Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học SH BV1 phòng trừ tuyến trùng gây nốt sưng và nấm bệnh hại rễ cây hồ tiêu - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HẢO

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC SH-BV1 PHÒNG TRỪ
TUYẾN TRÙNG NỐT SƯNG Meloidogyne spp. VÀ NẤM BỆNH
(Phytophthora spp., Fusarium spp.) HẠI RỄ CÂY HỒ TIÊU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Công nghệ Sinh học

Khoa

: CNSH - CNTP

Khóa học

: 2012 - 2014

Thái Nguyên, 2014



: 2012 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: 1. PGS.TS Phạm Thị Vượng
2. Th.S Trần Đình Quang

Thái Nguyên, 2014


LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian nỗ lực học tập và nghiên cứu, tới nay em đã hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp với tên đề tài: “Nghiên cứu sử dụng chế phẩm
sinh học SH-BV1 phòng trừ tuyến trùng gây nốt sưng (Meloidogyne spp.)
và nấm bệnh (Phytophthora spp., Fusarium spp.) hại rễ cây hồ tiêu”.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, em đã nhận được sự dạy bảo tận tình
của các thầy cô, đồng thời cũng nhận được sự giúp đỡ và động viên của gia
đình, bạn bè.
Trước hết, em xin gửi lời chân thành cảm ơn tới tất cả quý thầy cô
trong khoa CNSH - CNTP, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Cảm ơn
Viện Bảo vệ thực vật đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu đề tài luận văn này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô PGS.TS. Phạm Thị
Vượng - quyền viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật, người đã tận tâm truyền
đạt kiến thức cho em và hơn cả là tấm gương về lòng say mê nghiên cứu khoa
học. Xin gửi lời cảm ơn tới thầy ThS. Trần Đình Quang đã hướng dẫn em
hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Thị Chúc Quỳnh cùng toàn
thể anh, chị trong nhóm nghiên cứu Nấm côn trùng - Trung tâm Đấu tranh
sinh học đã truyền đạt cho em tính chính xác, nghiêm túc trong nghiên cứu
khoa học cũng như tinh thần trách nhiệm với công việc mình làm. Cuối cùng
em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng tới những người thân trong gia đình, bố,

chế phẩm sinh học SH-BV1 trong điều kiện phòng thí nghiệm............... 16
3.4.2. Đánh giá khả năng ức chế của nấm Trichoderma đối với nấm
Phytophthora spp. và nấm Fusarium spp. trong điều kiện phòng thí nghiệm . 17
3.4.3. Xác định liều lượng sử dụng chế phẩm sinh học SH-BV1 để phòng
trừ tuyến trùng gây nốt sưng Meloidogyne spp. và nấm Phytophthora
spp., Fusarium spp. hại rễ hồ tiêu trong điều kiện nhà lưới ..................... 18
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 22
4.1. Hiệu lực phòng trừ tuyến trùng gây nốt sưng Meloidogyne spp. của chế
phẩm sinh học SH-BV1 trong điều kiện phòng thí nghiệm ..................... 22


4.2. Khả năng ức chế của nấm Trichoderma đối với nấm Phytophthora spp.
và nấm Fusarium spp. trong điều kiện phòng thí nghiệm. ....................... 24
4.2.1. Khả năng ức chế của nấm Trichoderma hazianum đối với nấm
Phytophthora spp. ..................................................................................... 24
4.2.2. Khả năng ức chế của Trichoderma hazianum với nấm Fusarium spp.
trong phòng thí nghiệm............................................................................. 27
4.3. Liều lượng sử dụng chế phẩm SH-BV1 để phòng trừ tuyến trùng gây
nốt sưng Meloidogyne spp. và nấm Phytophthora spp., Fusarium spp.
hại rễ hồ tiêu trong điều kiện nhà lưới...................................................... 31
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 37
5.1. Kết luận .................................................................................................... 37
5.2. Ý kiến ....................................................................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 38


