Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của việt nam trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp - Pdf 22

1

PHẦN MỞ ĐẦU
Lời tựa

Việt Nam chính thức mở cửa đổi mới nền kinh tế vào năm 1986, nhưng
đến năm 1989 mới thực sự cải cách toàn diện và triệt để nhằm ổn định và mở cửa
nền kinh tế, thực sự thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ra
đời và ngày càng phát triển nhanh về số lượng. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ
năm 1997 đến năm 2000, thì những cải cách mới chỉ ở một mức độ nhất định,
còn chậm phát triển, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Kể từ
năm 2000 đến nay, trong chương trình đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước,
Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc hình thành, phát triển các doanh
nghiệp, doanh nhân và coi đó là lực lượng chủ lực của phát triển kinh tế – xã hội
và hội nhập kinh tế quốc tế. Với sự tập trung vào khu vực phát triển kinh tế tư
nhân, hơn nữa trong bối cảnh tự do hoá thương mại buộc Việt Nam phải đầu tư
mạnh hơn vào hạ tầng cơ sở phục vụ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh do hội
nhập nền kinh tế quốc tế.
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006
đánh dấu một mốc mới trong cải cách phát triển kinh tế của đất nước. Thông qua
những cải cách theo định hướng thị trường và điều chỉnh theo thị trường toàn cầu
với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương mại và luật pháp quốc
tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng ổn định nền
kinh tế đất nước, mở rộng thương mại nước ngoài, thu hút đầu tư nước ngoài,
xóa đói giảm nghèo, và phát triển con người.
Hội nhập kinh tế quốc tế buộc các doanh nghiệp, các doanh nhân, các nhà
quản lý doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh để đủ sức đứng vững
trên thương trường. Năng lực của các nhà quản lý doanh nghiệp, các doanh nhân

3

1. Lý do chọn đề tài.
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ Việt Nam (VINASME) , có đến
97% doanh nghiệp đăng ký ở Việt Nam là DNVVN. Khối này tạo ra đến hơn
40% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới mỗi năm, chủ yếu
mang lại lợi ích đặc biệt cho nguồn lao động chưa qua đào tạo. Trong nhiều năm
tới, khối DNVVN vẫn là động cơ chạy chính cho nền kinh tế Việt Nam. Nhưng
cũng phải thừa nhận một thực tế, là khối này cũng chỉ phát triển mạnh trong
những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận khiêm tốn, công nghệ thấp do không có lợi
thế về quy mô (tiềm lực tài chính, địa bàn hoạt động, thị phần…) mà thường tập
trung vào các vấn đề như lựa chọn mục tiêu kinh doanh phù hợp với khả năng,
ổn định, củng cố thị phần đã có hay phát triển thị trường từng bước và có chọn
lọc khâu, điểm đột phá thuận lợi nhất. Các DNVVN vẫn phải tự vận động và liên
kết để hợp tác kinh doanh mà thiếu vắng vai trò rõ nét của chính sách nhà nước.
Việc gia nhập WTO đã mang lại nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp
nhỏ và vừa (SMEs) phát triển giống như việc tạo ra một sân chơi công bằng, dễ
dàng tiếp cận được với các yếu tố sản xuất nhập khẩu đầu vào tại thị trường
trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh
tế quốc gia tham gia sâu hơn vào nền kinh tế trong khu vực và trên toàn thế giới.
Tuy nhiên sau khi gia nhập WTO, Việt Nam là thành viên của Tổ chức
Thương mại thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các đối thủ
mới (các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ,
kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt trong điều

cao của các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đủ đáp ứng được với nhu cầu của
phát triển. Đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam thường kinh
doanh trong những lĩnh vực có lợi nhuận thấp và công nghệ thấp, chất lượng sản
phẩm không cao, thương hiệu thì mờ nhạt, thì khả năng cạnh tranh, sự tồn tại
trên thương trường ngay tại sân nhà và sự vươn lên của các doanh nghiệp trong
5

