương thức là tổng hợp
cản đã được xác định đối với các luồng luân chuyển vốn: Luồng vốn FDI, bắt đầu dỡ bỏ từ
năm 2010; Luồng vốn đầu tư gián tiếp, bắt đầu dỡ bỏ từ năm 2011; Luồng vốn khác, bắt
đầu dỡ bỏ từ năm 2012. Tuy nhiên, để tự do hóa an toàn và có tác dụng tích cực đến tăng
trưởng kinh tế, cần phải hiểu và thi hành những chính sách cần thiết để tạo tiền đề cho tự
do hóa xảy ra một cách trôi chảy.
Kinh nghiệm tự do hóa tài khoản vốn ở các nước trên thế giới và quá trình tự do hóa
đang diễn ra ở Trung Quốc, nước láng giềng với nhiều điểm tương đồng về thể chế chính
trị và kinh tế với Việt Nam:
− Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 : xem xét lại những vấn đề liên
quan đến tự do hóa tài khoản vốn với vai trò trọng yếu của hệ thống tài chính được
chế tài tốt, quản lý tốt, và tư bản hóa tốt càng được coi trọng hơn. Các nhà làm
chính sách đã nhìn nhận đúng đắn hơn rằng tự do hóa tài khoản vốn phụ thuộc vào
một loạt các chính sách hữu hiệu.
− Tự do hóa tài khoản vốn thường xuyên gây ra các cuộc khủng hoảng ở cả các nền
kinh tế phát triển và đang phát triển (ở khu vực Scandinavia, Mỹ Latinh, và Đông
á), tự do hóa tài khoản vốn đã hấp thu một lượng vốn chảy vào nền kinh tế quá lớn
so với khả năng hấp thụ của chúng một cách an toàn. Thời gian trôi qua, vốn chảy
vào biến thành vốn chảy ra, để lộ ra một hệ thống tài chính què quặt.
− Nhờ có tăng trưởng nhanh hơn và/hoặc lạm phát cao hơn, lãi suất có xu hướng cao
hơn ở nước có tài khoản được tự do hóa so với mức quốc tế. Lãi suất cao hơn này,
kết hợp với sự hiện diện của nhiều cơ hội mới nảy sinh từ việc tự do hóa, dẫn đến
dòng vốn chảy vào tăng lên mạnh
− Tăng trưởng tiền tệ nhanh, và thậm chí tăng trưởng tín dụng nhanh hơn, giá các loại
tài sản tăng kiểu bong bóng, và cơn sốt đầu tư và tiêu dùng.
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 10/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
− Khi tính cạnh tranh bị giảm sút, tài khoản vãng lai thâm hụt, và nợ xấu tăng lên, làm
xói mòn lòng tin của các nhà đầu tư. Sự tăng giá của bản tệ, hoặc là do sự lên giá về
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 11/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
Mặc dù còn nhiều bất đồng nhưng người ta thống nhất với nhau rằng tự do hóa tài
khoản vốn chỉ thành công ở những nền kinh tế có môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh, và
tự do hóa tài khoản vốn là một phần khăng khít của chương trình cải cách. Thiếu sót ở các
lĩnh vực khác cũng có thể dẫn đến những kết quả đáng tiếc từ việc tự do hóa tài khoản vốn.
Một số đặc điểm chính của nền kinh tế Trung Quốc. Tình trạng kinh tế của Trung
Quốc có khác biệt lớn so với của các nước ở Mỹ Latinh và Châu Á:
− Trước tiên, dù Trung Quốc đang thực thi việc kiểm soát ngoại hối chặt chẽ, Trung
Quốc đã mở rộng cửa cho các dòng vốn nước ngoài. Thậm chí người ta có thể nói
rằng Trung Quốc đã mở cửa cho FDI còn rộng hơn cả nhiều nước OECD. Đặc biệt,
Trung Quốc gần đây đã khuyến khích FDI ra nước ngoài, vào các dự án về năng
lượng và kỹ thuật.