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Hiệu lực trừ tuyến trùng (Meloidogyne spp.) hại rễ hồ tiêu của chế phẩm
sinh học SH-BV1 trong phòng thí nghiệm .............................................. 22
Bảng 4.2: Hiệu quả ức chế của nấm Trichoderma hazianum đối với nấm



1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hồ tiêu (Piper nigrum) được xem là “vua của các loại gia vị” và là một
trong những cây công nghiệp xuất khẩu chủ lực của nước ta. Theo Hiệp hội
Hồ tiêu Việt Nam (VPA), năm 2012 Việt Nam đã xuất khẩu được 110.734
tấn hồ tiêu các loại và đạt giá trị hơn 750 triệu USD, chiếm trên 50% thị phần
mặt hàng này trên toàn thế giới. Tính đến hết tháng 11 năm 2012, Hồ tiêu
Việt Nam đã xuất khẩu tới 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. Do giá trị xuất khẩu
cao nên diện tích trồng ngày càng tăng. Trong thời gian từ năm 1999 đến
2012 tổng diện tích hồ tiêu của cả nước đã lên mức 60.000 ha.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển về diện tích
và sản lượng của hồ tiêu thì dịch hại cũng ngày càng trở nên rất nghiêm trọng
như bệnh chết nhanh, bệnh vàng lá chết chậm, bệnh vàng lá do nấm và vàng
lá do rệp sáp diễn ra khá phổ biến trong cả nước. Bệnh đã gây hại nặng hàng
ngàn hecta hồ tiêu tại các tỉnh Gia Lai, Đăk Nông, Đăk Lăk, Bình Phước,
Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, v.v. Dịch bệnh trên cây tiêu đã dẫn đến hàng
trăm hecta tiêu bị chết hàng năm, những cây không chết thì năng suất và chất
lượng quả giảm một cách đáng kể. Những đối tượng chính gây nên dịch hại
trên chủ yếu là tuyến trùng và các loại nấm bệnh trong đất như Phytophthora
spp., Fusarium spp., Pythium spp. và Rhizoctonia spp.,...
Việc tìm kiếm giải pháp hiệu quả và thân thiện với môi trường để kiểm
soát tình hình dịch bệnh trên cây hồ tiêu là vấn đề cấp thiết, góp phần ổn định
năng suất, chất lượng sản phẩm hồ tiêu của nước ta, đặc biệt khi Việt Nam đã
gia nhập WTO và các sản phẩm xuất khẩu phải đạt yêu cầu đảm bảo các tiêu
chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế. Từ thực tế đó, Viện Bảo vệ thực vật đã tiến

nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học SH-BV1 có hiệu
quả cao trong phòng trừ tuyến trùng và nấm bệnh hại rễ cây hồ tiêu ngoài
đồng ruộng.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở để phát triển ứng dụng chế
phẩm sinh học SH-BV1 có hiệu quả cao trong phòng trừ tuyến trùng và nấm
bệnh hại rễ cây hồ tiêu ngoài đồng ruộng, giảm tối đa việc sử dụng thuốc trừ
sâu hóa học, bảo vệ môi trường, sản xuất nông sản an toàn phục vụ xuất khẩu.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
Hiện nay, trên thế giới việc phát triển chế phẩm vi sinh vật dạng bón
gốc phối hợp với chế phẩm phân bón hữu cơ vi sinh để quản lý dịch hại trong
đất đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Với kết quả nghiên cứu
đã đạt được tác giả cho rằng phối sử dụng nấm Metarhizium, chế phẩm Neem
với phân bón hữu cơ sinh học sử dụng các vi sinh vật có ích cho hiệu quả trừ
tuyến trùng hại rễ đạt từ 70 - 80% trên các cây trồng cạn như: Hồ tiêu, cà phê,
cà chua, bắp cải, dưa chuột, v.v… (Muhammad A., 1996) [25].
Ở Peru, sử dụng phân hữu cơ 3 kg/m2 đã làm giảm tuyến trùng nốt sưng
ở vườn cà chua còn 32% (đối chứng là 83%) sản lượng tăng 25%. Phân kali
có khả năng tạo tính chống chịu của cây với tuyến trùng nốt sưng và các bệnh
khác, nhưng bón quá nhiều kali sẽ làm giảm tuyến trùng hoại sinh trong đất,
trong đó có những loài tuyến trùng đối kháng với tuyến trùng gây bệnh nốt
sưng (Yaringano và Villaba, 1977) [34].
Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu hóa học của nông dân hiện nay ngày
càng cao vượt qua cả khuyến cáo của nhà sản xuất, trong đấy có những thuốc