nước là khó khả thi nếu như ngay từ bây giờ các doanh nghiệp trong nước không
đầu tư mạnh vào con người (nhân lực), cơ sở hạ tầng (vật lực), nguồn vốn (tài
lực), khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh thì sẽ không kịp.
Từ những thực tế trên mà mục đích nghỉên cứu đề tài (Năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay, hiện trạng và giải pháp) để thấy được thực trạng cùng những thành công
và hạn chế nhằm tìm ra những giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong phát triển kinh tế thị trường và góp phần
đẩy nhanh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước.
Luận văn đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục thúc đẩy sự phát
triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong quá trình phát triển và hội
nhập nền kinh tế thế giới của quốc gia hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nâng cao năng lực và khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn.
+ Về nội dung: Những chính sách của nhà nước tác động đến sự phát triển
và khả năng cạnh tranh của DNVVN, hoạt động của DNVVN và những đóng
góp của DNVVN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
+ Thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến nay.

- Làm rõ thực trạng phát triển DNVVN của Việt Nam, nhằm tìm ra những
giải pháp tiếp tục phát triển các doanh nghiệp này cho phù hợp với điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể để thực hiện các giải pháp đó đối với phát
triển DNVVN của Việt Nam hiện nay. 7

CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Lý thuyết cạnh tranh.
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh.
Khái niệm cạnh tranh đã được đề cập đến từ rất lâu, theo các học giả
trường phái Tư sản cổ điển: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi
phản ứng. Quá trình này tạo ra cho mọi thành viên trong thị trường một dư địa
hoạt động nhất định và mang lại cho mọi thành viên một phần xứng đáng so với
khả năng của mình”.
Qua thời gian và không gian các quan niệm về cạnh tranh được xem là sự
ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành
cùng một tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình.
Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều

muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với
giá thấp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp
với các đối thủ trong cùng một ngành…
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh
tranh phi giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp,
một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự
do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng
được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập
thực tế.
Nguồn: http://wikipedea.org/wiki/cạnh-tranh-(kinh doanh)#cite-note-0
Ở Việt Nam, theo định nghĩa của Đại Từ điển Tiếng Việt “cạnh tranh là
tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành
9

phần hơn, phần thắng về phía mình”
1
. Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học
“cạnh tranh – sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, Tập đoàn hay quốc gia.
Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không
phải ai cũng có thể giành được”
2
. Trong Đại Từ điển Kinh tế thị trường “cạnh
tranh hữu hiệu là một phương thức thích ứng với thị trường của xí nghiệp, mà
mục đích là giành được hiệu quả hoạt động thị trường làm cho người ta tương
đối thỏa mãn nhằm đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh
doanh bình thường và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt
động của đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu quả cao, không có hiện tượng quá

Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và
trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp
phần vào sự phát triển kinh tế.
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt
hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải
tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào
trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản
xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh
tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển.
Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản
xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi
phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để
đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng.
Cạnh tranh là bản chất của nền kinh tế thị trường, là tiền đề của hệ thống
tự do kinh doanh (free-enterprise) vì càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với
nhau trên thị trường thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ càng
có chất lượng tốt hơn. Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá
trị tối ưu nhất đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ bỏ ra.
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong
muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu
của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh
tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp
luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các
định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.
Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không
11


