Mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự với các đạo
luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và
chuyển giao công nghệ.
Trong phạm vi bài này, tôi tập trung phân tích mối quan hệ giữa các đạo luật
chuyên ngành về sở hứu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ với Bộ Luật
Dân sự nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc xác định phạm
vi, nội dung điều chỉnh cụ thể của các đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí
tuệ, về chuyển giao công nghệ và của chính Bộ Luật dân sự.
1. Hệ thống pháp luật dân sự của nước ta hiện nay – nhìn từ góc độ
quan hệ với các đạo luật chuyên ngành có liên quan
Các quan hệ dân sự là loại quan hệ xã hội phát sinh trong tất cả các lĩnh vực
của đời sống, từ sản xuất kinh doanh đến sinh hoạt hàng ngày của con người.
Các quan hệ đó bao gồm cả quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản.
Pháp luật dân sự quy định địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân và các chủ
thể khác, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong giao lưu dân sự, xây dựng
chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia quan hệ
dân sự. Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất dân sự đòi hỏi phải
có các nguyên tắc, phương pháp đặc thù. Các nguyên tắc, phương pháp đặc
thù này đã được khẳng định trong Bộ Luật dân sự năm 1995. Song các quan
hệ dân sự rất phong phú, đa dạng. Vì vậy, ngoài các nguyên tắc, phương
pháp đặc thù chung của toàn bộ các quan hệ dân sự, các quan hệ dân sự
trong từng lĩnh vực kinh tế – xã hội đều có những đặc điểm riêng của mình
và đòi hỏi phải có các quy định đặc thù của pháp luật để điều chỉnh.
1
Chính vì vậy các quy định của pháp luật dân sự nước ta hiện nay thực tế
gồm 02 nhóm lớn là các quy định có tính nguyên tắc chung cho tất cả các
lĩnh vực quan hệ dân sự và các quy định dân sự cụ thể cho từng lĩnh vực của
đời sống xã hội. Các quy định có tính nguyên tắc chung cho mọi lĩnh vực
quan hệ dân sự hiện nay được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự năm 1995, các
quy định dân sự cụ thể cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội được ghi nhận
trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như thương mại, hàng hải, hàng
cả những vấn đề còn lại; vấn đề hợp đồng bảo hiểm được quy định tại các
điều từ điều 571 đến điều 584 của Mục 11, chương XII, Phần thứ III Bộ
Luật dân sự năm 1995, những vấn đề còn lại về bảo hiểm có văn bản pháp
luật riêng để điều chỉnh; vấn đề chuyển quyền sử dụng đất được quy
địnhtrong Phần thứ V của Bộ Luật dân sự năm 1995, các vấn khác về đất đai
được quy định tại Luật Đất đai; v.v… Việc lựa chọn phương án nào hoàn
toàn do cơ quan lập pháp quyết định cho đáp ứng yêu cầu cụ thể về nâng cao
hiệu lực điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự cụ thể. Sự trùng lặp
trong một số quy định của Bộ Luật dân sự năm 1995 với các đạo luật chuyên
ngành liên quan là không tránh khỏi và đang tồn tại một cách khách quan.
Về mặt lý luận, một sự trùng lặp có thể chấp nhận được nếu không gây mâu
thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan, tổ chức và cá
nhân khi áp dụng pháp luật.
Nói cách khác, chúng ta không sợ trùng lặp mà chỉ sợ mâu thuẫn, chồng
chéo, gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân khi áp
dụng pháp luật. Tóm lại, về một vấn đề dân sự, có thể vừa quy định tại Bộ
3
Luật dân sự vừa quy định tại một hay thậm chí một số đạo luật chuyên
ngành theo hướng Bộ Luật dân sự chỉ quy định nguyên tắc chung còn đạo
luật chuyên ngành cụ thể hoá các quy định chung của Bộ Luật Dân sự vào
điều kiện cụ thể của mỗi chuyên ngành, nhưng không được chồng chéo, mâu
thuẫn nhau. Tuy nhiên nếu về cùng một vấn đề cụ thể mà có sự khác nhau
(không phải mâu thuẫn hay chồng chéo) giữa Bộ Luật dân sự và quy định
của đạo luật chuyên ngành thì phải cho phép áp dụng quy định cụ thể, đặc
thù của đạo luật chuyên ngành, bởi vì quy định cụ thể của đạo luật chuyên
ngành bảo đảm chỉ cụ thể hoá các quy định chung của Bộ Luật Dân sự vào
điều kiện cụ thể của chuyên ngành.
Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng, sẽ là thuận lợi hơn cho các cơ quan, tổ
chức, cá nhân khi áp dụng pháp luật, nếu Bộ Luật dân sự chỉ khẳng định
quyền dân sự của các tổ chức, cá nhân, nhà nước bảo hộ quyền này của các
về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở các văn bản pháp luật về tổ chức,
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002). Các
quy phạm pháp luật hình sự về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở Bộ
Luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Các quy phạm
pháp luật tố tụng về sở hữu trí tuệ được xây dựng trên cơ sở Bộ luật Tố tụng
Hình sự, Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính v.v… Để thi hành các bộ luật, luật và pháp lệnh nêu trên, Chính
5
phủ và các cơ quan có thẩm quyền khác đã ban hành một loạt văn bản dưới
luật về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ hoặc có chứa đựng các
quy định về/liên quan đến sở hữu trí tuệ, về/liên quan đến chuyển giao công
nghệ. Như vậy, có thể nói hệ thống các văn bản pháp luật về/liên quan đến
sở hữu trí tuệ khá đồ sộ ( khoảng hơn 40 văn bản) và về/liên quan đến
chuyển giao công nghệ cũng không nhỏ , bao gồm các văn bản thuộc nhiều
lĩnh vực pháp luật khác nhau như văn bản pháp luật dân sự, văn bản pháp
luật hành chính, văn bản pháp luật hình sự, văn bản pháp luật về tố tụng v.v
Cũng như các lĩnh vực chuyên ngành khác, Bộ luật Dân sự là trụ cột của
toàn bộ hệ thống các quy định của pháp luật dân sự về SHTT và về chuyển
giao công nghệ, bất kể các quy định đó được ghi nhận ở đâu. Trên thực tế
hiện nay các quy định dân sự chung nhất về SHTT và về chuyển gia công
nghệ đều được ghi nhận trong Bộ Luật dân sự; một số quy định dân sự
về/liên quan đến SHTT và về chuyển gia công nghệ được ghi nhận trong các
văn bản pháp luật chuyên ngành khác; hầu hết các quy định còn lại, đặc biệt
các quy định cụ thể về SHTT và về chuyển gia công nghệ được ghi nhận
trong các văn bản quy phạm pháp luật cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
và cấp Bộ, ngành. Tuy nhiên, theo cách lập luận tại Mục 1 ở trên, dù hầu hết
các quy định có tính chất dân sự về sở hữu trí tuệ và về chuyển gia công
nghệ không được ghi nhận ở Bộ Luật Dân sự thì các quy định đó vẫn đương
nhiên là bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam mà nòng
bản áp dụng chung cho mọi quan hệ dân sự trong mọi lĩnh vực, chứ không
nên có các quy định mang tính nguyên tắc đặc thùcủa từng lĩnh vực, đặc biệt
7
là những lĩnh vực có luật chuyên ngành. Luật Sở hữu trí tuệ và Luật chuyển
giao công nghệ là hai đạo luật chuyên ngành, điều chỉnh các quan hệ dân sự
và cả các quan hệ hành chính liên quan đến sở hữu trí tuệ và chuyển gia
công nghệ, trong đó các quy định dân sự chuyên biệt cho lĩnh vực sở hữu trí
tuệ và chuyển gia công nghệ đều phải dựa trên cơ sở và phù hợp với nguyên
tắc cơ bản trong Bộ luật dân sự. Vì Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao
công nghệ là hai đạo luật chuyên ngành độc lập, nên trong hai đạo luật này
cũng phải có các quy định mang tính nguyên tắc, kể cả nguyên tắc về quan
hệ dân sự của lĩnh vực này.
+ Nếu trong Bộ luật dân sự (sửa đổi) cũng có các chương, phần quy định về
sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, cho dù là quy định mang tính
nguyên tắc của các lĩnh vực này thì sẽ tạo thêm một tầng nấc văn bản về sở
hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ, gây phức tạp khi vận dụng và viện
dẫn pháp luật, dễ tạo ra sự chồng chéo, khó tránh khỏi sự không thống nhất
về nội dung và khi cần sửa đổi các quy định để đáp ứng yêu cầu phát triển
rất nhanh chóng của thực tiễn cuộc sống thì phải sửa đổi, bổ sung đồng thời
cả Bộ Luật dân sự lẫn hai đạo luật chuyên ngành này.
+ Trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi) không cần một chương hay phần riêng quy
định về quyền sở hữu trí tuệ cũng như một chương hay phần riêng về chuyển
giao công nghệ vì bên cạnh các quy định mang tính nguyên tắc dân sự chung
chỉ cần có một vài nguyên tắc về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công nghệ
là đủ. Ví dụ đối với sở hữu trí tuệ chỉ cần một điều tại Phần thứ hai về tài sản
và quyền sở hữu để khẳng định về nguyên tắc : quyền sở hữu trí tuệ là quyền
tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, được Nhà nước công
nhận và bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
8
+ Việc đưa các quy định về sở hữu trí tuệ về chuyển giao công nghệ vào
Cả hai phương án đều nhất trí phải có những quy định nhất định về sở hữu
trí tuệ và về chuyển giao công nghệ trong Bộ Luật dân sự, nhưng khác nhau
về mức độ quy định và có thiết kế thành các chương, phần riêng hay không.
Chúng ta có thể chọn phương án thứ hai với điều kiện không để chồng chéo
và mâu thuẫn giữa các quy định của Bộ Luật dân sự và đạo luật chuyên
ngành về sở hữu trí tuệ đạo luật chuyên ngành về chuyển giao công nghệ.
Tuy nhiên phương án này sẽ làm cho pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng như về
chuyển giao công nghệ có nhiều tầng nắc không cần thiết.
húng ta cũng có thể theo phương án thứ nhất với điều kiện các quy định
chung về sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu được chỉnh sửa để bao quát được cả
loại tài sản vô hình của các tổ chức, cá nhân là tài sản trí tuệ, bao quát cả vấn
đề sở hữu và chuyển giao công nghệ. Đây là việc chúng ta hoàn toàn có thể
làm được và sẽ có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức và cá
nhân trong việc áp dụng pháp luật về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao công
nghệ, tránh được tình trạnh tản mạn, nhiều tầng nấc của pháp luật sở hữu trí
tuệ và về chuyển giao công nghệ. Tóm lại, tôi cho rằng phương án thứ nhất
ưu việt hơn. Chúng ta nên ủng hộ phương án này
10