Luận văn cuối khóa
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1:
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN VÀ CÁC BIỆN PHÁP CƠ BẢN
ĐỂ TĂNG LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.1. Lợi nhuận, ý nghĩa và vai trò của lợi nhuận trong doanh nghiệp
1.1.1.1. Lợi nhuận
Theo luật doanh nghiệp 2005 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, doanh nghiệp được định nghĩa là:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực
hiện hoạt động kinh doanh.”
Kinh doanh được định nghĩa là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả
các giai đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp năm 2005, có các loại hình doanh
nghiệp chủ yếu sau:
1. Doanh nghiệp tư nhân.
1. Công ty cổ phần.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn.
3. Công ty hợp danh.
Đứng trên góc độ doanh nghiệp, thì lợi nhuận được xác định là kết quả
tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (hay các
1
Luận văn cuối khóa
Công ty) là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp
đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp mang
lại.
Lợi nhuận = doanh thu – chi phí tạo ra doanh thu
3
Luận văn cuối khóa
sung vốn kinh doanh, tạo điều kiện để doanh nghiệp tái sản xuất giản đơn và
tái sản xuất mở rộng. Vì nguồn cho các quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng
tài chính…được lấy từ lợi nhuận. Các quỹ này doanh nghiệp có thể bổ sung
cho vốn lưu động, vốn cố định phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đối với người lao động:
Lao động là một trong ba yếu tố không thể thiếu và giữ vai trò quyết
định của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy để quá trình đó được tiến hành
một cách liên tục và có hiệu quả ngày càng cao thì doanh nghiệp phải quan
tâm đến người lao động một cách thỏa đáng. Ngoài tiền lương thì lợi nhuận là
một trong những nguồn mà doanh nghiệp thể hiện sự quan tâm của mình. Lợi
nhuận sau thuế, sau khi trích lập một số quỹ bắt buộc như quỹ dự phòng tài
chính, quỹ đầu tư phát triển…sẽ được trích lập các quỹ như: quỹ dự phòng trợ
cấp mất việc làm, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng. Thông qua việc tạo lập và
sử dụng các quỹ này, doanh nghiệp có điều kiện nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho người lao động. Từ đó góp phần nâng cao sức lao động cũng
như tinh thần của người lao động và là đòn bẩy để nâng cao hiệu quả làm
việc.
1.1.2. Sự hình thành lợi nhuận trong doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hiện nay, một doanh nghiệp không chỉ kinh doanh
trên lĩnh vực hoạt động chính của mình mà còn tham gia vào nhiều lĩnh vực
khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận và khai thác những tiềm năng từ những lĩnh
vực khác. Do đó, lợi nhuận trong doanh nghiệp cũng được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau. Hiện tại trong doanh nghiệp chia lợi nhuận thành
những lĩnh vực sau:
1.1.2.1. Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh:
Khoản lợi nhuận này được xác định là khoản tiền chênh lệch giữa
doanh thu bán hàng thuần trừ giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp. Trong đó:
Luận văn cuối khóa
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí có liên quan đến
toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp mà không tách riêng cho bất kỳ hoạt
động nào.
Lợi nhuận gộp sau khi bù đắp hai loại chi phí trên gọi là lợi nhuận trước
thuế của hoạt động kinh doanh.