− Ngoài ra, đồng CNY được sử dụng khá phổ biến ở những nước láng giềng, đôi khi
có thể coi như một ngoại tệ mạnh. Có lẽ bằng chứng về độ mở rộng rãi về tài chính
của Trung Quốc có thể thấy qua tốc độ phát triển của tiền gửi ngoại tệ trong hệ
thống ngân hàng Trung Quốc, một phần vì chính phủ cho phép duy trì lãi suất tiền
gửi ngoại tệ ở Trung Quốc khá gần với mức trên thị trường quốc tế. Sự biến động
tiền gửi ngoại tệ hàng tháng theo sát những biến động về biên độ lãi suất và dự đoán
về tỷ giá. Những yếu tố về mở cửa tài chính này sẽ tạo thuận lợi cho việc tự do hóa
tài khoản vốn vì nhiều điều chỉnh lớn cần thực hiện khi tự do hóa đã được thực
hiện.
− Nhưng do tiền gửi bằng ngoại tệ tăng nhanh, kết hợp với xu hướng giảm cho vay
bằng ngoại tệ của các ngân hàng Trung Quốc, hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã
dư thừa vốn thanh khoản bằng ngoại tệ. Nguồn vốn này, tăng nhanh hơn cả tốc độ
tăng dự trữ ngoại hối, đã góp thêm vào luồng vốn ngoại tệ đổ ra khỏi Trung Quốc
lên đến 140 tỷ USD trong thời kỳ 1999 - 2001. Bởi vậy, câu hỏi liên quan đến việc
tự do hóa tài khoản vốn của Trung Quốc không còn là câu hỏi liệu có cho phép vốn
cho tự do hóa tài khoản vốn. Đầu tư của chính phủ vào cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn
đi vay đã diễn ra từ nhiều năm nay, nhưng tỷ trọng nợ trên GDP mà chính phủ công
bố thì vẫn ở trong mức kiểm soát được. Tuy nhiên, hệ thống hưu trí đói vốn và hệ
thống ngân hàng có tỷ trọng vốn an toàn ở mức thấp là một điều đáng lo ngại.
Những khoản vốn cần thiết này cho thấy gánh nặng về nợ thực tế lớn hơn nhiều
mức công bố.
− Thứ sáu, và là hiểm họa lớn nhất khi tự do hóa tài khoản vốn, hệ thống tài chính của
Trung Quốc bị chi phối chủ yếu bởi hệ thống ngân hàng tuy lớn và có lượng thanh
khoản lớn nhưng lại không mạnh. Tỷ trọng tiền M2/GDP đã đạt đến 165% GDP
gần đây, là mức rất cao so với bất kỳ một tiêu chuẩn nào. Các ngân hàng Trung
Quốc cũng có khả năng thanh khoản lớn: tỷ lệ dư nợ cho vay/tiền gửi, khoảng trên
80%. Nhưng hệ thống ngân hàng này bị coi là yếu về mặt năng lực chi trả, vì tỷ lệ
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 13/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
nợ xấu vẫn còn cao, trên 10%, mặc dù chính phủ đã có những nỗ lực lớn để giảm nợ
xấu từ mức trên 30%.
Điều khác biệt về tình trạng kinh tế giữa Trung Quốc và các nước khác có liên
quan
Trung Quốc có 2 điểm khác biệt cơ bản về điều kiện ban đầu khi tự do hóa tài
khoản vốn so với các nước nói ở phần trên. Một là, Trung Quốc đang trải qua thời kỳ giá
ổn định, thậm chí hơi giảm, lãi suất danh nghĩa thấp, và giá trị các tài sản (cổ phiếu, trái
phiếu...) cao. Trong khi đó, ở các nước tự do hóa tài khoản vốn và bị khủng hoảng, thường
có lạm phát tương đối cao, lãi suất bản tệ cao, và giá trị các tài sản thấp. Hai là, Trung
Quốc hấp thu được một luồng vốn FDI lớn, dự trữ ngoại tệ lớn, và là một chủ nợ của thế
giới, thay vì phải phụ thuộc vào vốn ngắn hạn mang tính đầu cơ, dự trữ ngoại tệ hạn hẹp và
nợ nước ngoài lớn như ở các nước khác nói ở đây.
