Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần tài chính và phát triển doanh nghiệp - Pdf 22


1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Đóng góp khoa học của đề tài 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1.1. Khái niệm vốn 6
1.1.2. Phân loại vốn 7
1.1.3. Vai trò của vốn trong kinh doanh 14
1.2. QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 16
1.2.1. Quản lý và sử dụng vốn cố định 16
1.2.2. Quản lý và sử dụng vốn lưu động 18
1.3. HIỆU QUẢ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP 20
1.3.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn 20
1.3.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 22
1.3.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 27
1.3.4. Sự cần thiết khách quan phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 33
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP 36
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN DOANH

thanh toán hợp lý 75
3.2.4. Đa dạng hóa các kênh đầu và khu vực đầu tư 78
3.2.5. Tổ chức đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung, vốn cố định và vốn lưu động nói
riêng 80
KẾT LUẬN 82
3

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, cuộc khủng hoảng trên thị trường cho vay thế chấp nhà đất
dưới tiêu chuẩn của Mỹ đã tác động tiêu cực đến tình hình tài chính thế giới. Hàng loạt
các định chế tài chính ở Mỹ đã công bố những tổn thất nặng nề mà họ phải gánh chịu
xuất phát từ hậu quả của cuộc khủng hoảng này gây nên. Hơn nữa cuộc khủng hoảng
này đã lan rộng sang một số nước khu vực Châu Âu, Nhật…Một số ngân hàng lớn ở
những quốc gia này cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng tương tự. Hậu quả của cuộc

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề hiệu quả sử dụng vốn.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu trong phạm vi công ty cổ
phần tài chính và phát triển doanh nghiệp.
4. Đóng góp khoa học của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh, phương pháp phân
tích, giải pháp huy động và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích thực trạng huy động và tình hình sử dụng vốn tại công ty cổ phần tài
chính và phát triển doanh nghiệp
Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình huy động cà nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của công ty cổ phần tài chính và phát triển doanh nghiệp, đồng thời có những
kiến nghị với cơ quan chức năng giúp công ty phát triển trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mac - Lênin để luận giải các vấn đề liên quan: Phương pháp
thống kê, so sánh kết hợp với phương pháp tổng hợp, phân tích tình hình thực hiện,
khảo sát, thu thập tài liệu tại công ty cổ phần tài chính và phát triển doanh nghiệp
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn bao gồm 3 chương

5

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả hoạt động sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần Tài
chính và phát triển doanh nghiệp.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn của công ty
công ty cổ phần Tài chính và phát triển doanh nghiệp

6

7

Còn theo quan điểm của David Beg thì vốn bao gồm tất cả các tài sản được dùng
vào quá trình sản xuất kinh doanh, mà còn ở các hình thái giá trị như tiền mặt và các
giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu và hưởng thụ của doanh nghiệp.
Như vậy, chúng ta có thể khái quát: Vốn của doanh nghiệp là tất cả các tài sản
doanh nghiệp đang sử dụng để tiến hành sản xuất kinh doanh, bao gồm tài sản
hữu hình và tài sản vô hình, tồn tại dưới cả hình thái tiền tệ và hiện vật.
Về mặt giá trị, có thể đưa ra khái niệm: Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được đầu tư vào sản xuất, kinh
doanh nhằm mục đích sinh lời.
Vốn có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất: Vốn là hoàng hóa đặc biệt
Vốn là hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của nó được thể hiện ở
chi phí mà ta bỏ ra để có được nó, giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó
để đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh như mua máy móc, vật tư, trang thiết bị…
Vốn là hàng hóa đặc biệt vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và
quyền sở hữu. Khi mua nó chúng ta có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu.
Tính đặc biệt của nó còn thể hiện ở chỗ nó không bị hao mòn trong quá trình sử dụng
mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó. Chính vì vậy giá trị của nó phụ
thuộc vào lợi ích cận biên của bất kỳ doanh nghiệp nào. Điều này đặt ra nhiệm vụ với
các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại
giá trị thặng dư tối đa đủ chi phí mua nó.
Thứ 2: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ. Nếu
không xác định chủ sở hữu thì việc sử dụng vốn và tài sản sẽ lãng phí và kém hiệu quả.
Thứ 3: Vốn phải luôn vận động sinh lời và vốn có giá trị về mặt thời gian, điều
này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn đầu tư và tính hiệu quả của đồng vốn mang lại.
Thứ 4: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy được tác dụng. Do vậy các doanh nghiệp không chỉ có nhiệm vụ khai thác
tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút các nguồn vốn.

