1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây hồi là tên gọi chung của giống Illicium thuộc họ Schisandraceae,
giống hồi Illicium. Hồi là cây trồng có giá trị kinh tế cao, được xem là cây
nguyên sản của vùng Đông Bắc Việt Nam nói chung, tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
Cây hồi được trồng ở các huyện miền núi của tỉnh Lạng Sơn như huyện Văn
Quan, Bình Gia, Cao Lộc, Bắc Sơn, Lộc Bình với khoảng 37.000 ha, giá trị
hoa hồi xuất khẩu đã và đang đem lại nguồn thu trên 600 tỷ đồng mỗi năm.
Đây là nguồn nông sản xuất khẩu chính của tỉnh và cũng là nguồn thu nhập
chính của bà con nông dân dân tộc ít người và các xã đặc biệt khó khăn.Cây
hồi không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tinh
Lạng Sơn mà nó còn là nét biểu trưng cho văn hóa, địa lý con người xứ Lạng.
Trong quả hồi có chứa đường và rất nhiều các hợp chất hóa học như:
anethol, tecpen, pinen, dipenten, limonen ở dạng tinh dầu. Hồi là một vị
thuốc được dùng trong cả đông y và tây y. Tây y dùng hồi làm thuốc trung
tiện, giúp tiêu hóa, lợi sữa, tác dụng trên hệ thống thần kinh và cơ Gần đây,
tinh dầu hồi được sử dụng như nguồn dược liệu quý trong việc tạo kháng sinh
Tamiflu chống bệnh cúm A/H5N1, H3N2… trên gia cầm.Trong đông y hồi có
tác dụng đuổi hàn, kiện tỳ, khai vị, dùng chữa đau bụng, bụng đầy chướng,
giải độc của thịt cá và trong chế biến thực phẩm khác.
Cây hồi được coi là cây có ít sâu bệnh cho nên nó ít được quan tâm
nghiên cứu trong thời gian dài. Hầu hết các tư liệu về sâu bệnh hại cây hồi
đều rất hiếm. Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây tình hình sâu hại trên cây
hồi ngày càng gia tăng nghiêm trọng nhấtlà bọ ánh kim (BAK) hại hồi đang là
mối lo âu hàng đầu cho các rừng hồi.Bọ ánh kim hoa hại hồi là một loài sâu
thuộc họ ánh kim Chrysomelidae đa và đang bùng phát với số lượng lớn, gây
hại nặng trên diện tích hơn 12.000 ha thuộc địa bàn 3 huyện Văn Quan, Cao
1
2
Lộc, Lộc Bình trên tổng số gần 37.000ha rừng hồi của cả tỉnh. Cả trưởng
Beauveria bassiana(B.bassiana)có hoạt lực cao trong việc phòng trừ bọ ánh
kim hại hồi.
Đánh giá hiệu lực phòng trừ của các loài nấm đối với bọ ánh kim hại hồi.
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của nấm
M.anisopliae và B.bassianalà cơ sở khoa học quan trọng trong việc tạo chế
phẩm sinh học phòng trừ bọ ánh kim hại hồi.
*Ý nghĩa thực tiễn
Phát triển và sử dụng chế phẩm M. anisopliae và B. bassianatrong
phòng bọ ánh kimhại hồi giảm sử dụng thuốc trừ sâu hoá học, góp phần bảo
vệ môi trường,sản xuất sản phẩm an toàn phục vụ xuất khẩu
3
4
Phần I. TỔNG QUAN
2.1.Cơ sở khoa học
Trong sinh quần nông nghiệp có nhiều tác nhân sinh học là nhân tố
điều hòa tự nhiên, duy trì cần bằng sinh thái của quần thể sinh vật trên đồng
ruộng (Phạm Văn Lầm, 1995) [1].Trong số các tác nhân sinh học gây chết sâu
hại cây trồng thì nấm ký sinh côn trùng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng.
Theo tác giả E. A. Steinhaus (1949) thì các nấm diệt sâu trong thiên nhiên
chưa cần đến con người đã làm được nhiệm vụ điều hoà và tiêu diệt một
lượng lớn các côn trùng gây hại (dẫn theo N. N. Tú và CS)[2].