Nói chung, những điều kiện ban đầu của một nền kinh tế quyết định mức rủi ro
trong việc tự do hóa tài khoản vốn. Có thể dự đoán rằng sau khi mở tài khoản vốn ở Trung
gian nắm giữ nguồn vốn này, và được điều chỉnh thích hợp để tác động đến dòng chảy này,
theo cùng cách thức mà các quỹ đầu tư sử dụng để điều chỉnh hành vi của cổ đông? Hiển
nhiên, câu trả lời cho những câu hỏi này không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện ban đầu
mà còn dựa vào tầm quan trọng tương đối của nhiều mục tiêu chính sách và mức độ tự do
hóa tài khoản vốn cần phải đạt được.
Và triển vọng tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam
So sánh với Trung Quốc và các nước khác nêu ở trên thì rõ ràng Việt Nam nằm đâu
đó giữa hai thái cực. Một mặt, Việt Nam chia xẻ một số điểm tương đồng với Trung Quốc
như có một nguồn vốn FDI đổ vào khá dồi dào (tính theo tỷ trọng GDP thì thậm chí còn
lớn hơn của Trung Quốc); giá trị các tài sản tài chính (cổ phiếu, trái phiếu) đang lên cao,
theo sát diễn biến lạc quan của tăng trưởng kinh tế cao (khoảng 8%/năm); sự phụ thuộc
vào và tỷ trọng vốn đầu tư gián tiếp trong tổng các nguồn tài trợ từ nước ngoài còn thấp;
vai trò can thiệp và tham gia vào nền kinh tế của chính phủ rất lớn, thông qua đầu tư nhà
nước và khối doanh nghiệp nhà nước, làm cho thâm hụt ngân sách luôn ở mức khá cao và
luôn cần bổ sung thêm vốn.
Mặt khác, Việt Nam cũng có nhiều điểm giống các nước bị khủng hoảng tài chính
khi tự do hóa tài khoản vốn, như có lạm phát tương đối cao (gần 8% trong mấy năm gần
đây), lãi suất danh nghĩa VND cao, dự trữ ngoại hối còn hạn hẹp, thâm hụt tài khoản vãng
lai kinh niên, và nợ nước ngoài tương đối lớn. Ngoài ra, Việt Nam giống tất cả các nước có
liên quan ở điểm là hệ thống tài chính còn rất yếu kém, với tỷ lệ nợ xấu cao, rủi ro hệ
thống lớn, thông lệ cho vay bất cẩn, chế độ quản trị ngân hàng còn yếu kém, và cơ chế tỷ
giá còn cứng nhắc...
Với những đặc điểm này, có thể thấy rằng các điều kiện tiền đề cho tự do hóa tài
khoản vốn ở Việt Nam một cách an toàn là chưa tồn tại hoặc chưa đầy đủ, nhất là những
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 15/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
điều kiện tiền đề về nền kinh tế vĩ mô lành mạnh, cũng như một hệ thống tài chính và hạ
tầng cơ sở giám sát vững chắc. Cũng không kém phần quan trọng là chính phủ và người
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 16/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
− Theo Điều 55 - Bộ Luật Lao Động Việt Nam quy định tiền lương của người lao
động là do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất
lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Hiện nghị định 28/2010/NĐ-CP (ban
hành ngày 25/3/2010), từ 1/5 mức lương tối thiểu chung sẽ lên 730.000đ/tháng.
Mức lương này được áp dụng đối với: Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị sự
nghiệp của tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; công ty được
thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)
và công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức
quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Vì vậy, tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện bằng tiền được trả
cho người lao động dựa trên số lượng và chất lượng lao động của mọi người dùng để bù
đắp lại hao phí lao động của mọi người và nó là một vấn đề thiết thực đối với cán bộ công
nhân viên.Tiền lương được quy định một cách đúng đắn, là yếu tố kích thích sản xuất
mạnh mẽ, nó kích thích người lao động ra sức sản xuất và làm việc, nâng cao trình độ tay
nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động.