chuyển. Vòng luân chuyển vốn cố định được hiểu là khoảng thời gian kể từ khi vốn cố
định bắt đầu tham gia vào quá trình sản xuất cho tới khi doanh nghiệp thu lại toàn bộ
vốn cố định đã bỏ ra ngay khi sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường. Như vậy đồng
thời các chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn cố định của doanh nghiệp cũng được tách
thành hai bộ phận, một bộ phận tồn tại dưới dạng quỹ khấu hao (phần giá trị tài sản cố
định đã hao mòn) ngày một tăng lên. Bộ phận thứ hai chính là giá trị còn lại của tài sản
cố định thì ngày một giảm đi. Cho tới khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng cũng là

9

lúc kết thúc một vòng chu chuyển của vốn cố định. Lúc này toàn bộ giá trị của tài sản
cố định đã được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm.
Vốn cố định thường có chu kỳ vận động dài hạn, sau nhiều năm mới có thể thu hồi
đủ vốn đầu tư dã ứng ban đầu. Trong thời gian dài như vậy, đồng vốn luôn bị đe dọa bởi
những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm thất thoát vốn như:
Do kinh doanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, do giá bán
thấp hơn giá thành nên thu nhập không đủ bù đắp mức độ hao mòn vô hình của TSCĐ
vượt quá mức dự kiến về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị.
Do yếu tố lạm phát trong nền kinh tế. Khi lạm phát xảy ra giá trị thực của đồng
vốn bị thay đổi, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá và điều chỉnh lại giá trị tài
sản để tránh tình trạng mất vốn kinh doanh theo tốc độ lạm phát trên thị trường.
Vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng vốn kinh doanh. Quy mô của vốn cố định lớn hay nhỏ quyết định trình độ trang bị
kỹ thuật và công nghệ của tài sản cố định, quyết định tính đồng bộ của tài sản cố định.
Vốn cố định đảm bảo cho một bộ phận tư liệu lao động chủ yếu, là thước đo chủ yếu
nói lên giá trị của doanh nghiệp. Việc tăng thêm vốn cố định trong các nghành sản xuất
nói chung và doanh nghiệp nói riêng có tác động to lớn đến tăng cường cơ sở vật chất
của doanh nghiệp, từ đó tăng sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm, tăng năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, điều này hết sức
quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế, làm thay đổi tác phong, tư thế, nếp nghĩ,

vấn đề sau:
Phải xác định được số VLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý vốn bởi vì
việc xác định nhu cầu VLĐ cần thiết tối thiểu cho SXKD sẽ bảo đảm đủ VLĐ cho quá
trình này được liên tục, tránh hiện tượng ứ đọng vốn.
Cần tổ chức khai thác các nguồn tài trợ vốn lưu động, bảo đảm đầy đủ kịp thời
cho SXKD. Đồng thời phải có các giải pháp thích ứng nhằm quản lý và sử dụng VLĐ
một cách hiệu quả, đẩy mạnh tốc độ luân chuyển vốn.
Việc phân loại vốn theo cách trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà quản lý.
Vì tỷ trọng, cơ cấu, thành phần của các loại vốn này trong các doanh nghiệp khác nhau
cũng khác nhau. Nếu như trong các doanh nghiệp thương mại tỷ trọng của vốn lưu
động chiếm chủ yếu trong nguồn vốn kinh doanh, thì trong doanh nghiệp sản xuất tỷ
trọng vốn cố định lại chiếm chủ yếu. Trong hai loại vốn này vốn cố định chu chuyển
được một vòng thì số lưu động đã chu chuyển được nhiều vòng. Việc phân loại theo
cách thức này giúp doanh nghiệp thấy được cơ cấu, tỷ trọng của từng loại vốn. Từ đó
doanh nghiệp chọn cho mình một cơ cấu vốn hợp lý.

