kết quả và ý nghĩa của quá trình thay đổi tư duy của đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đại hội vi – x - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn lại quá trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ta thấy vai trò quan trọng của
Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là
một sự tất yếu khách quan đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng
dân tộc Việt Nam, đó là kết quả của quá trình lựa chọn con đường cứu nước, chuẩn bị
tích cực về tư tưởng chính trị, tổ chức đưa ra những quan điểm, đường lối đúng đắn để
đưa nước ta hoàn toàn giải phóng, thống nhất, ổn định và phát triển đất nước trên tất cả
mọi mặt: đời sống, kinh tế, xã hội.
Sự đổi mới trong quá trình tư duy của Đảng về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề rất cần thiết để đưa nước ta thực
hiện đúng đắn mục tiêu, hướng đi phù hơp với thực tiễn. Trong bối cảnh nước ta hiện
nay, khi xã hội đang đi lên, nguồn lực tri thức ngày càng dồi dào đòi hỏi Đảng có những
chính sách, đường lối đổi mới và hoàn thiện để vừa tạo nền tảng vừa đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nội dung cũng như phương hướng,
những bài học kinh nghiệm được rút ra đã được thể hiện thông qua sự đánh giá, nhìn
nhận vấn đề của Đảng thông qua các lần đại hội. Qua đó, Đảng khẳng định và đưa ra các
quan điểm , đường lối đúng đắn cho từng giai đoạn phát triển của nước ta.
1
I. Quá trình đổi mới tư duy về Công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đại hội VI – X (từ
năm 1986 đến năm 2006).
1. Phê phán sai lầm trong nhận thức và rút ra bài học kinh nghiệm về quá trình công
nghiệp hóa thời kì 1960-1985:
1.1. Phê phán sai lầm trong nhận thức:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) – Đại hội đổi mới, với
tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” đã nghiêm khắc chỉ ra những
sai lầm, khuyết điểm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kì 1960 –
1985, đặc biệt trong 10 năm (1975 – 1985). Trong đó, Đảng ta khẳng định: “chúng ta đã
phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về cơ sở vật chất- kĩ thuật, cải tạo
xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế. Do tư tưởng chủ quan, nóng vội nên chúng ta đã chủ
trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; chưa thực
sự coi công nghiệp là mặt trận hàng đầu ”. Đó là:

nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp nặng và kết
cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện).
o Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm; chương
trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu.
o Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các
thành phần kinh tế.
8.2.
2. Quá trình đổi mới tư duy về Công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đại hội VI – X (từ
năm 1986 đến năm 2006).
9.2.
2.1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI:
10.2. Thời kì Việt Nam chưa thể đẩy mạnh Công nghiệp hóa.
2.1.1. Nhiệm vụ:
11.2. Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3
nguyên tắc:
o Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp.
o Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi
nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ.
o Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3
mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã
hội chủ nghĩa.
2
2 . />3
12.2. Từ 3 nguyên tắc trên, Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ:
o Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo các thành
phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa; kinh tế tư bản tư
nhân; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc.
o Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chính sách xã hội, kế hoạch hoá dân số và giải quyết việc
làm cho người lao động.

đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác. Nâng cao chất lượng
đảng viên và sức mạnh chiến đấu của tổ chức cơ sở, tăng cường đoàn kết nhất trí trong
Đảng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cơ bản, vừa cấp bách của công tác xây dựng Đảng.
3
3 . />4
2.1.2. Mục tiêu:
2.2.2. Từ việc chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm và để muốn thực hiện những
"nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát “của chặng đường đầu tiên (phải trong nhiều kế
hoạch 5 năm nữa) thì trong 5 năm trước mắt (1986-1990) cần tập trung sức người, sức
của thực hiện bằng được nhiệm vụ, mục tiêu của ba chương trình về lương thực - thực
phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
2.3.2. Những mục tiêu cụ thể là:
o Bảo đảm nhu cầu lương thực của xã hội và có dự trữ; đáp ứng một cách ổn định nhu cầu
thiết yếu về thực phẩm. Mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm đủ tái sản xuất sức lao
động.
o Đáp ứng nhu cầu của nhân dân về những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu.
o Tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu để đáp
ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hóa cần
thiết.
2.4.2. Muốn thực hiện những mục tiêu của Ba chương trình kinh tế, thì nông
nghiệp, kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp phải được đặt đúng vị trí là mặt trận hàng đầu và
được ưu tiên đáp ứng nhu cẩu về vốn đấu tư, về năng lực, vật tư, lao động, kĩ thuật…
2.5.2. Nội dung ba chương trình kinh tế là sự cụ thể hóa nội dung chính của công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên.
4
4. Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn 2003, Chương X – Đất nước trên con đường đổi
mới (1986-2000), Đại Cương Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Giáo Dục, Tr.1129-1134.
5
2.2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII:
2.6.2. Thời kì Việt Nam gắn liền với Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân
và bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nến kinh tế". Để thực hiện mục tiêu trên, phải phát huy
sức mạnh của các thành phần kinh tế, đẩy mạnh Ba chương trình kinh tế với những nội
dung cao hơn trước và từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công
nghiệp hóá đẩy mạnh nhịp độ ứng dụng tiến bộ khoa học, kĩ thuật; hình thành về cơ bản
và vận hành tương đối thông suốt cơ chế quản lí mới.
5
5 . Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn 2003, Chương X – Đất nước trên con đường đổi
mới (1986-2000), Đại Cương Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Giáo Dục, Tr.1136-1148.
6
2.2.2. Phương hướng:
2.12.2. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000; Báo
cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng.
2.13.2. Cương lĩnh xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình
lâu dài, trải qua nhiều chặng đường; trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, cần nắm vững 7 phương hướng cơ bản sau:
2.14.2. Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đủ quyền dân chủ của nhân
dân.
2.15.2. Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng
hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm
nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng
nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
2.16.2. Ba là, phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước.
2.17.2. Bốn là, trong lĩnh vực tư tưởng và văn hoá lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư

o Đại hội nêu ra 6 quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và định hướng những nội
dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện địa hóa trong những năm còn lại của thập kỷ 90 -
thế kỷ XX.
o Nhận định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, những tiền đề cho công
nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sàn thời kỳ mới đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.25.2. Đại hội cũng đã vạch ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 - 2000, nêu nhiệm vụ tống quát, những tư tưởng
chỉ đạo, các chương trình và lĩnh vực phát triển.
2.3.1. Nhiệm vụ và mục tiêu:
8
2.26.2. Căn cứ vào nhận định trên và cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội khẳng định cẩn tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ
chiến lược : xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
2.27.2. Mục tiêu cụ thể của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kì này là: “Xây
dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sớ vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ
cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh.”
2.28.2. Trên con đường thực hiện mục tiêu nêu trên, Đại hội xác định : "Giai đoạn
từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kì phát triển mới đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng,
tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và
đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và
vượt mục tiêu được đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2000; tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những
vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân,
nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn

2.4.1. Mục tiêu:
100
2.31.2. Trong đại hội làn thứ IX, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 -
2005 là bước rất quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược 10 năm 2001 - 2010 nhằm:
o Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân.
o Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
o Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế đối ngoại.
o Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố
con người.
o Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
o Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bước quan trọng thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
o Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.
2.32.2.
2.4.2. Tiêu chí:
2.33.2. Trong giai đoạn này thì phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
nhiệm vụ trung tâm, vì thế Đảng đã đề ra các tiêu chí:
o Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian,
vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin
và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ
biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri
thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển
giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
o Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ
mạnh: có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có

xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các ngành kinh tế và quốc phòng. Khai thác
có hiệu quả các nguồn tài nguyên dầu khí, khoáng sản, vật liệu xây dựng. Chú trọng phát
triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; xây dựng một số tập đoàn doanh nghiệp lớn đi đầu
trong cạnh tranh và hiện đại hoá.
o Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, kể cả thương mại
điện tử, các loại hình vận tải, bưu chính - viễn thông, du lịch, tài chính, ngân hàng, kiểm
toán, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường Sớm phổ
cập sử dụng tin học và Mạng thông tin quốc tế (Internet) trong nền kinh tế và đời sống xã
hội.
o Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng: giao thông, điện
lực, thông tin, thủy lợi, cấp nước, thoát nước
o Phát triển mạng lưới đô thị phân bố hợp lý trên các vùng. Hiện đại hoá dần các thành phố
lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn. Không tập trung quá nhiều cơ sở công
nghiệp và dân cư vào các đô thị lớn. Khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông và ô nhiễm
môi trường. Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị, nâng cao thẩm mỹ kiến
trúc.
2.34.2. Qua đó ta thấy Đảng bổ sung và nhấn mạnh một số đổi mới về con đường
công nghiệp hóa rút ngắn ở nước ta.
8
8. />ngvankiendaihoidang.
11
2.35.2.
2.5. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X:
2.36.2. Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội của trí tuệ, đổi
mới, đoàn kết và phát triển bền vững. Đại hội diễn ra trong thời điểm lịch sử có ý nghĩa
vô cùng quan trọng. Sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta đã trải qua 20 năm. Toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân ta vừa kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng,
cũng là 5 năm đầu tiên của thế kỷ XXI.
2.37.2. Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển của kinh tế tri thức
đang làm thay đổi mạnh mẽ nội dung và bước đi của quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại

o Một số chỉ tiêu, nhiệm vụ Đại hội XI đề ra chưa đạt;
o Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền
kinh tế thấp;
o Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa chậm; các
cân đối vĩ mô chưa vững chắc;
o Chế độ phân phối bất hợp lý, phân hóa xã hội tăng lên.
2.42.2. Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, nội dung bảo vệ môi trường được nâng lên
một tầm cao mới, gắn chặt với quá trình Công nghiệp hóa và hiện đại hóa: ''Đưa nội
dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực,
vùng và các chương trình dự án đầu tư''. Một điểm mới so với Đại hội X là đưa thêm nội
dung ''chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển
năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”.
2.43.2. Qua đó, cho ta thấy Đảng đã nhận thấy nguy cơ cấp bách về vấn để môi
trường để từ đó đưa ra phương hướng đổi mới tư duy cơ bản trong giai đoạn này là đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ
tài nguyên, môi trường.
2.44.2.
II. Kết quả và ý nghĩa của quá trình thay đổi tư duy của Đảng.
2.45.2.
1. Kết quả thực hiện đường lối đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
1.1. Thành tựu:
2.46.2. Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn, trong đó
có những thành tựu nổi bật của công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
2.47.2.
2.48.2. Một là: cơ sở vật chất - kỹ thuật của đất nước được tăng cường đáng kể,
khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế được nâng cao. Từ một nền kinh tế chủ yếu là
nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất yếu kém đi lên, đến nay cả nước đã có hơn 100 khu
công nghiệp, khu chế xuất tập trung, nhiều khu hoạt động có hiệu quả, tỉ lệ ngành công
nghiệp chế tác, cơ khí chế tạo và nội địa hóa sản phẩm ngày càng tăng.
2.49.2. Ngành công nghiệp sản xuất tư liệu như luyện kim, cơ khí, vật liệu xây dựng, hóa

2.59.2. Ba là, những thành tựu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần
quan trọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân từ năm 2000 đến
2010 đạt trên 7,26%/năm. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao: trong thời gian dài tốc
độ tăng trưởng 7-8%, là một trong những nước có tốc độtăng trưởng kinh tế nhanh nhất
của thế giới. Điều đó đã góp phần quan trọng vào công tác xóa đói giảm nghèo. Thu nhập
đầu người bình quân hàng năm tăng lên đáng kể. Năm 2005, đạt 640 USD/người, năm
2010 đạt 1.168 USD/người, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải
thiện.
2.60.2.
1.2. Hạn chế :
2.61.2. - Tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp so với khả năng và thấp hơn nhiều
nước trong khu vực thời kỳ đầu công nghiệp hóa. Quy mô nền kinh tế nhỏ, thu nhập bình
quân đầu người còn chưa cao. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, vào các
ngành công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động.
Năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực.
15
2.62.2. - Nguồn lực của đất nước chưa được sử dụng có hiệu quả cao, tài nguyên,
đất đai và các nguồn vốn của Nhà nước còn bị lãng phí, thất thoát nghiêm trọng. Nhiều
nguồn lực trong dân chưa được phát huy.
2.63.2. - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm. Trong công nghiệp các sản phẩm
có hàm lượng tri thức cao còn ít. Trong công nghiệp, các sản phẩm hàm lượng tri thức
còn thấp. Trong nông nghiệp sản xuất chưa gắn kết chặt chẽ với thị trường. Nội dung
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn còn thiếu cụ thể. Chất lượng
nguồn nhân lực của đất nước còn thấp. Tỷ trọng lao động qua đào tạo còn thấp, lao động
thiếu việc làm và không việc làm còn nhiều.
2.64.2. Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được thế mạnh để đi nhanh vào
cơ cấu kinh tế hiện đại. Kinh tế vùng chưa có sự liên kết chặt chẽ, hiệu quả thấp và chưa
được quan tâm đúng mức.
2.65.2. Cơ cấu thành phần kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa
tạo được đầy đủ môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và khả năng phát triển của các

khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ hợp tác kinh
tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành với trình độ khoa học và công nghệ ngày
càng hiện đại.
2.75.2. Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, chúng ta vẫn có những yếu tố
thuận lợi, thời cơ, và có đủ khả năng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Ngày nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đầy ấn tượng cùng sự ổn định
trong chính trị xã hội trong quá trình đổi mới, chứng tỏ tiến trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đã đạt được những thành tựu nhất định.
2.76.2.
2.2. Định hướng:
2.2.1. Định hướng về phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa:
2.77.2. Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
(12-19/01/2011) về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã chỉ ra định hướng phát triển
kinh tế giai đoạn 2010 - 2020 như sau: Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng
sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng
nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm
là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh
nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường, tăng nhanh giá nội địa, giá trị gia tăng và sức
cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế tri thức, gắn phát triển kinh
tế với bảo vệ mội trường, phát triển kinh tế tri thức. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ mội
trường, phát triển kinh tế xanh.
2.78.2. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và các cơ quan các cấp, các ngành cần phối hợp,
đồng lòng cùng nhau thực hiện chiến lược này, đưa đất nước ngày một phát triển, đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.
2.2.1.1. Định hướng về công nghiệp hóa hiện đạt hóa kết hợp với nền kinh tế tri thức:
2.79.2. Một là, xây dựng 2 trung tâm quốc gia về công nghệ cao ở Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh, lấy đây là đầu tàu, là mô hình tiêu biểu cho phát triển công nghệ của cả
nước và là nơi thu hút, nuôi dưỡng công nghệ và tri thức mới của nhân loại.

hội Đảng lần thứ XI.
2.88.2. Trong đó, Nhà nước cần dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng năng lực
nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu,
năng lượng ; vì đây là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nước ta theo hướng phát triển bền vững.
2.89.2. Nhà nước cũng cần sử dụng công cụ tài chính nhằm khuyến khích đầu tư
vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ sạch; sản
xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và bao bì không gây
hại hoặc ít gây hại đến môi trường; tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế.
2.90.2. Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững là biện pháp hữu hiệu nhất
có khả năng phòng ngừa và hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
11
2.91.2. Chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhận thức và
hành động, trong chỉ đạo điều hành và đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo
vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa, gắn với phát triển
kinh tế tri thức. Trước hết, tất cả các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác động môi
trường, được Bộ hoặc Sở Tài nguyên - Môi trường thẩm định trước khi được phê duyệt.
Đồng thời, tăng cường việc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải,
nhất là các chất thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ y tế. Khắc phục
các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái; nâng cao khả năng và nguồn lực điều
11. />ungvankiendaihoidang.
19
tra nắm chắc các nguồn tài nguyên để có kế hoạch bảo vệ, khai thác hợp lý, bảo vệ đa
dạng sinh học.
2.92.2.
2.93.2. KẾT LUẬN:
2.94.2. Những đổi mới tư duy của Đảng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
qua từng đại hội đã làm nổi bật về sự phát triển đường lối của Đảng trong từng thời kỳ
đã đưa đất nước ngày càng phát triển vững mạnh. Bên cạnh việc khắc phục, hoàn

o
2.110.2.
2.111.2.
2.112.2.
2.113.2.
2.114.2.
2.115.2.
2.116.2.
2.117.2.
2.118.2.
2.119.2.
2.120.2.
2.121.2.
2.122.2.
2.123.2.
2.124.2.
2.125.2.
2.126.2.
2.127.2.
2.128.2.
2.129.2.
2.130.2. MỤC LỤC
2.131.2.
2.132.2. LỜI MỞ ĐẦU 1
19
2.133.2. I. Quá trình đổi mới tư duy về Công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đại hội VI – X (từ
năm 1986 đến năm 2006) 1
1. Phê phán sai lầm trong nhận thức và rút ra bài học kinh nghiệm về quá trình công
nghiệp hóa thời kì 1960-1985 1
1.1. Phê phán sai lầm trong nhận thức 1

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status