dụng ức chế vi sinh vật gây bệnh hại rễ cây hồ tiêu, thảo dược có tác dụng phòng
trừ tuyến trùng kí sinh gây hại rễ hồ tiêu (Viện Bảo vệ thực vật, 2011) [16].
Việc sử dụng chế phẩm dạng hỗn hợp không chỉ có hiệu quả cao trong
việc hạn chế tác hại của sâu, mà còn giúp cây phát triển tốt hơn, sớm vượt qua
các thời kỳ khủng hoảng trong quá trình phát triển của cây trồng. Một vài
công trình đã thử nghiệm phối trộn bánh dầu Neem với các vật liệu khác như
rơm rạ, lúa mỳ, bùn thải, phân bón NPK cho kết quả phòng trị tuyến trùng rất
tốt (Viện Bảo vệ thực vật, 2011) [16].
Tóm lại: Hiện nay, sản xuất tiêu nói riêng, nhiều cây công nghiệp có
giá trị của Tây Nguyên nói chung đã và đang bị tuyến trùng Meloidogyne spp.
và các loài nấm bệnh Phytophthora spp., Fusarium spp. gây hại làm giảm
diện tích, năng suất cây trồng. Để phòng chống người sản xuất đã hoàn toàn
dựa vào thuốc trừ sâu hóa học, việc lạm dụng thuốc hóa học đã dẫn tới:
- Phá hủy môi trường đất, nước, ảnh hưởng xấu tới con người.
- Hiệu quả của thuốc hóa học không kéo dài qua thời gian sử dụng.
- Ảnh hưởng đến an toàn nông sản và khả năng xuất khẩu của sản phẩm.


5

Vì thế, đề tài này đã góp phần nghiên cứu đề xuất hướng sử dụng chế
phẩm sinh học phòng chống tuyến trùng và nấm bệnh gây hại để phát triển
bền vững cho cây trồng.
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tuyến trùng gây hại trên hồ tiêu
Tuyến trùng (Nematodes) là nhóm động vật không xương sống, đa bào
có kích thước rất nhỏ bé mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Tuyến
trùng là đối tượng dịch hại khá phổ biến và gây thiệt hại lớn đối với các quốc
gia trồng tiêu trên thế giới, chỉ tính riêng tuyến trùng Meloidogyne spp. đã gây

