Giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng tại ngân hàng xuất nhập khẩu việt nam (eximbank) - Pdf 22


1

MỤC LỤC
Trang
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
Mở đầu 5
Chương I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm về rủi ro và các loại rủi ro trong kinh doanh 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2. Các loại rủi ro trong kinh doanh 7
1.2. Tín dụng ngân hàng 9
1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng 9
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng 9
1.2.3. Các hình thức tín dụng ngân hàng 12
1.3. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và rủi ro tín dụng trong
ngân hàng 14
1.3.1. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 14
1.3.2. Rủi ro tín dụng trong ngân hàng 16
1.3.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng 16
1.3.2.2. Các loại hình rủi ro trong tín dụng 17
1.3.2.3. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại 18
Chương II:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG EXIMBANK
2.1. Giới thiệu chung về EximBank 21

2

3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EXIMBANK Ngân hàng hàng xuất nhập khẩu Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
WTO Tổ chức thương mại thế giới
GHTD Giới hạn tín dụng
CBTD Cán bộ tín dụng
GHTD Giới hạn tín dụng
HĐTD Hội đồng tín dụng
HĐTD Hội đồng tín dụng
GHTD Giới hạn tín dụng
QLRR Quản lý rủi ro
NHNN Ngân hàng nhà nước
DPRR Dự phòng rủi ro
TCTD Tổ chức tín dụng
TMCP Thương mại cổ phần
DMTV Danh mục tiền vay 4

5

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành
tựu mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Xu hướng toàn cầu hoá
trên thế giới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở
ra nhiều cơ hội mới cho mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực trong đó không
thể không nói tới ngân hàng - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt Nam. Chúng ta
đang bắt đầu thực hiện các cam kết mở cửa, khiến cho các doanh nghiệp đứng trước
sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ.
Điều này tạo ra những ảnh hưởng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, vì thế ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại
(NHTM) nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng.
Trong hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay, hoạt động tín dụng là
một nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu tài sản và cơ
cấu thu nhập của các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng thương mại cổ
phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (gọi tắt là Eximbank) nói riêng. Trong thời gian vừa
qua hoạt động tín dụng trong ngân hàng đã đạt được những thành công nhất định,
đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, hoạt
động tín dụng cũng là nơi hội tụ nhiều rủi ro, gây ra những ảnh hưởng nghiệm trọng
đến kết quả kinh doanh, lợi nhuận trong ngân hàng, thậm chí có thể gây ra ảnh
hưởng dây chuyền sang cả các ngân hàng khác. Một vài năm trở lại đây công tác
quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng đã được chú trọng hơn biểu hiện rõ nét nhất
là việc các NHTM Việt Nam coi trọng và ưu tiên về tốc độ tăng trưởng tài sản hơn
là lợi nhuận và vấn đề an toàn vốn. Với tình trạng như vậy, trong khi tín dụng vẫn là
hoạt động chính của ngân hàng với tỷ lệ dư nợ tín dụng so với tổng tài sản trung
bình hiện ở mức cao khoảng 50%, thì hoạt động rủi ro tín dụng có ý nghĩa sống còn
đối với ngân hàng và cũng có nghĩa là sự ổn định của cả nền kinh tế. Vì vậy, quản
trị rủi ro tín dụng - một vấn đề còn nhiều mới mẻ để triển khai trong thực tiễn là mối

7

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ RỦI RO TÍN
DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm về rủi ro và các loại rủi ro trong kinh doanh
1.1.1 Khái niệm
Hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa thống nhất về rủi ro nhưng tập trung có
thể chia làm hai trường phái lớn:
Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn
thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ
xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi
nhuận dự kiến. Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong
quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt
hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc
điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.
Theo trường phái hiện đại, rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình
trạng bất ổn. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có
những tình trạng không chắc chắn mà ta có thể ước đoán, đo lường được xác suất
xảy ra mới được xem là rủi ro nhưng nếu xác suất mất mát là 0 hoặc 1 thì không có
rủi ro vì nếu một người không biết bơi nếu nhảy xuống biển thi cầm chắc cái chết,
đây không được coi là rủi ro.
1.1.2. Các loại rủi ro trong kinh doanh
- Rủi ro từ môi trường tự nhiên như thiên tai, lũ lụt, động đất, sóng thần v.v
Các rủi ro này thường có đặc điểm chung: khả năng dự báo, dự đoán thấp, xảy ra
bất ngờ, gây thiệt hại quy mô lớn.