11

1.1.2.2. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn
Trong nền kinh tế thị trường muốn tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải huy
động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Theo cách phân loại này vố được chia thành vốn
chủ sở hữu và nợ phải trả
a. Vốn chủ sở hữu (hay còn gọi là vốn tự có)
Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu doanh nghiệp bao gồm vốn điều
lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp,
vốn do nhà nước tài trợ (nếu có) bao gồm:
Nguồn vốn đầu tư khi hình thành doanh nghiệp. Khi thành lập doanh nghiệp đòi
hỏi phải có một lượng vốn tối thiểu cần thiết đầu tư cho hoat động kinh doanh.
Nguồn vốn đầu tư ban đầu giữa các loại hình doanh nghiệp cũng có điểm khác nhau.

vì thế, bên cạnh vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp nên tận dụng nguồn vốn tự vay nợ
Nợ phải trả: là số vốn doanh nghiệp được sử dụng tạm thời trong một thời gian
nhất định bao gồm những khoản vốn phát sinh một cách tự động và các khoản nợ phát
sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nghiệm phải thanh toán cho
các tác nhân kinh tế như: nợ tiền vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, nợ phải trả
cho người bán phải trả công nhân viên, phải nộp cho nhà nước….
Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả bao gồm:
Nợ ngắn hạn: là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả cho chủ nợ trong một
thời gian ngắn, dưới một năm, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, phải trả cho người
bán, người mua trả tiền trước, thuế và khoản phải nộp nhà nước, phải trả người lao
động, các khoản phải trả phải nộp khác
Nợ dài hạn: là các khoản nợ mà doanh nghiệp và các chủ sở hữu khác trên 1 năm
mới hoàn trả bao gồm vay dài hạn cho các hoat động đầu tư phát triển, thuê mua
TSCĐ, phát hành trái phiếu.
Nợ khác: là các khoản nợ phải trả như nhận ký quỹ, ký cược dài hạn, các khoản
chi phí phải trả khác…
Việc đi vay vốn một mặt giải quyết nhu cầu về vốn đảm bảo cho nhu cầu ổn định
và liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh, mặt khác là phương pháp sử dụng hiệu

13

quả các nguồn lực tài chính cho nguồn kinh tế, bởi lẽ vốn vay sẽ hợp lý hóa một cách
tối ưu các nhu cầu tạm thời về vốn phát sinh bởi tính chu kỳ của sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên doanh nghiệp cũng không nên quá lạm dụng vào loại vốn này, nó như con
dao hai lưỡi, nếu sử dụng hợp lý sẽ cho phép doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh, tận
dụng được cơ hội đầu tư. Ngược lại, nếu tỷ lệ vốn vay trong tổng nguồn vốn quá cao sẽ
gây ra nguy cơ vỡ nợ, mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản
Thông thường vốn doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: vốn chủ sở hữu và
nợ phải trả để đảm bao nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Sự kết hợp chặt chẽ hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của doanh nghiệp trên cơ sở xem