Như vậy, ta có Công thức xác định lợi nhuận hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp là:
Lợi
nhuận
HĐKD
=
Doanh
thu
thuần
-
Giá vốn
hàng
bán
-
Chi phí
bán
hàng
-
Chi phí quản
lý doanh
nghiệp
Trong đó:
Doanh
thu
ngắn hạn, chi phí cho đầu tư tài chính, chi phí liên quan đến cho vay vốn, chi
6
Luận văn cuối khóa
phí trả lãi vay vốn kinh doanh, chi phí liên quan đến mua bán ngoại tệ, lỗ do
bán ngoại tệ, chiết khấu thanh toán,…
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định như sau:
Lợi nhuận hoạt
động tài chính
=
Doanh thu hoạt
động tài chính
-
Chi phí hoạt
động tài chính
-
Thuế gián
thu
1.1.2.3. Lợi nhuận khác
Lợi nhuận khác là số chênh lêch giữa thu nhập khác trừ đi chi phí khác
và thuế phải nộp (nếu có). Trong đó:
Thu nhập khác là những khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính
trước hoặc những khoản thu bất thường không xảy ra một cách đều đặn và
thường xuyên. Những khoản thu nhập bất thường gồm: thu nhập về nhượng
bán, thanh lý tài sản cố định, thu tiền được phạt do vi phạm hợp đồng, thu các
khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ, thu các khoản nợ không xác định được chủ,
hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho và các khoản phải thu khó đòi…
Chi phí bất thường là những khoản lỗ do các nghiệp vụ riêng biệt với
những hoạt động thông thường của doanh nghiệp. Những khoản chi phí bất
thường có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan đưa tới, gồm: giá trị
còn lại của tài sản cố định khi thanh lý, nhượng bán, tiền phạt do vi phạm hợp
thuế TNDN
=
Lợi nhuận trước
thuế TNDN
- Thuế TNDN
Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuần túy thì lợi
nhuận hoạt động khác không xảy ra thường xuyên và đều đặn nên không phải
là mục tiêu chính của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất
kinh doanh đều phải lựa chọn cho mình một ngành nghề phù hợp với điều
kiện về trình độ kĩ thuật, lực lượng lao động, quy mô vốn… Đó là sản xuất
kinh doanh chủ yếu nhằm sản xuất và tiêu thụ một hoặc một nhóm mặt hàng
nhất định trong đó có những mặt hàng doanh nghiệp có thể phát huy được thế
mạnh của mình. Vì vậy, trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thì lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất quyết định đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ hạch toán. Do vậy, trong bài luận
văn này em xin chỉ đề cập tới lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3. Các chỉ tiêu lợi nhuận.
1.1.3.1. Chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối
Chỉ tiêu lợi nhuận gộp
Chỉ tiêu này được xác định bằng số chênh lệch giữa doanh thu thuần và
giá vốn hàng bán.
Công thức tính:
Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán
Chỉ tiêu lợi nhuận gộp phản ánh hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
chưa tính tới chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Chỉ tiêu này
cho thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình quản lý giá thành sản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp ở khâu sản xuất và chất lượng hàng hóa của doanh
nghiệp.
Chỉ tiêu lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT).
8
Trên lý thuyết, chỉ tiêu này phản ánh tốt nhất hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Vì chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp không phân biệt nguồn vốn đó được lấy từ đâu, đi vay hay của chủ sở
hữu.
Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế (EBT).
Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa lợi nhuận trước lãi vay và thuế
so với chi phí lãi vay. Công thức xác định:
Lợi nhuận trước
thuế (EBT)
=
Lợi nhuận trước lãi
vay và thuế (EBIT)
- Chi phí lãi vay
Xem xét chỉ tiêu này có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp, cũng như đánh giá được lãi vay đóng góp bao nhiêu
phần trăm trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời là căn cứ để xác
định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế (NI).
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế trừ đi số
thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng
mà doanh nghiệp thực nhận được để có thể sử dụng tái sản xuất giản đơn
cũng như mở rộng, đồng thời cũng là căn cứ xác định thu nhập chủ sở hữu
của công ty. Trong các chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, các nhà đầu tư cũng như
các chủ sở hữu quan tâm nhất chỉ tiêu này.
Công thức xác định:
9
Luận văn cuối khóa
Lợi nhuận sau thuế
(NI)
=
tiêu thụ rộng lớn, điều kiện sản xuất gặp nhiều thuận lợi trong việc thu mua
10
Luận văn cuối khóa
nguyên vật liệu, kho bãi gần trục giao thông thì sẽ có khả năng thu được nhiều
lợi nhuận hơn các doanh nghiệp không có các điều kiện ưu đãi đó.
Như vậy, sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối chỉ giúp nhà quản lý xác
định kết quả kinh doanh mà chưa xác định được hiệu quả kinh doanh, chưa
xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố (doanh thu, vốn sản xuất,
chi phí sản xuất…) đến kết quả kinh doanh. Để khắc phục những hạn chế trên
của việc sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, giúp nhà quản lý đánh giá chính
xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, người ta sử dụng
thêm các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối (hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận).