quyền sở hữu và rủi ro, giải quyết tranh chấp hợp đồng v.v

9

- Rủi ro đến ngay từ trong chính nội bộ của doanh nghiệp như thái độ của
doanh nghiệp đối với rủi ro, sai lầm trong chiến lược kinh doanh, quản lý doanh
nghiệp, sự yếu kém của bộ máy quản lý và nhân viên, thiếu đạo đức và văn hóa kinh
doanh, thiếu động cơ làm việc, thiếu đoàn kết nội bộ. Ba rủi ro có thể đến: thứ nhất
là chỉ biết mình không biết người, thứ hai là chỉ biết người không biết mình và cuối
cùng là không biết cả mình lẫn người. Để “biết mình”, điều quan trọng nhất là phải
thường xuyên tự kiểm tra, đánh giá và có sự đối chứng hệ thống quản trị doanh
nghiệp của mình có hiệu quả không, có minh bạch không.
1.2. Tín dụng ngân hàng
1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thức tiền
tệ hoặc hiện vật trên nguyên tắc người đi vay phải hoàn trả cho người vay cả vốn
lẫn lãi trong một thời gian nhất định. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ
nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Tín dụng ngân hàng
hoàn toàn khác với các hình thức tín dụng khác (tín dụng thương mại, tín dụng tiêu
dùng, tín dụng nhà nước), đó là một hoạt động kinh doanh tiền tệ phức tạp, tính
phức tạp của nó thể hiện ở chính đối tượng kinh doanh - đó là tiền tệ, ở đây tiền tệ
đã tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Tín dụng ngân hàng được thể hiện
theo ba nguyên tắc:
- Vốn vay phải được hoàn trả đầy dử cả gốc và lãi đúng thời hạn đã ký trong
hợp đồng tín dụng
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả
- Vốn vay phải được đảm bảo bằng hàng hóa có giá trị tương đương
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng
Ở nước ta hiện nay thiếu vốn là hiện tượng xảy ra thường xuyên đối với các
thành phần kinh tế, vì vậy tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó

và phân phối lại vốn, điều hòa cung - cầu vốn trong nến kinh tế, góp phần điều tiết
các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp không bị gián đoạn. Mặt khác, để mở rộng sản xuất đối với các doanh
nghiệp thì yêu cầu về vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra.

11

Các doanh nghiệp không thể chỉ trong chờ vào vốn tự có mà còn phải dựa vào nhiều
nguồn vốn khác nhau trong xã hội. Ngân hàng thương mại với tư cách là nơi tập
trung đại bộ phận vốn nhàn rối sẽ đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát
triển. Như vậy, tín dụng ngân hàng vừa giúp doanh nghiệp rút ngắn được thời gian
tích lũy vốn nhanh chóng cho đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc
độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế.
- Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ vĩ mô của Nhà nước để tài trợ cho
các ngành mũi nhọn và các thành phần kinh tế kém phát triển. Trong tiến trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tín dụng ngân hàng được xem như một công cụ
vĩ mô quan trọng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, phát huy tối đa lợi thế
so sánh của đất nước. Mặc dù các ngành này có tỷ lệ sinh lời thấp, thời gian thu hồi
vốn chậm, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn nhưng đây là các ngành kinh tế mũi nhọn,
là xương sống nền kinh tế, là cơ sở để phát triển đất nước. Chính vì vậy, việc đầu tư
phát triển các ngành này là một yêu cầu không thể thiếu và tín dụng ngân hàng được
xem như một trong những nguồn vốn quan trọng tài trợ cho các ngành kinh tế mũi
nhọn
- Thứ ba, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại.
Trong bối cảnh nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), các hàng
rào thuế quan dần được dỡ bỏ, doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đứng trước những
thách thức to lớn là phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực
kinh tế mạnh, có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Khi đó, các doanh nghiệp của Việt
Nam cần phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời hạ giá thành
sản phẩm, đa dạng mẫu mã chủng loại hàng hóa. Để làm được điều này các doanh

với quyết đinh 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2000 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam thì:
+ Tín dụng ngắn hạn: Tối đa đến 12 tháng, được xác định phù hợp với chu
kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng
+ Tín dụng trung và dài hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với
thời hạn thu hồi vốn của vốn đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất
nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Trong đó, thời hạn vay cho trung hạn là từ trên
12 tháng đến 60 tháng, thời hạn vay dài hạn là từ 60 tháng trở lên nhưng không quá