dẫn đến chết,... Khi bộ rễ bị phá huỷ tùy mức độ, làm cho cây còi cọc, kém phát
triển, lá úa vàng, quả và hạt nhỏ, chất lượng kém. Bị hại nặng, bộ rễ bị phá huỷ
một phần hay toàn bộ, cây có thể bị chết (Phan Quốc Sủng và cs, 2001) [9].
Tác hại: Một trong các tác nhân chính gây nên hiện tượng vàng lá, thối
rễ là do tuyến trùng gây nên, chúng luôn hiện diện ở rễ cây bị bệnh với mật độ
rất cao. Tuy nhiên, trong vùng đất và rễ của cây bị bệnh cũng có mặt của
nhiều loài nấm đất như Fusarium oxysporum, Fusarium solani, Phytophthora
spp., … có vai trò quan trọng cùng tham gia phối hợp gây hại cây trồng, làm
cây héo vàng, thối rễ nhanh hơn. Điều này càng làm cho việc phòng trừ trở
nên khó khăn (Phan Quốc Sủng và cs, 2001) [9].
Nấm Phytophthora spp. gây bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu
Nấm Phytophthora spp. thuộc lớp Oomycetes, giới Chromista. Các du
động bào tử hình thành trong bọc bào tử và được giải phóng trực tiếp từ bọc
bào tử. Một số loài như Phytophthora infestans và Phytopthora palmivora tạo
các bọc bào tử rất dễ rụng khỏi cành mang bọc bào tử và có thể được phân tán
nhờ gió. Một số loài Phytophthora spp. như Phytophthora cinnamomi tạo bào
tử hậu trên môi trường nhân tạo. Các bào tử này có chức năng bảo tồn trong
đất (Burgess L.W, 2009) [20].
Tác hại: Trên hồ tiêu, bệnh chết nhanh (quick wilt) do nấm
Phytophthora spp. rất phổ biến ở các vùng trồng tiêu trên thế giới và trong
nước. Ước tính năm 1999, tổng thiệt hại do bệnh chết nhanh hồ tiêu ở
Indonesia khoảng 1,76 triệu USD, bệnh lan rộng ra hầu hết các vùng trồng
tiêu và hại hầu hết các giống tiêu của nước này. Ở Malaysia năm 2002, tỷ lệ
bệnh này là 5 - 7% và những năm sau bệnh vẫn tiếp tục lan rộng (Lee. B.S;
Purwantara và cs, 2004) [23]. Bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora spp. là
tác nhân gây bệnh chính, bệnh thối rễ chết nhanh do Phytophthora capsici gây
thất thoát sản lượng từ 5 - 10% hàng năm ở Mã Lai (Kularatne, 2002) [22].


7

làm cây héo và chết nhanh hơn (Lucas, 1965) [24].
Tuyến trùng gây nốt sưng Meloidogyne spp. có mối quan hệ với bệnh
do nấm Phytophthora spp. và Fusarium spp., tuyến trùng tạo vết thương vùng


8

rễ gây nên các vết thương tạo cơ hội cho nấm bệnh tấn công rễ cây hồ tiêu
(Eng L., 2002) [21].
Biện pháp sinh học phòng trừ tuyến trùng và nấm bệnh hại rễ
Khi nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu bệnh gây hại hồ tiêu ở
Philippin và Nhật Bản (Romulo, 1987) [28] sử dụng cây cúc vạn thọ (Tagetes
erecta) trồng vào khoảng trống giữa các cây đã kiểm soát rất tốt quần thể
tuyến trùng.
Ở Peru, sử dụng phân hữu cơ 3 kg/m2 đã làm giảm tuyến trùng nốt sưng
ở vườn cà chua còn 32% (đối chứng là 83%) sản lượng tăng 25%. Phân kali
có khả năng tạo tính chống chịu của cây với tuyến trùng nốt sưng và các bệnh
khác, nhưng bón quá nhiều kali sẽ làm giảm tuyến trùng hoại sinh trong đất,
trong đó có những loài tuyến trùng đối kháng với tuyến trùng gây bệnh nốt
sưng (Yaringano và Villaba, 1977) [34].
Chế phẩm vi sinh trừ tuyến trùng: Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh
học có nguồn gốc vi sinh vật để phòng trừ tuyến trùng đang ngày càng được
quan tâm. Xuất phát từ những lý do như ảnh hưởng tiêu cực của thuốc hóa
học tới nhiều khía cạnh, trong một số loại đất, nấm và vi khuẩn ký sinh tuyến
trùng có khả năng tăng về sinh khối với các đối tượng cây trồng lâu năm, độc
canh cây trồng. Tuy nhiên biện pháp sinh học không phải luôn ổn định và
mang lại hiệu quả phòng trừ cao. Chế phẩm vi sinh trừ tuyến trùng cũng có
những hạn chế như không làm giảm quần thể tuyến trùng xuống dưới ngưỡng
kinh tế, tác động chậm,… Chính vì vậy một trong những giải pháp khắc phục
tình trạng này là việc sử dụng kết hợp các tác nhân sinh học. Sử dụng kết hợp