Có rất nhiều chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận, mỗi chỉ tiêu có một nội dung
kinh tế khác nhau. Nhưng chúng đều có mục đích là đưa các doanh nghiệp có
điều kiện sản xuất khác nhau về cùng một mặt bằng để so sánh (một đồng vốn
sản xuất kinh doanh, một đồng chi phí, một đồng doanh thu). Sau đây là một
số chỉ tiêu thường dùng:
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên vốn sản xuất
kinh doanh (ROA
e
)
Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận trước lãi vay và thuế với số vốn sử
dụng bình quân trong kỳ (gồm có vốn cố định bình quân và vốn lưu động bình
quân)
Công thức tính như sau:
ROA
E
=
EBIT
VKD
đầu kì + V
cđ
cuối kì
2
Vốn lưu động bình quân (VLĐ
bq
) trong kỳ được tính theo phương pháp
bình quân số học vốn lưu động trong từng quý hoặc từng tháng.
Công thức được xác định vốn lưu động bình quân như sau:
VLĐ
bq
=
VLĐ
quí 1
+ VLĐ
quí 2
+ VLĐ
quí 3
+ VLĐ
quí 4
4
Hoặc có thể tính V
bq
bằng cách lấy bình quân số học tổng tài sản đầu
năm + tổng tài sản cuối năm.
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn phản ánh tổng hợp trình độ sử dụng tài
sản, vật tư tiền vốn của doanh nghiệp. Nó cho biết mỗi đồng vốn bỏ vào sản
xuất kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận không tính đến ảnh hưởng
của thuế thu nhập doanh nghiệp. Thông qua đó kích thích doanh nghiệp khai
thác những khả năng tiềm tàng để quản lý và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao
VKD
bq
Trong đó:
ROA : Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh.
EBT : Lợi nhuận trước thuế trong kỳ.
VKD
bq
: Vốn kinh doanh (tài sản) bình quân sử dụng trong
kỳ. (được tính tương tự như trên)
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng
sinh lời ra bao nhiều đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay và nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
13
Luận văn cuối khóa
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu bình quân
trong kỳ.
Công thức được xác định như sau:
ROE =
NI
VCSH
bq
Trong đó:
ROE: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
NI: Lợi nhuận sau thuế trong kỳ.
VCSH
bq
: Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ.
Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ được xác định bằng bình quân số
học giữa vốn chủ sở hữu đầu kỳ và vốn chủ sở hữu cuối kỳ.
*
n
Si Pi
∑
Trong đó:
S
i
: Khối lượng tiêu thụ sản phẩm i
P
i
: Lợi nhuận đơn vị sản phẩm i
n : số loại sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.
Nếu lợi nhuận đơn vị sản phẩm là số dương mà các nhân tố khác không
biến động thì khối lượng sản phẩm tăng lên bao nhiêu lần làm cho lợi nhuận
tăng bấy nhiêu lần. Nếu doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có giá bán thấp
hơn giá thành làm cho lợi nhuận là số âm thì việc bán càng nhiều sản phẩm
càng làm cho doanh nghiệp lỗ hơn. Vì vậy, cùng với việc nâng cao lợi nhuận
đơn vị sản phẩm, nếu doanh nâng cao số lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ làm tăng
lợi nhuận. Tuy nhiên, khối lượng sản phẩm tiêu thụ còn phụ thuộc vào khả
năng sản xuất của doanh nghiệp, quan hệ cung cầu trên thị trường…
1.2.1.2. Chất lượng sản phẩm tiêu thụ
Chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy Công
tác tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế hiện nay của doanh nghiệp. Trong nền kinh
15
Luận văn cuối khóa
tế thị trường, chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh sắc bén có thể mang
tính chất quyết định thắng lợi trước các đối thủ khác. Chất lượng sản phẩm
tiêu thụ phụ thuộc rất nhiều vào trình độ khao học kỹ thuật Công nghệ. Nếu
chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cao thì sẽ được thị trường chấp nhận
với khối lượng lớn, sản phẩm tiêu thụ nhanh làm tăng doanh thu, tăng lợi
1.2.1.5. Giá thành sản phẩm tiêu thụ
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh
nghiệp để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định.