13

thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập đối với pháp nhân và không
quá 15 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
- Tín dụng không kỳ hạn: Là khoản tín dụng được ứng dụng đối với khoản
vay không xác định rõ thời hạn trả nợ.
1.2.3.2. Phân loại theo thành phần kinh tế::
Theo thành phần kinh tế, ta có thể chia các khoản vay thành:
- Cho vay doanh nghiệp Nhà nước
- Cho vay kinh tế tập thể
- Cho vay kinh tế tư nhân
- Cho vay kinh tế cá thể
- Cho vay kinh tế hỗn hợp
1.2.3.3. Phân loại theo phương thức hoàn trả:
Theo phương thức hoàn trả thì các khoản vay còn có thể được phân chia theo
hai loại: cho vay hoàn trả một lần và cho vay trả góp. Trong đó:
- Cho vay hoàn trả một lần: các khoản vay sẽ được hoàn trả một lần vào thời
gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thể được hoàn trả theo thỏa thuận
trong hợp đồng, có thể theo tháng, theo quý hoặc theo năm.
- Cho vay trả góp: việc hoàn trả được tiến hành theo định kỳ, các khoản này
có thể bằng nhau hay không bằng nhau tùy theo thỏa thuận và được thực hiện theo

ngân hàng là không có rủi ro. Bởi lẽ, ngân hàng được coi là một tổ chức kinh doanh
tiền tệ - một loại hàng hóa đặc biệt, vì vậy ngân hàng thường xuyên đối mặt với
nhiều loại rủi ro. Ngoài các rủi ro thông thường mà các doanh nghiệp thường gặp
phải, các ngân hàng còn phải đối mặt với các rủi ro cơ bản trong lĩnh vực ngân hàng
như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt
động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và hoạt động, rủi ro quốc gia và rủi ro khác.
Trong đó:
- Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị
trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu
nhập và giá trị ròng của ngân hàng hay có thể nói rủi ro này phát sinh khi kỳ hạn
đến hạn của tài sản có không cân xứng với kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ.

15

- Rủi ro tín dụng: là rủi ro bị tổn thất tài sản khi bên vay là những khách
hàng hay các ngân hàng không có khả năng thanh toán khoản vay theo đúng các
điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng.
- Rủi ro hối đoái: là những tác động tiêu cực dẫn đến tổn thất cho ngân hàng
do có sự thay đổi giá trị ngoài ý muốn của các đồng tiền.
- Rủi ro thanh khoản: là khả năng các ngân hàng không đáp ứng được các
nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí
cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp.
- Rủi ro hoạt động ngoại bảng: Một xu hướng mạnh mẽ trong hoạt động của
các ngân hàng hiện đại là việc mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng. Hoạt động
nghiệp vụ ngoại bảng là các cam kết không nằm trong bảng cân đối tài sản (nội
bảng). Tuy nhiên, các hoạt động ngoại bảng có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai
của bảng cân đối tài sản nội bảng vì khi cam kết ngoại bảng đến hạn có thể tạo ra tài
sản có và tài sản nợ bổ sung, làm thay đổi bảng cân đối nội bảng. Các hoạt động
ngoại bảng có thể kể ra sau đây như: phát hành thư tín dụng dự phòng bảo lãnh cho
công ty phát hành trái phiếu, hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn… Từ đó, hoạt động

quan trọng nhất của ngân hàng do đó rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro lớn nhất,
thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nanwgh nề nhất đối với hoạt động ngân hàng.
Sở dĩ như vậy vì đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm quá
nửa giá trị tổng tải sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Vì thế, rủi
ro tín dụng cũng được nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra khái niệm về rủi ro tín
dụng:
* Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được
nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay. (Peter S.Rose, 2001)
* Theo Ủy ban Basel (thuộc ngân hàng thanh toán quốc tế) thì: rủi ro tín
dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các
nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Cũng theo Ủy ban này thì
“Rủi ro thất thoát đối với một NH là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng,
trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với
nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nơ gốc và lãi”.