Để nghiên cứu vai trò của vốn như một điều kiện tiền đề của quá trình sản xuất
kinh doanh, chúng ta xuất phát từ một hàm sản xuất thông dụng (P) có dạng như sau :
P = f (K, L, T)
Trong đó: K, L, T lần lượt là các yếu tố vốn, lao động, công nghệ.
Để đảm bảo quả trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong
điều kiện nền kinh tế thị trường cần phải có ba yếu tố cơ bản: vốn, lao động và kỹ thuật
công nghiệp. Hiện nay, ở nước ta đang có nguồn lao động dồi dào, việc thiếu lao động
chỉ thiếu ở nghành đòi hỏi chuyên môn cao. Nhưng vấn đề này hoàn toàn có thể khắc
phục được trong một thời gian ngắn, nếu chúng ta có tiền để đào tạo mới và đào tạo lại.
Vấn đề công nghiệp, kỹ thuật không phải không có khó khăn, phức tạp. Vì chúng ta
phát triển kinh tế trong điều kiện thế giới và các nước khu vực có một nền khoa học
công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, đi trước chúng ta hàng chục năm. Do đó,
việc nhập kỹ thuật công nghiệp, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới vào Việt
Nam phụ thuộc vào khả năng về vốn, ngoại tệ mà chúng ta có hoặc có khả năng tạo ra.
Như vậy, yếu tố then chốt nhất hiện nay đối với các doanh nghiệp nước ta là vốn và
việc sử dụng vốn.
Đối với doanh nghiệp, vốn là đòi hỏi đầu tiên khi thành lập doanh nghiệp và cũng
là điều kiện đầu tiên cần phải có để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh, bởi có
vốn mới có thể mua các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh. Ngày nay, khi trình
độ khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng, nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày càng cao,
cùng với sự hội nhập nền kinh tế thế giới thì sự cạnh tranh để tồn tại giữa các doanh
nghiệp ngày càng tăng. Muốn thắng được các đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp cần

15

phải có vốn để đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản
phẩm tăng việc làm và thu nhập cho người lao động từ đó tạo điều kiện để doanh
nghiệp tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường, mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu
quả về hoạt động sản xuất kinh doanh.
b. Vốn góp phần đảm bảo tính liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh

thiếu vốn cũng như huy động vốn từ đâu.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các chủ thể tham gia vào nền kinh tế rất
nhiều và đa dạng, chính vì vậy cạnh tranh rất gay gắt. Doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển thì phải là người chiến thắng trên thương trường, các doanh nghiệp phải tự
bao tiêu sản phẩm, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình, chính vì vậy
việc huy động vốn và sử dụng đồng vốn sao cho hiệu quả nhất đóng vai trò lớn cho sự
phát triển của doanh nghiệp.
Vai trò quan trọng của đồng vốn đã được C.Mác khẳng định: “Tư bản đứng vị trí
hàng đầu vì tư bản là tương lai”. Đồng thời, Ông còn nhấn mạnh đến tính hiệu quả của
việc sử dụng vốn: Không một hệ thống nào có thể tồn tại nếu không vượt qua sự suy
giảm về hiệu qủa tư bản.
1.2. QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
Khi trình độ khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng, nhu cầu tiêu dùng xã hội
ngày càng cao, cùng với hội nhập nền kinh tế thế giới thì sự cạnh tranh để tồn tại giữa
các doanh nghiệp ngày càng tăng. Muốn thắng được các đối thủ cạnh tranh thì doanh
nghiệp cần phải có vốn để đổi mới thiết bị công nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao
chất hiệu quả về hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, quản lý và sử dụng vốn sao
cho hiệu quả tránh bị thất thoát, lãng phí đóng vai trò hết sức quan trọng và là khâu cốt
yếu, quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để quả lý và sử dụng
vốn có hiệu quả, người ta phân loại vốn theo công dụng kinh tế, theo cách phân loại
này vốn được chia thành vốn cố định và vốn lưu động.
1.2.1. Quản lý và sử dụng vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp phải được đầu tư phù hợp cho các hoạt động dài
hạn (mua sắm, lắp đặt, xây dựng các TSCĐ hữu hình và vô hình) và các hoạt động kinh
doanh thường xuyên (sản xuất sản phẩm hàng hóa, dịch vụ) của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định trước hết phụ thuộc vào chất lượng của công tác
đầu tư mua sắm TSCĐ. Bởi vậy, trước khi đầu tư phải nghiên cứu kỹ lưỡng, kiểm tra