Ta có:
Lợi nhuận đơn
vị sản phẩm
= giá bán đơn vị - Giá thành đơn vị
Tổng lợi nhuận = lợi nhuận đơn vị * khối lượng tiêu thụ
Trong cơ chế thị trường, việc tăng giá bán đơn vị sản phẩm là rất khó
khăn. Qua Công thức trên ta thấy, nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
không đổi thì việc hạ giá thành sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng
lên. Khi giá thành đơn vị của doanh nghiệp hạ hơn so với các đơn vị khác
trong khi giá bán trên thị trường tương đương nhau thì tỷ suất lợi nhuận của
doanh nghiệp sẽ cao hơn các doanh nghiệp khác. Nếu như Công tác hạ giá
thành làm tốt, doanh nghiệp còn có thể hạ thấp giá bán nhằm thu hút khách
hàng, tăng khối lượng sản phẩm bán ra, tăng lợi nhuận. Tuy nhiên việc hạ giá
thành lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: kỹ thuật sản xuất, Công nghệ sử
dụng, trình độ tổ chức quản lý sản xuất, nguyên vật liệu sử dụng, trình độ tay
nghề Công nhân, tiết kiệm chi phí tiêu thụ sản phẩm.
1.2.1.6. Công tác tổ chức bán hàng
Công tác tổ chức bán hàng của doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan
trọng thúc đẩy quá trình tiêu thụ. Một doanh nghiệp áp dụng nhiều hình thức
bán hàng như bán buôn, bán lẻ, bán tại kho, bán tại cửa hàng…điều này sẽ
17
Luận văn cuối khóa
giúp doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn doanh nghiệp chỉ áp
dụng một hình thức bán hàng. Bên cạnh đó, việc tổ chức các dịch vụ vận
chuyển, lắp ráp, bảo hành…cũng sẽ khiến khách hàng yên tâm hơn khi tiêu
dùng sản phẩm của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc tăng khối lượng sản
phẩm tiêu thụ.
Lợi nhuận
tiêu thụ
trong kỳ
=
Doanh thu
bán hàng
trong kỳ
-
Giá thành
tiêu thụ hàng
hóa trong kỳ
-
Thuế gián
thu trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ được xác định theo Công thức:
D =
1
*
n
Si gi
∑
Trong đó:
D: Doanh thu tiêu thụ trong kỳ.
S
i
: Khối lượng sản phẩm i tiêu thụ trong kỳ.
g
i
: giá bán đơn vị sản phẩm i tiêu thụ trong kỳ.
n : số loại sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.
mua, bảo quản nguyên liệu theo đúng yêu cầu, áp dụng các thành tựu khoa
học.
Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm:
Kinh tế thị trường tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp.
Để tạo lợi thế trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải nghiên cứu tìm hiểu thị
hiếu của khách hàng. Trong mỗi thời kỳ, khả năng tiêu thụ và thị hiếu của
khách hàng không giống nhau. Hơn nữa, khách hàng cũng có thể phân loại
theo địa phương, theo khả năng tiêu thụ… Do đó, để tăng thị phần, tăng khối
lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu, sản
xuất những sản phẩm mới có tính năng sử dụng, mẫu mã ưu việt hơn cũng
như đa dạng hơn trong việc sản xuất các loại sản phẩm phù hợp với khả năng
của doanh nghiệp.
20
Luận văn cuối khóa
Đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm:
Mỗi loại sản phẩm tiêu thụ trên thị trường đều do nhiều doanh nghiệp
cung cấp (trừ sản phẩm độc quyền). Để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm,
doanh nghiệp cần phải tìm cách tiếp cận thị trường, đưa sản phẩm đến với
người tiêu dùng. Để làm tốt công tác này, doanh nghiệp cần phải thực hiện
các công việc sau đây:
Chú trọng việc quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp:
Do sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc sản xuất và tiêu thụ sản
phảm cùng một mặt hàng nên công tác quảng cáo rất quan trọng. Theo kinh
nghiệm của một số hãng kinh doanh nổi tiếng trên thế giới thì chi phí quảng
cáo có thể chiếm tới 10% doanh thu bán hàng nhưng lợi ích mà nó mang lại
vô cùng to lớn. Doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác này qua việc quản cáo
trên các thông tin đại chúng, tham gia các triển lãm, tổ chức hội nghị khách
hàng…
Thực hiện bảo hành sản phẩm: Đây là biện pháp tích cực bảo vệ
uy tín về chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, tạo niềm tin đối với khách
Trong điều kiện hiện nay, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật vừa là nguy cơ
cũng là cơ hội đối với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để có thể chiến
thắng trong điều kiện cạnh tranh, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp nhất
thiết phải đầu tư mua sắm máy móc thiết bị hiện đại, áp dụng tiến bọ khoa học
kỹ thuật. Nhờ đó doanh nghiệp có thể giảm chi phí nguyên vật liệu, chi phí
nhân công nhằm nâng cao năng suất lao động, làm cho giá thành sản phẩm hạ
thấp.