Người lao động sau khi sử dụng sức lao động tạo ra sản phẩm thì được trả một số
tiền công nhất định. Xét về hiện tượng ta thấy sức lao động được đem trao đổi để lấy tiền
công. Vậy có thể coi sức lao động là hàng hoá, một loại hàng hoá đặc biệt. Và tiền lương
chính là giá cả của hàng hoá đặc biệt đó, hàng hoá sức lao động. Vì hàng hoá sức lao động
cần được đem ra trao đổi trên thị trường lao động trên cơ sở thoả thuận giữa người mua
với người bán, chịu sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung cầu. Do đó giá cả sức
lao động sẽ biến đổi theo giá cả của các yếu tố cấu thành cũng như quan hệ cung cầu về lao
động. Như vậy khi coi tiền công là giá trị của lao động thì giá cả này sẽ hình thành trên cơ
sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Giá cả sức lao động hay tiền
công có thể tăng hoặc giảm phụ thuộc vào cung cầu hàng hoá sức lao động. Như vậy giá cả
Khái niệm giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, nghĩa là số lượng tiền
phải trả cho hàng hoá đó. Về nghĩa rộng đó là số tiền phải trả cho một hàng hoá, một dịch
vụ, hay một tài sản nào đó. Giá cả của hàng hoá nói chung là đại lượng thay đổi xoay
quanh giá trị. Khi cung và cầu của một hay một loại hàng hóa về cơ bản ăn khớp với nhau
thì giá cả phản ánh và phù hợp với giá trị của hàng hoá đó, trường hợp này ít khi xảy ra.
Giá cả của hàng hoá sẽ cao hơn giá trị của hàng hoá nếu số lượng cung thấp hơn cầu.
Ngược lại, nếu cung vượt cầu thì giá cả sẽ thấp hơn giá trị của hàng hoá đó.
Giá cả của một mặt hàng phụ thuộc vào:
− Giá trị của bản thân hàng hoá đó
− Giá trị của đồng tiền
− Quan hệ cung và cầu cầu về hàng hoá
Tương quan giữa chính sách lương và giá tại Việt Nam: được xem là cuộc rượt đuổi
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 18/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
khó có hồi kết bởi nhũng yếu tố tác động như sau:
− Tiền lương tối thiểu được hiểu là mức lương đủ đảm bảo cho cuộc sống tối thiểu
của người lao động mới điều chỉnh khoảng giữa năm 2010 nhưng. Thế nhưng, trên
thực tế, lương tối thiểu và thực tiễn cuộc sống vẫn còn khoảng cách . Vấn đề hiện
nay là phải làm sao xây dựng mức lương tối thiểu phù hợp với nhu cầu thực tế ở
thời điểm công bố như quy định tại điều 56 Bộ luật Lao động: “Mức lương tối thiểu
được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản
đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một
phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng...”.
− Quan trọng nhất vẫn là, tiền lương không thể áp đặt mà phải theo hướng thị trường -
hình thành trên cơ sở mức sống, quan hệ cung cầu lao động và thỏa ước lao động
tập thể.
− Để thoát ra khỏi giới hạn ngân sách khi quỹ lương hiện đã chiếm trên 30% tổng chi
ngân sách và bằng 60% của chi thường xuyên là điều rất khó khăn (dù nhu cầu tăng
đoạn: tăng trưởng cao (1991 - 1996), suy thoái (1997 - 2001), phục hồi (2002 - 2007). Như
vậy, từ năm 1991 đến năm 2007, nền kinh tế đã trải qua giai đoạn suy thoái và Chính phủ
đã sử dụng biện pháp kích thích bằng chính sách tài khóa.
Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, Chính phủ đã thực hiện nhiều
chính sách năng động khác nhau để kích thích kinh tế, như cải cách thể chế kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường, mở cửa thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy thương mại quốc tế,
đẩy mạnh tự do hóa hệ thống tài chính và phát triển thị trường tài chính năng động... Như
vậy, vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 1997 đến nay không thể chỉ giải thích ở
biến số chính sách tài khóa duy nhất. Có điều cần lưu ý, sự thay đổi tỷ lệ tăng trưởng từ
năm “đáy” của suy thoái đến năm sau đó là lớn hơn khi có những thay đổi cơ bản của
chính sách tài khóa như: giảm mức huy động nguồn thu thuế thông qua chương trình cải
cách thuế bước 2 và 3, đặc biệt gia tăng chi đầu tư công thông qua các chương trình kích
cầu từ nguồn vốn ngân sách và phát hành trái phiếu chính phủ... Tuy vậy, điều này cũng
chưa đủ cơ sở khoa học để khẳng định, chính sách tài khóa có hiệu ứng tốt đến ổn định chu
kỳ và khắc phục suy thoái kinh tế, mà cần có sự đo lường bằng phương pháp định lượng.
2.2.2. Giai đoạn 2007 – 2008
Từ cuối năm 2007 đến tháng 3-2008, chính sách kinh tế được chi phối bởi mục tiêu
tăng trưởng GDP 9%, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kế hoạch năm năm sớm (chỉ trong
ba năm), vượt ngưỡng nước có thu nhập trung bình ngay trong năm 2008...
Mặc dù đã có những cảnh báo sớm từ cuối năm 2007 về chất lượng tăng trưởng
thấp, chất lượng cuộc sống của người dân bị giảm sút, song quyết tâm của Chính phủ rõ
ràng là phải đạt được những thành tựu ấn tượng, vượt lên trên tất cả các thời kỳ trước đây.
Ý chí và mục tiêu đó được sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế và các nhà ngoại giao
qua những lời ca tụng không ngớt về những thành tựu nổi bật của Việt Nam, về vị thế mới
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 20/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
của Việt Nam trên trường quốc tế (thành viên WTO, lần đầu tiên được bầu là thành viên
không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc...) và về dòng vốn nước ngoài đầu tư
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 21/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
siêu...
Theo bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2008 Nhà nước đã cam kết cắt giảm 2.700
tỉ đồng chi thường xuyên (bao gồm quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, đảng…), và
5.992 tỉ đồng (tương ứng 8% kế hoạch năm) chi cho đầu tư phát triển (bao gồm các công
trình cơ sở hạ tầng…). Hai khoản cắt giảm trong chi tiêu công nêu trên được các bộ,
ngành, uỷ ban nhân dân các tỉnh cam kết thực hiện vào tháng 7 vừa qua nhằm kiềm chế
lạm phát.
Tuy nhiên, theo báo cáo mới công bố của tổng cục Thống kê, tổng chi ngân sách
nhà nước năm 2008 tăng tới 22,3% so với năm 2007 và bằng 118,9% dự toán năm. Trong
số đó, chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên vượt dự toán tương ứng ở mức 118,3% và
113,3%.Như vậy, rõ ràng là chính sách tài khoá đã không được thực hiện nghiêm túc như
cam kết ban đầu, nhất là trong nhóm tám giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát.
2.2.3. Giai đoạn từ năm 2009 đến nay
Chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới , kinh tế trong nước đang đối
mặt với nhiều khó khăn. Thị trường xuất khẩu và đầu tư thế giới giảm sút đột ngột, nền
kinh tế Việt Nam đã lập tức rơi vào suy giảm, từ mức tăng trưởng trên 7% (năm 2008)
xuống còn 3,1% vào quý I-2009. Giá một số mặt hàng xuất khẩu chính giảm mạnh, như giá
gạo trong tháng 10-2009 giảm tới 20%, cà phê giảm tới 34,5%, cao su giảm gần 50%...
Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp điều hành quyết liệt
nhằm chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô và hướng tới tăng trưởng bền vững. Một
trong những giải pháp chủ yếu là Chính sách tài khóa mở rộng, gồm các gói kích cầu. Gói
kích cầu thứ nhất đã được triển khai nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17.000 tỉ đồng, gói kích
cầu thứ hai, với tổng nguồn vốn khoảng 8 tỉ USD, hỗ trợ lãi suất trong trung và dài hạn
nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất.