Nấm gây bệnh cho côn trùng là một tác nhân sinh học quan trọng trong
việc không chế côn trùng gây hại.Vai trò trấn áp những trận dịch lớn do côn
trùng gây hại của các chủng nấm vật ký sinh được trình bày rất rõ trong nhiều
công trình của nhiều tác giả trên thế giới (V.P. Paspelop 1940, Dusky S.R.
1959, Hanada I. 1959 -1964…). Đây là một nhân tố hữu dụng trong hệ thống
quản lý sâu hại tổng hợp IPM (Gillespie; Rombach và CS, 1986).Việc nghiên
cứu bệnh lý học côn trùngđã được tiến hành từ rất sớm.
Bảo tàng Australia và loài gây hại này mới chỉ được giám định đến giống với
tên khoa học là Oidessp[17].
Họ Chrysomelidae là một họ lớn trong bộ cánh cứng Coleoptera với hơn
40.000 loài phân bố trên toàn thế giới hầu hết trong số chúng là loài ăn thực
vật, thành phần ký chủ của chúng tương đối phức tạp (Jolivet và cs, 1995).
5
6
Thành phần loài của họ chrysomelidae ở Anh khá phong phú, chúng gồm 264
loài thuộc 60 giống của 7 họ phụ, trong đó họ phụ Galerucinae có số lượng
giống loài lớn nhất (32 giống, 142 loài)[18]. Chỉ tính riêng số loài thuộc bọ
ánh kim Chrysomelidae ở bang Ohio (Mỹ) đã có tới hơn 400 loài chúng thuộc
99 giống của 12 họ phụ. Trong đó họ phụ Halticinae có số giống loài nhiều
nhất, chúng tương ứng là 27 giống, 124 loài (Hughes, 1944). Số loài thuộc họ
Chrysomelidae ở Đài Loan ghi nhận được chưa nhiều, chỉ có 43 loài thuộc 36
giống của 10 họ phụ được giám định với 5 loài được ghi nhận lần đầu tiên cho
hệ côn trùng Đài Loan. Trong số đó, họ phụ Galerucinae có số lượng loài nhiều
nhất (19 loài) (Kimoto, 1965). Khi nghiên cứu về thành phần các loài thuộc họ bọ
ánh kim ở vùng Châu Á Thái Bình Dương tác giả Kimoto và Gressitt (1963) đã
thống kê và giám định được 1.249 loài thuộc 5 họ phụ, bổ sung 178 loài mới
thuộc côn trùng họ ánh kim cho khu hệ côn trùng Trung Quốc và Hàn Quốc.
Trong cuốn sách này có loài Oides leucomelaena được ghi nhận gây hại trên cây
có dầu ở Trung Quốc trong một phạm vi rất hẹp, những thông tin về loài này cũng
rất hạn chế. Ở vùng Thái Lan và Đông Dương, tác giả đã ghi nhận được 188 loài
thuộc 36 giống của 5 họ phụ, trong đó họ phụ Cryptocephalinae có số loài nhiều
nhất với 81 loài, 16 loài mới đã được bổ sung cho danh sách các loài côn trùng họ
ánh kim ở Thái Lan và Đông Dương (Kimoto và Gressitt (1981).
* Đặc điểm sinh học của một số loài sâu hại chính trên cây hồi
Những dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh học của các loài sâu hại trên
cây hồi khá khiêm tốn và sơ sài.Loài sâu hại Pseudodoniella sp. được ghi
nhận có 3-4 lứa/năm các lứa gối lên nhau.Chúng qua đông ở giai đoạn trưởng
dụng trong hệ thống quản lý sâu hại tổng hợp IPM (Gillespie; Rombach và
CS, 1986)[15].Trên thế giới, việc sử dụng nấm ký sinh gây bệnh để để phòng
7
8
trừ sinh học đối với các loài côn trùng đã được quan tâm nghiên cứu và ứng
dụng từ rất sớm.
Năm 1815, Agostino Bassi đã mô tả tỷ mỷ về nấm trắng Muscardin
(B.bassiana) trên tằm dâu và đưa ra biện pháp phòng trừ (dẫn theo T. K.