Tổ chức sử dụng lao động một cách hợp lý:
22
Luận văn cuối khóa
Việc tổ chức lao động khoa học tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất
một cách hợp lý, loại bỏ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ
máy…có tác dụng rất lớn trong việc tăng năng suất lao động và hạ giá thành
sản phẩm. Hơn nữa, để tăng năng suất lao động không thể thiếu quá trình đào
tạo, bồi dưỡng tay nghề, nâng cao nghiệp vụ cho công nhân, kết hợp với việc
động viên khuyến khích người lao động công hiến sứ lực, tài năng cho doanh
nghiệp bằng các đòn bẩy kinh tế như tiền lương, tiền thưởng, các chính sách
trợ cấp, đãi ngộ khác. Đây là yếu tố để doanh nghiệp tăng lợi nhuận lâu dài.
Điều quan trọng là doanh nghiệp đã phát huy được yếu tố con người, một
nhân tố quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất.
Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu:
Thông thường chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong
toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Do vậy
việc phấn đấu giảm chi phi nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việc hạ
giá thành giản phẩm. Để thực hiện được điều này, doanh nghiệp có thể thực
hiện các biện pháp:
Kết hợp chặt chẽ giữa kế hoạch sản xuất với việc cung ứng
nguyên vật liệu. Doanh nghiệp cần căn cứ vào kế hoạch sản xuất để có kế
hoạch thu mua, dự trữ hợp lý cả về số lượng, chủng loại, chất lượng để đảm
bảo cho quá trình sản xuất được liên tục.
mức luân chuyển tăng lên. Doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp tăng
doanh thu như hạ giá thành, đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm để hạn chế
đến mức thấp nhất vốn nằm trong khâu dự trữ và khâu lưu thông, do số vốn
này không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, doanh nghiệp
phải cân đối số vốn này ở các khâu một cách hợp lý, phù hợp với kế hoạch
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhằm tránh tình trạng ngừng sản xuất do thiếu
vật tư hoặc nhiều vốn nhàn rỗi không sử dụng hết làm giá thành sản phẩm
tăng, lợi nhuận giảm.
24
Luận văn cuối khóa
b. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước
về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định
hết thời gian sử dụng.
Muốn sử dụng hiệu quả vốn cố định, nâng cao lợi nhuận, doanh nghiệp
cần thực hiện các biện pháp sau:
Tăng cường quản lý và sử dụng triệt để máy móc thiết bị vào sản
xuất. Trong thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp chưa sử dụng hết công suất
thiết kế của máy móc gây lãng phí. Đẩy mạnh công suất, năng lực của máy
móc thiết bị sẽ mở ra khả năng tăng doanh thu cho doanh nghiệp. Sản lượng
tăng lên sẽ làm chi phí khấu hao trên một đơn vị sản phẩm giảm, từ đó hạ giá
thành, tăng lợi nhuận.
Điều chỉnh quy mô vốn cố định phù hợp với qui mô và điều kiện
sản xuất của doanh nghiệp. Tránh tình trạng máy móc sử dụng quá tải, nhà
xưởng chật hẹp cũng như máy móc không sử dụng hết công suất, nhà xưởng
để không.
Áp dụng các biện pháp thưởng phạt đối với người lao động trong
việc sử dụng và bảo quản tài sản cố định, nâng cao tay nghề công nhân sử
dụng máy, giáo dục tinh thần trách nhiệm cho người lao động. Từ đó, nâng