12

hàng hóa, dịch vụ. Trong đó các doanh nghiệp yếu kém phải thu nhỏ hoạt động
kinh doanh, thậm trí bị phá sản, các doanh nghiệp mạnh sẽ chiếm ưu thế. Cạnh
tranh trong nội bộ ngành là cuộc cạnh tranh tất yếu sảy ra, tất cả đều nhằm vào
mục tiêu cao nhất là lợi nhuận của doanh nghiệp.
+ Cạnh tranh giữa các ngành:
Là cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm mục tiêu lợi nhuận, vị thế và an
toàn. Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xu hướng di chuyển của vốn đầu tư sang
các ngành kinh doanh thu được lợi nhuận cao hơn và tất yếu sẽ dẫn tới sự hình
thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
1.1.3.2. Xét theo mức độ cạnh tranh.
+ Cạnh tranh hoàn hảo:
Thị trường canh tranh hoản hảo là thị trường mà ở đó có rất nhiều người
bán sản phẩm tương tự nhau về phẩm chất, quy cách, chủng loại, mẫu mã. Là
loại cạnh tranh theo các quy luật của thị trường mà không có sự can thiệp của các
chủ thể khác. Giá cả của sản phẩm được quyết định bởi quy luật cung cầu trên
thị trường. Cung nhiều cầu ít sẽ dẫn đến giá giảm, cung ít cầu nhiều sẽ dẫn đến
giá tăng.
Các doanh nghiệp được tự do ra nhập, rút lui khỏi thị trường. Do đó trong
thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các doanh nghiệp tham gia kinh doanh muốn thu
được lợi nhuận tối đa phải tìm mọi biện pháp giảm chi phí đầu vào, cải tiến công
nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu của người tiêu
dùng.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là loại thị trường phổ biến nhất
14

định. Ví dụ: Điện, nước ở Việt Nam do nhà nước cung cấp.
1.1.3.3. Xét theo đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh:
+ Cạnh tranh lành mạnh.
Cạnh tranh lành mạnh là loại cạnh tranh theo đúng quy định của pháp luật,
đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh. Cạnh tranh có tính chất thi đua, thông qua
đó mỗi chủ thể nâng cao năng lực của chính mình mà không dùng thủ đoạn triệt
hạ đối thủ. Phương châm của cạnh tranh lành mạnh là “không cần phải ép chết
đối thủ để mình tồn tại”.
Có thể thấy, kinh doanh như một cuộc chơi nhưng không giống như chơi
thể thao, chơi bài hay chơi cờ, khi mà phải luôn có kẻ thua – người thắng (lose –
win); trong kinh doanh, thành công của doanh nghiệp không nhất thiết đòi hỏi
phải có những kẻ thua cuộc. Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành công
khi những người khác thành công (gọi là sự “cộng sinh của hai bên”). Đây là sự
thành công cho cả đôi bên nhiều hơn là cạnh tranh làm hại lẫn nhau. Tình huống
này được gọi là “cùng thắng” (win – win).
Ở Việt Nam có câu “buôn có bạn, bán có phường” có nghĩa là không nhất
thiết các doanh nghiệp cạnh tranh cùng một mặt hàng phải sống chết với nhau
mà thông thường phải liên kết với nhau thành các phố kinh doanh cùng một mặt
hàng như phố hàng trống, hàng mã….
+ Cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh không lành mạnh là bất cứ hành động nào trong hoạt động
kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng.
Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành
giống như một cuộc chiến. Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến
một hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự sụt giảm mức
16