17

* Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy
đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
(Nguyễn Văn Tiến, 2005)
* Theo quyết định 493/2005.QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam thì: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do
khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình
theo cam kết.
1.3.2.2. Các loại hình rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng, việc sử dụng cách phân loại tùy
thuộc vào mục đích nghiên cứu , quản lý. Đối với ngân hàng, việc phân loại có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc thiết kế chính sách, quy trình, thủ tục và cả mô hình
tổ chức nhằm đảm bảo nhận biết đầy đủ các yếu tố làm phát sinh rủi ro và phân biệt

1.3.2.3. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
Các ngân hàng khi cho vay luôn phải đối mặt với rủi ro. Với khả năng cho
vay, các ngân hàng thương mại thúc đẩy quá trình đầu tư, sản xuất và lưu thông
hàng hóa, do đó góp một ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và đối với các
doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xác định nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cần tập
trung vào một số nguyên nhân sau:
a. Nguyên nhân từ người vay:
Rủi ro tín dụng từ phía người vay là một trong những loại rủi ro thường đem
lại tổn thất nhiều nhất cho ngân hàng. Các nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng
không trả được nợ cho ngân hàng có rất nhiều, có thể sắp xếp theo hai nhóm như
sau:
- Nhóm nguyên nhân khách quan: là những tác động ngoài ý chí của khách
hàng như do thiên tai, hỏa hoạn, do sự ổn định của các chính sách kinh tế chưa
chắc, thay đổi đột ngột chính sách quản lý kinh tế, điều hành quy hoạch, do hành
lang văn bản pháp lý chưa phù hợp, do biến động của thị trường trong và ngoài
nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi.

19

- Nhóm nguyên nhân chủ quan: là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng.
Trước hết là vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn rất ít so
với nhu cầu. Năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và các đối
tác bạn hàng làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh. Công nghệ sản xuất
không đủ khả năng tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Trong đó có trường hợp
ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng do khách hàng cố ý lừa đảo ngân hàng, cho dù
công việc kinh doanh có lãi họ vẫn không trả nợ ngân hàng đúng hạn với hi vọng sử
dụng vốn vay càng lâu càng tốt, sử dụng vốn vay không đúng mục đích hoặc chây ỳ
không trả nợ ngân hàng. Để đạt được mục đích, người vay thường dùng mọi biện
pháp để ứng phó với ngân hàng như cung cấp sai thong tin bao gồm thông tin về
doanh nghiệp, về mặt hàng kinh doanh, khả năng trả nợ, làm khả năng đánh giá của

có được như vậy được gọi là “thông tin không cân xứng”. Việc thiếu thông tin trong
các giao dịch sẽ đưa đến “sự lựa chọn đối nghịch” và rủi ro đạo đức. Thông tin
không cân xứng trên thị trường tài chính khiến các ngân hàng phải đối mặt với nguy
cơ rủi ro cao
Môi trường pháp lý trong kinh doanh là tổng hợp các yếu tố pháp lý có tác
động đến hoạt động kinh doanh, bao gồm hệ thống pháp luật, hệ thống các biện
pháp đảm bảo cho pháp luật được thực thi và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của
các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh. Nếu hệ thống pháp luật không đầy đủ,
đồng bộ thì sẽ không đảm bảo sự lành mạnh, hiệu quả và dễ gặp rủi ro.
21

CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG EXIMBANK
2.1. Giới thiệu chung về EximBank
2.1.1. Mô hình tổ chức
- Khái quát về ngân hàng Eximbank:
Ngân hàng được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT


23

2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Eximbank
Năm 2011 được xem là năm có nhiều thay đổi quan trọng trong chính sách
điều hành vĩ mô, tác động rất lớn đến hoạt động của NHTM. Để kiềm chế lạm phát,
25

Trích đoạn Mụi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status