cây công nghiệp. Mười ba loài Phytophthora đã được định danh ở nước ta,
trong đó có hai loài gây thiệt hại nặng là Phytophthora infestans trên cây cà
chua và Phytophthora capsici trên hồ tiêu (Đặng Vũ Thị Thanh, 2004) [10].
Bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora capsici là bệnh quan trọng nhất
hiện nay trên cây tiêu ở Việt Nam. Ngoài ra, một số nấm gây bệnh khác như
Fusarium spp., Pythium spp., Rhizoctonia solani cũng là các tác nhân quan
trọng. Phân hữu cơ giúp đất tơi xốp là điều kiện cần thiết cho bộ rễ tiêu sinh
trưởng tốt, ngoài ra còn cung cấp lượng lớn vi sinh vật vào trong đất, tạo cân
bằng sinh học cho vùng đất quanh cây tiêu. Việc sử dụng các loại phân hữu cơ
như phân bò, phân gà, phân rác đã hạn chế được sự phát triển của bệnh chết
nhanh trên cây tiêu so với không bón (Nguyễn Tăng Tôn, 2005) [14].
Bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora capsici trên cây tiêu ở Quảng Trị là
một trong những trở ngại chính cho sản xuất hồ tiêu tại địa phương. Xử lý hom


10

tiêu trước khi trồng với thuốc trừ nấm có khả năng giảm thiệt hại do nấm
Phytophthora spp. gây ra cho các vườn trồng tiêu (Trần Thị Thu Hà, 2007) [3].
Bệnh hại hồ tiêu có hướng gia tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng
hơn ở các vùng trồng tiêu trong cả nước. Người sản xuất mong đợi những giải
pháp phòng trừ có hiệu quả nhưng những phương pháp phòng trừ mới ít được
phổ biến và ngày càng có nhiều vườn tiêu bị huỷ hoại do bệnh hại. Hàng năm,
bệnh hại thường xuất hiện khá phổ biến và chủ yếu vào giai đoạn giữa và cuối
mùa mưa, gây thiệt hại rất lớn cho người trồng tiêu (Vũ Triệu Mân, 2000) [7].
Bệnh hại nghiêm trọng nhất hiện nay đối với hồ tiêu là bệnh chết
nhanh, nguyên nhân gây bệnh là do loài nấm Phytophthora palmivora
(Nguyễn Đăng Long và ctv, 1987-1988) [6], kí sinh trên rễ và thân ngầm gây
ra. Theo nhận xét của tác giả bệnh phụ thuộc rất nhiều vào quá trình tích luỹ
của nấm bệnh ở trong đất, nếu có thêm những tác nhân từ bên ngoài tác động

xuống gốc. Hiện tượng vàng lá của cây có thể do sự cộng hợp của các tác
nhân Fusarium spp., Rhyzoctonia spp., tuyến trùng Meloidogyne spp., rệp sáp
hại rễ và do cây thiếu dinh dưỡng (Phan Quốc Sủng, 2000) [9].
Khi quan sát mẫu rễ và mẫu đất trồng tiêu thấy 95% mẫu rễ và 97%
mẫu đất có tuyến trùng Meloidogyne spp. Với số lượng tuyến trùng tuổi 2 đạt
trên 253 con/5g rễ và 255 con/100 g đất. Số lượng tuyến trùng tăng dần từ
tháng 11 trở đi và đạt mật độ cao nhất vào tháng 1, 2 với mật độ tuyến trùng
567 con tuổi 2/5g rễ và 1797 con/100 g đất (Trịnh Thị Thu Thủy, 2010) [12].
Tuyến trùng phá hại tiêu thường gặp nhất là loài Meloidogyne
incognita, Radopholus similis. Ngoài ra còn một số loài khác như
Rotylenchulus remiformis, Uliginotylenchus, Tylenchus spp., Xiphinema spp..
Trên cây tiêu, sau khi tuyến trùng tấn công, cây thường dễ bị nhiễm các nấm
bệnh như Fusarium spp., Phytophthora spp., Rhizoctonia spp., Pythium spp.
gây chết nhanh hơn, các lá phía dưới chuyển màu vàng, dần dần tới các lá
phía trên. Cây tiêu sinh trưởng kém, lá bị vàng, xơ xác, khô và rụng từng đốt
thân và cuối cùng cả cây bị chết khô, nhổ lên dễ dàng do bộ rễ đã bị phá hủy
(Nguyễn Ngọc Châu, 1995) [1].
Kết quả điều tra năm 1997 - 1998, tác giả ghi nhận tuyến trùng
Meloidogyne spp. gây hại 19 họ thực vật, gồm 74 loại cây trồng trong đó các
cây họ cà, bầu bí, họ hoa tán bị bệnh tương đối nặng (67,1 - 78,2%), cây họ hòa
thảo, hoa thập tự bị hại nhẹ hơn (5 - 30%). Biện pháp canh tác như xới đất, tưới
nước, che phủ đất bằng nilon sẽ làm giảm mật độ tuyến trùng (Lê Văn Thuyết
và ctv, 2000) [13].
Nghiên cứu biện pháp phòng trừ tuyến trùng hại cây trồng ở Việt Nam
Việc sử dụng các biện pháp hoá học phòng trừ dịch hại trong đất đã kéo