kiểu tin đồn cò con thì hầu như diễn ra hằng ngày mà nhiều người gọi là "hội
chứng" tin vịt.
Ví dụ thứ nhất: một doanh nghiệp đang tham gia đấu thầu xây dựng một
công trình, bỗng có tin đồn doanh nghiệp này đang có vấn đề về tài chính, hay
các công trình đã được doanh nghiệp thực hiện trước đó có nhiều vấn đề gian dối
không bảo đảm chất lượng, thế là thua thầu, thậm chí không được tham gia đấu
thầu chờ kết quả kiểm tra. Tương tự như vậy, khu du lịch này muốn hạ bệ khu du
lịch kia thì tung tin: khu du lịch ấy mất vệ sinh, chất lượng phục vụ kém, trật tự
an ninh không bảo đảm thế là dễ dàng mất khách.
Tin đồn thất thiệt đang trở thành một vũ khí cạnh tranh của những doanh
nghiệp làm ăn không lương thiện. Việc đối phó được với hình thức cạnh tranh
kiểu này rất khó khăn. Một số doanh nghiệp nhỏ và vừa (đặc biệt là ở Việt Nam)
chưa có được những biện pháp hữu hiệu để chống lại hình thức cạnh tranh bằng
cách tung tin thất thiệt này, hầu hết họ đều dựa vào các cơ quan quản lý Nhà
nước.
Nhưng ngay các cơ quan chức năng của Nhà nước cũng rất lúng túng và bị
động trong xử lý đối với thủ đoạn cạnh tranh "đen" này. Minh chứng cụ thể nhất
là hội chứng tin đồn về giá gạo ảo trong những tháng đầu năm 2008, làm cho các
doanh nghiệp và người tiêu dùng lao đao, các cấp ngành chức năng lúng túng,
gây cho việc xuất khẩu gạo trì hoãn, thiệt hại cho kinh tế của Việt Nam.
Hộp 1.2: Ví dụ thủ đoạn canh tranh không lành mạnh.
Ví dụ thứ hai: Theo báo Tin Tức đưa tin ngày 2/7/2012 4:49:41 PM với
tiêu đề: Khi hai hãng rượu… “say”! (VOV) - Thật nguy khi cả 2 người đều say
mà không có người thứ ba tỉnh táo để xử lý, giúp đỡ.

điều cấm: gièm pha doanh nghiệp. Đây là hành lang pháp lý để các doanh nghiệp
cạnh tranh lành mạnh hơn, các cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý để xử lý

18

những thủ đoạn cạnh tranh bằng tin đồn (đen).
Tuy nhiên, việc phát hiện nguồn gốc phát xuất của tin đồn không phải là
việc đơn giản, đòi hỏi rất nhiều thời gian công sức, tiền bạc mới điều tra được.
Mà nếu có điều tra ra được thì chế tài xử lý cũng còn nhiều bất cập, thậm chí còn
rất nhẹ so với những thiệt hại vô hình cũng như hữu hình mà thương hiệu của
doanh nghiệp đó gánh chịu.
Vì vậy, bên cạnh sự hỗ trợ tích cực của các cấp chính quyền, hiệp hội
ngành nghề trong việc phòng chống tin đồn thất thiệt, giải pháp tốt nhất là các
nhà sản xuất, kinh doanh phải tự bảo vệ mình, bằng nghiệp vụ quản trị thông tin,
bằng chất lượng sản phẩm và chữ tín của doanh nghiệp.
Trong cạnh tranh cần tỏ ra khôn ngoan hơn đối thủ để loại trừ đối thủ cạnh
tranh, giành giật quyết liệt thị phần, khuyếch trương thương hiệu sản phẩm,
khống chế nhà cung cấp và khóa chặt khách hàng. Theo quan điểm đó, sẽ luôn
có người thắng và kẻ thua trong kinh doanh. Cách nhìn về một kết cục thắng –
thua được Gore Vidal viết như sau: “Chỉ thành công thôi chưa đủ. Phải làm cho
kẻ khác thất bại nữa”.
Sự khác biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và cạnh tranh lành mạnh
trong kinh doanh là một bên có mục đích bằng mọi cách tiêu diệt đối thủ để tạo
vị thế độc quyền cho mình, một bên là dùng cách phục vụ khách hàng tốt nhất để
khách hàng lựa chọ mình chứ không lựa chọn đối thủ của mình.
1.1.3.4. Quy định của pháp luật ở Việt Nam.
Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về vấn đề cạnh tranh.

đó phải có thị phần đáng kể để có thể liên kết hạn chế cạnh tranh.
Nếu hai doanh nghiệp thì phải có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị
trường liên quan. Ba doanh nghiệp thì phải chiếm từ 65% trở lên. Bốn doanh
nghiệp thì phải có 75% thị phần trở lên.