Chỉnh, 1996). Sau đó một số công trình nghiên cứu về nấm có ích của tác giả
như Oduen (1837), Luis Pasteur (1885-1890), Carte A và Levrat D (1909)
.v.v đã công bố những tài liệu trong đó miêu tả tỉ mỉ về hình thái các chủng
vi nấm ký côn trùng và sự phân bố của chúng trong tự nhiên. Trong giai đoạn
này vấn đề sử dụng nấm có ích trong đấu tranh sinh học cũng được quan tâm
nghiên cứu. Người đi tiên phong trong lĩnh vực này chính là nhà khoa học
người Nga Ilya Ilich Mechnikov (1884). Ông cùng người học trò của mình là
nhà côn trùng học Isac Krasirsik đã tiến hành sản xuất bào tử nấm M.
anisopliae , trộn với đất bột để tung ra đồng ruộng diệt sâu non và trưởng
thành bọ đầu dại hại củ cải đường (Bothinoderes punctiventris) và đã đạt
được hiệu quả gây chết đến 55-80% sau 10-14 ngày[3].
Tiếp đó rất nhiều công trình nghiên cứu sản xuất và ứng dụng nấm có
ích phòng trừ sâu hại cây trồng. Các công trình tập trung nghiên cứu khả năng
nhân nuôi nấm và đã xác định được môi trường thích hợp để nhân sinh khối
một số chủng nấm như Cordyceps norvegica (Sopp U. J. ,1911), Euprocties
phacorhoca (Speare A. G. 1912) Entomophthorales sp (Wolff M., 1925)
[15]. Ở thời kỳ đó thì thành tựu này là một tiến bộ rất to lớn. Nó giúp vạch ra
phương hướng sử dụng vi sinh vật đấu tranh với côn trùng hại trên quy mô
lớn. Sau giai đoạn này các thí nghiệm về nhân sinh khối và sử dụng nấm ký
sinh để đấu tranh sinh học với các loại sâu hại đã được bổ xung và hoàn thiện
hơn bởi các nhà nghiên cứu khoa học người Nga như V.P. Pospelov (1932).
L.V. Chesnova (1959),…. Cũng trong khoảng thời gian này, tại Mỹ, Edward
Anderson và CS., 1988; Quintela và CS., 1990; Bing, 1991). Ở Canada đã
nghiên cứu ứng dụng nấm B. bassiana và Paecilomyces để phòng trừ châu
chấu hại lúa và loài rệp vừng (Heyden và CS, 1992). Còn tại các nước Mỹ La-
tinh mà điển hình là tại Brazil đã có nhiều công trình nghiên cứu với xu
hướng sử dụng nấm M. anisopliae và B. Bassiana,Paecilomyces để phòng trừ
côn trùng trong đất hại cây trồng (Lobolima và CS., 1992; Quitella và
CS.,1998; Fernandes E. K. và CS., 2008). Hiện nay tại Bzazi các chế phẩm
nấm ký sinh đã ứng dụng tới vài triệu hecta cây trồng.
Ở các nước Châu Âu như Đức, Anh, Italy, Séc, Balan và Rumani đã
tập trung nghiên cứu và ứng dụng nấm M. anisopliae để diệt côn trùng. Tại
Đức ứng dụng nấm diệt mối đất, sâu vòi voi hại nho (Hanel; Andersch và
Zimmerman) .Tại Nga chế phẩm Boverin phòng trừ thành công bọ cánh cứng
Colorado Beetle (Ferron 1978) . Một số nước Bắc Âu như Phần Lan, Thuỵ
Điển cũng đã có nhiều nghiên cứu sử dụng nấm có ích để phòng trừ sâu hại
cây trồng (Wandresch và CS ,1990; Vainio và CS 1990; Keller và CS 1993).