17



18

xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó. Điều đó có nghĩa là trong quá trình sử dụng
doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm mất mát tài sản cố định, thực hiện đúng
quy chế sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa tài sản cố định nhằm duy trì và nâng cao năng
lực hoạt động của tài sản cố định, không để tài sản cố định bị hư hỏng trước thời hạn
quy định.
Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì được giá trị (sức mua) của vốn
cố định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đâu bất kể sự biến động
của giá cả, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật. Trong
trường hợp doanh nghiệp không chỉ duy trì được sức mua của vốn mà còn mở rộng
được quy mô vốn đầu tư ban đầu thì doanh nghiệp đã phát triển được vốn cố định
1.2.2. Quản lý và sử dụng vốn lưu động
1.2.2.1. Quản lý vốn bằng tiền
Mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn nhưng tiến trực tiếp quyết định khả năng thanh
toán, nhu cầu chi tiêu tiền mặt xuất hiện hàng ngày hàng giờ trong quá trình kinh
doanh, nếu không đáp ứng được ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp có thể dễ dàng
chuyển hóa thành các loại tài sản khác để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, tính linh hoạt
của tiền rất cao. Vốn bằng tiền là yếu tố quan trọng quá trình kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường. Vì vậy, tương ứng với một quy mô kinh doanh đã xác định đòi hỏi
thường xuyên phải có một lượng tiền tương ứng để đảm bảo cho tình hình tài chính của
doanh nghiệp ở trạng thái bình thường.
Tiền cũng là đối tượng của sự tham ô, gian lận, lạm dụng trong doanh nghiệp,
quản lý vốn bằng tiền là vấn đề hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính, nếu
quản lý vốn bằng tiền không chặt chẽ sẽ mất vốn, mất cán bộ.
Một trong những yêu cầu của công tác quản lý vốn bằng tiền là làm cho đồng vốn
của doanh nghiệp không ngừng vận động và không ngừng sinh lời, vì vậy một trong
những yêu cầu cao hơn trong qông tác quản lý tài chính là khi doanh nghiệp có vốn
tạm thời nhàn rỗi cần phải tìm biện pháp sử dụng đồng vốn nhàn rỗi để tăng mức sinh

đáng kể trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Nhờ xác định được mức tồn kho dự trữ
hợp lý giúp doanh nghiệp tiến hành kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp tránh
được việc trả giá cao hơn cho việc đặt hàng với số lượng nhỏ và những rủi ro trong
việc chậm trễ hoặc ngừng trệ sản xuất do thiếu vật tư, thậm trí phải cắt giảm bớt đơn
đặt hàng do không sản xuất được. Do tính toán không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng

20

dự trữ quá nhiều so với nhu cầu, doanh nghiệp không thực hiện được nguyên tắc tiết
kiệm chi phí vì dự trữ lớn dẫn đến ứ đọng vật tư làm giảm giá, biến chất, làm tăng chi
phí lưu kho, dẫn đến tình trạng sử dụng vật tư lãng phí, giảm tốc độ chu chuyển vốn
lưu động.
1.2.2.3. Quản lý các khoản phải thu
Việc quản lý nợ là một trong những nội dung quan trọn của công tác quản lý tài
chính doanh nghiêp, trong quản lý nợ phải thu đòi hỏi doanh nghiệp phải lượng định,
đánh giá tác động của bán chịu đến tăng doanh thu, lợi nhuận, xem xét nhân tố chủ yếu
tác động để có biện pháp phù hợp.
Các yếu tố chủ yếu là:
Xác định chính sách bán chịu bao gồm: mục tiêu mở rộng thị trường, tăng doanh
thu tăng lợi nhuận; tính chất thời vụ trong sản xuất, những doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh mang tính thời vụ nhất là trong nông nghiệp; tình trạng cạnh tranh xem các
đối thủ cùng ngành mức độ bán chịu như thế nào để có cơ sở đưa ra chính sách hợp lý.
Phải phân tích khách hàng và đối tượng bán chịu, xác định điều kiện thanh toán,
thời hạn thanh toán, chiết khấu thanh toán.
Khi tham gia tín dụng thương mại với tư cách là người cung cấp tín dụng cho
khách hàng sẽ tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội song khoản tín dụng này cũng có thể
đem lại những rủi ro cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý phải đưa ra quyết
định có nên cấp tín dụng thương mại hay không.
1.3. HIỆU QUẢ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