12

theo nhiều hậu quả không mong muốn ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con

tại các vùng trồng hồ tiêu tại Quảng Trị. Chiếm tỷ lệ vườn bị nhiễm tới 85,7%


13

và cấp bệnh là 3/5. Từ các kết quả khảo sát, tác giả đã đề xuất ngưỡng gây hại
của loài này trên hồ tiêu là 120 con/250 cm3 thì cần phòng trừ. Tuyến trùng
nốt sưng Meloidogyne incognita gây hại trên hồ tiêu ở Lệ Ninh, Bến Hải,
Quyết Thắng (Quảng Trị) làm cho lá vàng và rụng, năng suất giảm đáng kể.
Tác giả còn chỉ rõ để hạn chế tác hại của tuyến trùng nốt sưng trên hồ tiêu,
cần phải áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp. Trong số các biện pháp thì sử
dụng thuốc thảo mộc sản xuất từ hạt và lá cây Bruca javanita với liều lượng
bột khô là 200 g/cây hoặc 3 - 4 kg lá tươi sẽ góp phần làm giảm số lượng
tuyến trùng nốt sưng trên hồ tiêu (Nguyễn Ngọc Châu, 1995) [2].
Theo báo cáo khoa học của Viện Bảo vệ thực vật năm 2011 [16], Việt
Nam đã có rất nhiều thành công trong phát triển các chế phẩm sinh học để
phòng trừ dịch hại. Nổi bật là phát triển các chế phẩm phân bón hữu cơ sinh
học và các chế phẩm sinh học trừ dịch hại dạng phun trên tán cây. Tuy nhiên,
việc nghiên cứu phát triển các chế phẩm trừ dịch hại trong đất vẫn còn rất
khiêm tốn. Do yêu cầu khá chặt chẽ về điều kiện sử dụng các chế phẩm sinh
học, như phải tránh ánh sáng trực xạ, cần độ ẩm không khí cao và biên độ
nhiệt độ ít biến động, nên hiệu lực trừ dịch hại của các chế phẩm sinh học
dạng phun lên tán cây ít mang lại thành công như mong muốn. Mặt khác, ở vùng
rễ cây trồng luôn có nhiều tác nhân dịch hại và giữa chúng có tác động tương hỗ
nhau trong quá trình xâm nhiễm. Vì vậy, để phòng trừ dịch hại trong đất có hiệu
quả cao cần tác động theo hướng tổng hợp, vừa hạn chế được tuyến trùng và
nấm bệnh hại trong đất vừa tạo điều kiện giúp cây sinh trưởng tốt hơn.
Viện Bảo vệ thực vật đã phân lập được 10 nguồn nấm Trichoderma thu
thập từ các mẫu đất, cây trồng bị bệnh (lúa, ngô, đậu tương, lạc...) nhưng chỉ
xác định được có 5 chủng phát triển tốt, đã tuyển chọn được chủng