Còn tại Châu Á, các tác giả ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, đã sử
dụng nấm Paecilomyces farinosus, B. bassiana (Am, Wu.) và M. anisopliae
để phòng trừ sâu róm thông Dendrolimus punctatus (Fan và CS), sâu đục thân
(Li), châu chấu hại lúa Locusta migratoria ( Lu và CS. 1993). Tại Malaysia,
nấm xanh Metarhizium anisopliae đã được nghiên cứu để phòng trừ mối đất
đạt hiệu quả 64,75% sau 14 ngày. Tại Philippines, đã nghiên cứu sử dụng
nấm xanh để diệt rầy nâu hại lúa đạt hiệu lực 60% sau 10 ngày. Năm 1986,
Rombach và cộng sự đã tiến hành phun nấm M. anisopliae, M. flavoviride, B.
bassiana và Hirsulella citriformis ở liều lượng 5 x 10
12
bt/ha phòng trừ rầy
nâu hại lúa và nhận thấy hiệu quả của chế phẩm đạt cao nhất sau 2 tuần [16].
10
11
Tại Nhật Bản, năm 1988 một số nhà khoa học đã sử dụng nấm xanh để phòng
diệt côn trùng hại cây trồng thông qua giám định và miêu tả. Năm 1944, tại
11
12
trường đại học tổng hợp California, nhà khoa học Edward Steinhaus, người
đầu tiên thành lập ra phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu về bệnh lý học côn
trùng bằng kính hiển vi điện tử, tác giả tập trung chủ yếu vào 2 chi nấm côn
trùng có triển vọng:
a- : Chi Beauveria
Vì nấm có mầu trắng nên thường gọi tên là nấm bạch cương hoặc nấm
trắng. Nhiều nước như Liên Xô cũ, Anh và Mỹ đã sản xuất thành công chế
phẩm nấm Beauveria với tên thương mại là Beauverin dựa vào động tố.
Trong chi này có 3 loài nấm chính có khả năng diệt côn trùng, đó là:
- Beauveria bassiana
- Beauveria tenella
- Beauveria brongniartii.
Trong 3 loài trên thì loài Beauveria bassianachiếm 85-90% tỉ lệ ký sinh trên
côn trùng hại cây trồng, vì thế nhiều nơi chỉ nghiên cứu nấmBeauveria
bassiana.
* Đặc điểm hình thái của nấm B. bassiana
NấmB.bassiana sinh ra những bào tử trần đơn bào(1 tế bào), không
mầu, hình cầu hoặc hình trứng, đường kính từ 1-4µm sợi nấm có đường kính
nằm ngang từ 3-5µm phát triển mạnh trên môi trường nhân tạo hoặc trên cơ
thể côn trùng, chúng mang nhiều giá sinh bào tử, phồng to ở phía dưới với
kích thước 3-5 x 3-6 µm. Các giá bào tử trần thường tạo thành các nhánh ở
phần ngọn hoặc trực tiếp tạo thành ra nhánh của giá, phần ngọn của bào tử có
dạng cuống hẹp hình dích zắc không đều.
*Độc tố của nấm B. Bassiana là Beauvericin
Năm 1696 R.L Hamill và cộng sự đã xác định được độc tố diệt côn
trùng của nấm bạch cương B. bassiana và đặt tên cho độc tố này là
12
trùng, sự di động này tùy theo mức độ phát triển của bệnh. Khi bị bệnh các
mô dần dần bị phá hủy từng phần, lúc đầu côn trùng di động yếu sau ngừng
hẳn nằm im một chỗ cho đến khi chết.Khi bị bệnh nấm, vận động của côn
trùng ngừng từ 2-3 ngày thậm chí một tuần trước khi nấm phát triển đầy trong
thân côn trùng. Chỉ những côn trùng bị thương hay bị bệnh nấm, màu sắc toàn
13
14
thân mới thay đổi và xuất hiện những vết đen. Khi sâu hại bị bệnh do nấm B.