Từ cuối năm 2008, Nhiều chính sách thuế mới nhằm thực hiện chủ trương kích cầu,
giảm khó khăn cho doanh nghiệp (DN) theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày
bước.
Năm 2010, kinh tế nước ta đã khắc phục được đà suy thoái nhưng vẫn tiềm ẩn
nhiều yếu tố gây bất ổn vĩ mô. Yếu tố bất ổn dễ nhận thấy nhất là nguy cơ lạm phát cao
quay trở lại do độ trễ của lượng cung tiền khá lớn được Nhà nước bơm vào thị trường
trong các năm 2008 - 2009 để thực hiện các giải pháp phục hồi tăng trưởng kinh tế. Tiếp
đến là nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là
do tình trạng nhập siêu. Trong năm 2008, quy mô nhập siêu của nước ta lên tới 17,5 tỉ
USD, và năm 2009 nhập siêu khoảng 12 tỉ USD. Cùng với nguy cơ tái lạm phát cao, nếu tỷ
lệ nhập siêu tiếp tục tăng cao trong năm nay sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát kép, tức là vừa
lạm phát trong nước, vừa nhập khẩu lạm phát. Một rủi ro tiềm ẩn khác trong chính sách
tiền tệ là tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại thời điểm này đang được cho
là có vấn đề, do các ngân hàng thương mại có thể chạy đua nâng cao lãi suất để huy động
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 23/89
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
vốn.
Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ thực hiện 6 nhóm giải pháp đồng bộ cùng với
gói kích cầu thứ hai để nâng cao hiệu quả đầu tư, trong đó, tập trung vốn đầu tư cho phát
triển các dự án, công trình có hiệu quả, có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng sớm trong
năm 2010 - 2011, thay vì mở rộng đầu tư trong bối cảnh khan hiếm vốn, tỷ lệ vốn đầu tư
trên GDP cao và hệ số ICOR cao. Để thực hiện tốt các mục tiêu này, cần chọn lọc hơn khi
triển khai gói kích thích kinh tế bổ sung, chỉ ưu tiên hỗ trợ những ngành, lĩnh vực trực tiếp
sản xuất tiêu thụ trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Ngoài ra, gói kích thích kinh tế bổ
sung đặt trọng tâm vào chính sách tài khóa (chính sách thuế, tài chính, ngân sách...) và cải
cách hành chính nhằm làm cho chính sách dễ đi vào hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.3. Chính sách tiền tệ
2.3.1. Tính chuyển đổi của đồng tiền
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế ( IMF), đồng tiền tự do chuyển đổi là đồng tiền của một
0,27%, tháng 6 tăng 0,22%); đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh, tháng 6, FDI
tăng 900 triệu USD, nâng mức vốn FDI 6 tháng lên 5,4 tỷ USD, tăng 6% so với
cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế
Trung ương, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu vẫn theo chiều rộng, chất
lượng tăng trưởng chưa cao, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp so với thế
giới. Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh tại Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2010
cho thấy, xếp năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2009 – 2010 đứng thứ 75/133
( năm 2008 – 2009 đứng thứ 70/132). Có sự mất cân đối kinh tế vĩ mô như thâm hụt
lớn giữa tiết kiệm và đầu tư, vấn đề nợ công ngày càng tăng, tiềm ẩn nguy cơ lạm
phát.
− Thứ hai, thị trường tài chính tiềm ẩn một số nhân tố bất ổn. Khủng hoảng tài chính
toàn cầu và những bất cập của nền kinh tế Việt Nam được biểu hiện rõ nét trong
năm 2008 – 2009 vừa qua (lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn, đầu tư nước
ngoài giảm…), cùng với hệ lụy của các giải pháp, chính sách chống suy giảm kinh
tế đã gây nên những hạn chế nhất định đến mức độ chuyển đổi của VND, đó là gây
sự ép giảm giá VND, gây khan hiếm ngoại tệ, nhu cầu thanh toán ngoại tệ của
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 25/89