kinh doanh của doanh nghiệp nhu tổng giá trị sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị
tăng….chi phí đầu vào của doanh nghiệp lại bao gồm hai loại. Loại thứ nhất là chi phí
để tạo ra nguồn lực như diện tích đất đai, số máy móc thiết bị, nhà xưởng, số lượng
vốn, lao động thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp. Loại thứ hai là chi phí sử dụng
nguồn lực (gọi là chi phí thường xuyên) là sự tiêu hao hoặc chi phí các yếu tố sản xuất
như tổng số thời gian làm việc của người lao động…
Bản chất của hiệu quả vốn kinh doanh của doanh nghiệp là nâng cao kết quả của
việc sử dụng các nguồn lực đưa vào kinh doanh hay tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó
Hiệu quả
kinh doanh

Kết quả đầu ra

Chi phí đầu vào
= 22

để đạt được mục đích sản xuất kinh doanh. Đó là hai mặt của một vấn đề đánh giá hiệu
quả. Ta có thể khái quát về hiệu quả sử dụng vốn như sau:
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động
sử dụng vốn vào giải quyết một nhu cầu nhất định trong phát triển sản xuất (đầu tư phát
triển) và trong hoạt động sản xuất, được xác định bằng quan hệ so sánh giữa kết quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất đinh.
Như vậy, theo cách hiểu đơn giản thì sử dụng VKD có hiệu quả có nghĩa là với
một lượng vốn nhất định bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ mang lại lợi nhuận
cao nhất và làm cho đồng vốn không ngừng sinh sôi nảy nở hay nói cách khác nâng
cao hiệu quả sử dụng VKD là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp, nó được hiểu trên 2 khía cạnh.

= 23

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong
kỳ. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn kinh doanh quay vòng càng nhanh và được sử
dụng hiệu quả. Thực chất chỉ tiêu này nói lên hiệu quả sử dụng vốn (hay tài sản) của
doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh

Chỉ tiêu này cho biết một đồng VKD bình quân tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Chỉ tiêu này chịu sự ảnh hưởng của hai yếu tố là: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh
thu và vòng quay tổng vốn cụ thể:
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế, tức là cho thấy hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
Người ta có thể tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu cao hay
thấp bằng việc phân tích công thức sau: Một số chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Hệ số thanh toán ngắn hạn



VKD bình quân
VKD Bình quân

Vốn chủ sở hữu
x
x
Hệ số thanh
toán ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn
= 24

có TSLĐ là trong kỳ có khả năng dễ dàng hơn khi chuyển đổi thanh tiền. Nếu hệ số
này lớn hơn hoặc bằng 1 thì tài sản lưu động của doanh nghiệp đủ đáp ứng các khoản
nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh toán nhanh Các TSLĐ trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển đổi thành
tiền. Trong TSCĐ hiện có thì vật tư hàng hóa tồn kho (các loại vật tư, công cụ, dụng
cụ, thành phẩm tồn kho) chưa thể chuyển đổi ngay thành tiền, dó đó nó có khả năng
thanh toán kém nhất. Vì vậy hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả
nợ ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc phải
bán các loại vật tư hàng hóa. Nếu chỉ số này lớn hơn hoặc bằng 1 thì khả năng thanh
toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn là tốt và ngược lại.

định
Doanh thu (DTT) trong kỳ

Số vốn cố định bình quân trong kỳ
= 25
Chỉ tiêu này là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định.
Nó phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng
vốn cố định.
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ=
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ có thể tạo ra bao nhiều đồng
lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuê thu nhập).
Nhóm các chỉ tiêu phân tích
Hệ số hao mòn TSCĐ
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Hệ số này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanh nghiệp so với thời
điểm đầu tư ban đầu. Hệ số càng lớn chúng tỏ mức độ hao mòn TSCĐ càng cao và
ngược lại.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Hệ số này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh
thu hoặc doanh thu thuần. Hệ số càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao.
Tỷ suất đầu tư vào TSCĐ
Tỷ suất đầu tư vào TSCĐ =


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status