bassiana ở chỗ bào tử bám vào, nấm phát triển vào bên trong thân sâu tạo nên
một vệt đen không có hình thù nhất định. Côn trùng chết do nấm thường có
màu hồng, vàng nhạt, trắng và toàn thân cứng lại. Khi bị bệnh nấm thân côn
trùng bị ngắn lại hoặc khô là do hệ thống tiêu hóa bị tổn thương hoặc do thiếu
thức ăn. Vi sinh vật gây bệnh trên côn trùng thường tác động đến những mô
nhất định, côn trùng bị nấm B. bassiana ký sinh thì tuyến mỡ và các mô khác
bị hòa tan là do enzym lipaza và proteaza của nấm tiết ra, cũng chính nhờ đặc
điểm đó mà người ta có thể xác định được côn trùng bị bệnh là do động vật
nguyên sinh hay là do nấm bậc thấp (Coelomycidium, Entomophyhora ) gây
ra. Hiện tượng chết hoặc gắn liền với hiện tượng tiêu hủy mô là đặc trưng của
bệnh nấm, quá trình này tiến triển qua hai giai đoạn:
- Hiện tượng chấn thương: Các mô tổn thương bị phá hoại là do nấm từ
bên ngoài gây ra, trong trường hợp này các lympho máu đọng lại và mô tái
sinh được tạo nên trên bề mặt phần thân côn trùng bị chấn thương.
- Hiện tượng nhiễm trùng máu: của côn trùng khi bị bệnh nấm là do
lympho máu chứa đầy sợi nấm.
b- :Chi Metarhizium:
Nấm Metarhizium nằm trong nhóm nấm bất toàn Deuterumycetes, loài
nấm này có sự phát triển mạnh trên môi trường thạch, có mầu xanh tối với
kích thước 5-8µm lúc đầu mầu trắng – vàng, sau chuyển dần sang màu xanh
lục, nên gọi là nấm lục cương hay nấm xanh. Các nhà khoa học trên thế giới
nghiên cứu đã xác định chi nấm Metarhizium có 2 loài nấm chính ký sinh gây
H
51
O
7
N
5
có điểm sôi là 234
0
C.
*Cơ chế tác động của nấm M. alisopliaelên cơ thể con trùng:
Cũng giống như nấm B. bassiana, khi bào tử nấm M. alisopliae rơi vào
cơ thể côn trùng, thông qua tiếp xúc lây lan trên côn trùng hại cây trồng [4]
2.3. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
2.3.1. Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây hồi ở trong nước
* Thành phần sâu bệnh hại cây hồi
Qua các cuộc điều tra sâu bệnh hại cây trồng nông nghiệp các năm
1967-1968, 1977-1978, 1997-1998 và sâu bệnh hại rừng trồng 2000-2005
(Viện Bảo vệ thực vật, 1976; 1999a; 1999b; Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2006)
cây hồi và sâu bệnh hại cây hồi hầu như không được quan tâm nghiên cứu.
15
16
Chỉ đến khi bọ ánh kim bùng phát mạnh ở Lạng Sơn mới có một số thông tin
về thành phần sâu bệnh hại trên cây hồi ở xã Yên Phúc huyện Văn Quan của
tỉnh Lạng Sơn mới được đăng tải, những thông tin này được trích dẫn từ một
báo cáo của một đề tài tốt nghiệp đại học từ những năm 1994-1995. Tại thời
điểm đó tác giả đã ghi nhận được 19 loài sâu hại, 5 loài bệnh gây hại trên cây
hồi và nguy hiểm hơn cả là loài sâu hại bọ ánh kim Oides leucomeleana Pic.
(Cao Anh Đương, 2012)[12].
Thành phần sâu hại họ bọ ánh kim Chrysomelidae điều tra được ở miền
Bắc nước ta năm 1967-1968 trên các cây trồng nông nghiệp và cây dại gồm
dụng trong phòng chống BAK đều cho hiệu quả phòng chống không cao. Cao
Anh Đương đã nhận định biện pháp hóa học có hiệu quả rất kém trong phòng
trừ BAK hại cây hồi bởi khả năng bay của trưởng thành và địa lý đồi núi hiểm
trở cũng như phương tiện bơm phun không phù hợp. Biện pháp canh tác có hiệu
quả tốt trong giảm mật độ BAK hại hổi. Việc vệ sinh đồng ruộng, dẫy cỏ và phá
nơi làm tổ của nhộng hay trong khi thu hái quả hồi tiến hành tiêu diệt ổ trứng của
BAK là một trong những giải pháp tốt giảm mật độ BAK cho vụ hồi sau (Cao
Anh Đương, 2012).