OLympus

Trung Quốc

Micropipet 100 - 500,
1000 - 5000

TGI

Đĩa Petri
Que trang thủy tinh

Đức
Merch

Cốc đong 500ml
Nồi hấp khử trùng

RAYBA

Tây Ban Nha

Tủ sấy

Nahita

Tây Ban Nha

Box cấy



Cà rốt nghiền nhuyễn

20 ml

Hymexazol

3,7 ml

Pimaricin

400 µl

Penicillin

200 mg

Môi trường chọn lọc nấm Fusarium spp. (PPA-Pepton PCNb Agar)
(Burgess L.W. and Hien P.T., 2009) [20].
Tên hóa chất

Nồng độ (Khối lượng)

Agar

20 g

Pepton

15 g


Agar

15 g

Đường Dextrose

8g

Penicillin

200 mg


16

3.1.4. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung 1: Đánh giá hiệu lực trừ tuyến trùng gây nốt sưng
Meloidogyne spp. của chế phẩm sinh học SH-BV1 trong điều kiện phòng thí
nghiệm.
- Nội dung 2: Đánh giá khả năng ức chế của nấm Trichoderma đối với
nấm Phytophthora spp. và nấm Fusarium spp. trong điều kiện phòng thí
nghiệm.
- Nội dung 3: Xác định liều lượng sử dụng chế phẩm sinh học SH-BV1
để phòng trừ tuyến trùng gây nốt sưng Meloidogyne spp. và nấm
Phytophthora spp., Fusarium spp. hại rễ cây hồ tiêu trong điều kiện nhà lưới.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Viện Bảo vệ thực vật - Phường Đức Thắng,
Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
- Thời gian thực hiện: Từ 4/3/2014 đến 7/6/2014.

(ĐCttn x CTstn)
C (%) = (1 - (
)) x 100
(ĐCstn x CTttn)
Trong đó:
C: Hiệu lực chế phẩm (%).
ĐCttn: Đối chứng trước thí nghiệm.
ĐCstn: Đối chứng sau thí nghiệm.
CTttn: Công thức trước thí nghiệm.
CTstn: Công thức sau thí nghiệm.
3.4.2. Đánh giá khả năng ức chế của nấm Trichoderma đối với nấm
Phytophthora spp. và nấm Fusarium spp. trong điều kiện phòng thí nghiệm
a. Đối với nấm Phytophthora spp.
Sử dụng phương pháp bẫy du động bào tử bằng cánh hoa. Phương pháp
sử dụng mồi bẫy: Phương pháp của Erwin, D.C. and Riberrio O.K (1996) (Burgess
L.W, 2009) [20]. Lấy mẫu đất từ vùng bị dịch nặng ở Tây Nguyên (Đăk Song,
Đăk Nông). Cân 50g đất cho nước cất vô trùng vào tới khi đạt ¾ cốc. Khuấy nhẹ
đất trong cốc, để đất lắng xuống (qua đêm). Đặt mồi bẫy cánh hoa hồng (kích
thước 0,5 x 0,5 cm) vào cốc nước trên để cốc bẫy bào tử qua đêm ở nhiệt độ
phòng. Quan sát cánh hoa sau 24h. Khi thấy cánh hoa bị mất màu đưa cánh
hoa lên kính hiển vi quan sát thấy bào tử nấm Phytophthora spp. ở mép cánh
hoa bị mất màu. Đặt cánh hoa bị mất màu lên môi trường PSM: Dùng panh
gắp cánh hoa bị mất màu khử trùng bằng cồn 700, đặt cánh hoa hồng có bào
tử nấm Phytophthora spp., đã được khử trùng lên môi trường PSM. Sau 1
ngày, 2 ngày từ mép cánh hoa có hệ sợi nấm mọc ra, cắt hệ sợi nấm đặt lên


18

môi trường PSM. Sau 1-2 ngày soi khuẩn lạc nấm trên kính hiển vi để kiểm

3.4.3. Xác định liều lượng sử dụng chế phẩm sinh học SH-BV1 để phòng
trừ tuyến trùng gây nốt sưng Meloidogyne spp. và nấm Phytophthora spp.,
Fusarium spp. hại rễ hồ tiêu trong điều kiện nhà lưới



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status