20

Đối với doanh nghiệp thuộc diện này thì pháp luật nghiêm cấm thực hiện
những hành vi kinh doanh như sau:
.Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối
thủ cạnh tranh.
.Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán
lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng.
.Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở
sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
.Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm
tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh.
.Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng
hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên
quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.
.Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
+ Hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái
với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có
thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh này được thể hiện qua các hoạt động

tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi
ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật cạnh tranh.
1.2. Năng lực cạnh tranh.
1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh.

22

Kinh doanh trong môi trường toàn cầu hoá với các nhân tố chính như tự
do hoá di chuyển hàng hoá, vốn, nhân lực và hội nhập thể chế kinh tế… đòi hỏi
các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và nguồn
nhân lực của mình. Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra khái niệm năng
lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp là “khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác
định đúng giá cả và vào đúng thời điểm, đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu
suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Một số tác giả (Porter, M.E.,
Bekley…) xác định “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với các yếu tố
như tài sản cạnh tranh (chi phí yếu tố, nguồn nhân lực, hạ tầng kỹ thuật, công
nghệ, thể chế, văn hoá doanh nghiệp ), quá trình cạnh tranh (quản lý chiến lược,
kế hoạch, marketing, tác nghiệp, khả năng linh hoạt và thích ứng ), thực hiện
cạnh tranh (năng suất, chất lượng, hiệu quả, chi phí, chỉ tiêu tài chính, chỉ tiêu
quốc tế ).
Ở Việt Nam, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhà nước đặc
biệt quan tâm hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với nền kinh tế thị trường
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và nguồn nhân lực của các doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh là “khả năng dành được thị phần lớn trước các đối
thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng dành lại một phần hay toàn bộ thị
phần của đồng nghiệp”

- Năng lực cạnh tranh cấp ngành.
- Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.
1.2.2. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia.
Trong báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế Thế giới
(WEF) năm 1997 đã nêu ra: “ Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng
cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh
tế khác”.
Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng
một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các
nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững. Ở Việt Nam năng
lực cạnh tranh cấp quốc gia đứng thứ 65 trên 80 nước (năm 2002), tăng 5 bậc so
với năm 2001 (là 60/75 nước).
1.2.3. Năng lực cạnh tranh cấp ngành.

24

Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuất khác
nhau bằng cách tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tự phát
phân phối tư bản vào các ngành sản xuất khác nhau. Nhằm mục đích tìm nơi đầu
tư có lợi cao hơn, kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành tỷ suất lợi nhuận
bình quân và giá trị hàng hóa chuyển thành giá cả sản xuất.
1.2.4. Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp là sức mạnh của doanh nghiệp
được thể hiện trên thương trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp
thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ

độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì của sản phẩm hơn hẳn so với
những sản phẩm hàng hóa khác cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản
phẩm hàng hóa lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sẽ
không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao khi năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp.
Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là hai phạm trù khác nhau, nhưng có
quan hệ hữu cơ với nhau, năng lực cạnh tranh của hàng hóa có được là do năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra. Nhưng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hóa quyết định mà còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của hàng hóa có
ảnh hưởng rất lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy
đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về
mặt này và có hạn chế về mặt khác. Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận
biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có

Trích đoạn Nguồn: Niên giám Tổng cục Thống kê từn ăm 2000 đến 200. 99Kinh t ế Th ế gi ớ i công b ố , Vi ệ t Nam hi ệ n ở v ị trí 65 trên t ổ ng s ố 142 qu ố c gia, 102Chấ t l ượ ng s ả n ph ẩ m là c ơ s ở để DN th ự c hi ệ n các chi ế n l ượ c Marketing, 103trong khu v ự c và nh ữ ng đố i th ủ c ạ nh tranh v ớ i mình. 104tho ạ i v.v Ngoài ra, các DNVVN có th ể th ự c hi ệ n vi ệ c thi ế t l ậ p m ộ t website
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status