Những nghiên cứu về sâu bệnh hại cây hồi cũng như loài BAK hại cây
hồi ở Việt Nam còn khá hiếm và sơ sài. Cho đến nay mới chỉ có duy nhất
thông tin về tổng số loài sâu bệnh đã xác định được và một số đặc điểm sinh
học của loài BAK đã được nghiên cứu trong một báo cáo tốt nghiệp đại học
năm 1994-1995.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu các chủng nấm gây hại côn trùng trong nước
Ở nước ta hướng ứng dụng nấm ký sinh công trùng để phòng trừ sâu hại
cây trồng được đề cập đến trong những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng trong
15 năm trở lại đây mới có nhiều công trình nghiên cứu được công bố về lĩnh
17
18
vực này. Các công trình nghiên cứu về nấm ký sinh côn trùng tại nước ta chủ
yếu tập trung vào công tác thu thập chủng, phân lập các chủng giống bản địa
và phát triển sinh khối tạo chế phẩm sinh học phòng trừ các loại sâu mà bị
chính chủng nấm đó ký sinh.
Năm 1981 GS.TS Nguyễn Lân Dũng nghiên cứu nấm lục
cươngMetarhizium mô tả hình thái, phân tích cơ chế tác dụng, hướng dẫn
cách phân lập nuôi cấy và phương pháp sản xuất sinh khối Metarhizium[5].
Từ năm 1992, Phạm Thị Thùy và cs thuộc viện Bảo vệ thực vật đã phân
lập, nuôi cấy và thử nghiệm các chủng Metarhizium thuộc 2 loàiMetarhizium
anisopliae và Metarhizium flavoviride để phòng trừ cho các loài sâu bọ hại
cây nông, lâm nghiệp bằng phương pháp phun trực tiếp bào
Bảng, 1995). Nấm xanh M.anisopliae được ứng dụng vào việc quản lý sâu rầy
hại lúa (Nguyễn Thị Lộc, 1997, 2001). Việt Nam cũng đã có sản phẩm với tên
thương mại là Mat được chế từ nấm xanh M.anisopliae trừ bọ cánh cứng hại
dừa và Boverit trừ sâu róm thông và các loại sâu hại cây trồng khác (Viện
Bảo vệ thực vật, 2001) .
Năm 2002 Trung tâm sinh học - Viện bảo vệ thực vật đã nghiên cứu
hoàn thiện quy trình nhân sinh khối nấm B.bassiana, trên cơ sở cải tiến môi
trường nhân sinh khối với việc bổ xung 10% trấu và một số phụ gia vào môi
trường cơ bản. Với quy trình này đã sản xuất chế phẩm nấm B.bassiana đạt
lượng bào tử 2,5 x10
9
bt/g. Còn đối với nấm M.anisopliae nhóm đề tài đã sử
dụng với nguyên liệu là tấm gạo, luộc rồi sấy khô, hỗn hợp với dịch CaCO
3
0,5% để nhân lượng lớn sinh khối nấm với lượng bào tử đạt 3,2 x 10
9
bt/g. Đã
hoàn thiện công nghệ sản xuất theo phương pháp lên men xốp bằng các
nguyên liệu rẻ tiền (Nguyễn Thị Chúc Quỳnh và CTV, 2009; Lê Văn Trịnh và
CTV 2010) [7]. Hai chế phẩm nấm do Trung tâm sản xuất với tên thương mại
là Mat và Boverit đã được đưa vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật được
19
20
phép sử dụng ở Việt Nam năm 2001.
Từ năm 1996 đến nay, Trung tâm Đấu tranh sinh học - Viện Bảo vệ
thực vật đã thu thập, phân lập, tạo thuần và tuyển chọn được 28 chủng (10
chủng Beauveria và 18 chủng Metarhizium) trên các loại sâu hại khác nhau
tại các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Trong số đó đã chọn được 4 chủng có hoạt
lực diệt côn trùng rất cao và hiện đang sử dụng để sản xuất chế phẩm là 2
chủng B.bassiana và M.anisopliae ở phía Bắc, 2 chủng B.bassiana và
Trên cây ăn quả, kết quả của mô hình trình diễn trên cam, quýt, bưởi ở
tỉnh Tiền Giang cho thấy, chế phẩm nấm M. anisopliae có hiệu quả cao với
rầy mềm hại cam quýt, đạt tới 83,3 % còn đối với rầy chổng cánh hại cam
quýt cũng đạt được 70,4%. Hiệu quả kinh tế của mô hình sử dụng chế phẩm
nấm đạt lợi nhuận cao hơn đối chứng 1.682.000 đồng/ha (N.T Lộc, 2006).
21
22
Phần II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. ĐÔI TƯỢNG VÀ NGUYÊN VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chủng nấm M.anisopliaevàB.bassianaký sinh bọ ánh kim hại hồi đã được
phân lập tại Viện bảo vệ thực vật.
- Bọ ánh kim hại hồi( Oides sp. ).
- Cây hồi giống.
3.1.2. Dụng cụ thí nghiệm
- Nồi hấp vô trùng, tủ sấy vô trùng, buồng cấy vô trùng
- Tủ lạnh, tủ định ôn, kính hiển vi
- Đèn cực tím, đèn cồn
- Đĩa petri, bình tam giác
- Que cấy, pipet, bông, giấy thấm
- Một số dụng cụ cân đong khác.
3.1.3. Nguyên vật liệu, hoá chất
Nguyên liệu: sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền như bột ngô mảnh, cám
gạo, gạo, bột đậu tương, bã bia.
Hoá chất:
- Agar
- Đường: Glucose, Sacharose
- Pepton, chất bám dính.
- Một số hóa chất khác.
CT 3: Paecilomyces javanicus (PaeR)
CT 4: Đối chứng phun nước lã
23
24
Mỗi công thức 5 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại thử nghiệm trên 10 cá
thể sâu tuổi 2-3 (đặt trong phòng thí nghiệm). Sâu khoẻ mạnh được chuyển từ
Lạng Sơn về.
Trước khi phun tiến hành phun thử vào bình định mức để xác định số
lần phun/hộp. Sau đó tiến hành phun dung dịch nấm ướt đều lá các hộp đã
thả sâu non BAK tuôi 2-3.
Hiệu lực gây chết sâu được tính theo công thức Abbott.
C
a
- T
a
M(%) = x 100
C
a
trong đó: M: tỉ lệ (%) chết
C
a
: Số sâu sống ở công thức đối chứng sau thí nghiệm.
T
a
: Số sâu sống ở công thức thí nghiệm sai thí nghiệm.
3.4.2. Phân lập lại và làm thuầnchủng nấmM.anisopliaevàB.bassiana
Các mẫu sâu nhiễm nấm tiến hành lấy nguồn nấm cấy trên môi trường
PDA (Peptone Dextroza Agar)+ kháng sinh streptomycin.
Phân lập tạo tảng nấm điển hình. Sau đó cấy chuyển để làm thuẩn.
Sau khoảng 24-48h cấy chuyển tiến hành cắt đỉnh sinh trưởng (WA) và
+ Phương pháp tách đơn bào tử tạo dòng thuần nấm M.anisopliae và
B.bassiana
Tạo dòng nấm thuần bằng phương pháp tách đơn bào tử trên đĩa thạch
WA. Bằng cách dùng que cấy thuỷ tinh chấm nhẹ vào bề mặt khuẩn lạc, rồi
cấy vào đĩa thạch môi trường WA. Sau đó dùng trang thuỷ tinh trang đều ra
bề mặt đĩa thạch và để đĩa thạch đó trong điều kiện phòng thí nghiệm. Sau
khoảng 12 - 24 giờ tiến hành soi đĩa nấm đó bằng kính lúp để bàn để sát bào
tử nấm nảy mầm. Khi thấy bào tử nảy mầm, dùng que cấy có đầu nhọn hình
lưỡi mác cắt riêng phần thạch chứa bào tử đó cấy sang đĩa môi trường khác,
sau đó để đĩa có chứa đơn bào tử đó trong điều kiện phòng thí nghiệm
3.4.3.Xác định môi trường thích hợp để nhân sinh khối nấm
Với nấm M.anisopliae
Thí nghiệm được tiến hành với 3 công thức khác nhau:
1/ MT1:Cám gạo 50gam + bột ngô mảnh 30gam + bã bia20gam
2/ MT2: Gạo hấp chín 100 gam.
3/ MT3: Bột ngô mảnh80 gam + bã đậu phụ 20g
25