THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH
HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CASEAMEX
4.1. TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY
Tài sản và nguồn vốn của công ty được thể hiện qua Bảng 7 như sau:
Bảng 7. TÀI SẢN - NGUỒN VỐN TRONG 3 NĂM (2006 - 2008)
Đvt: triệu đồng
STT CHỈ TIÊU 2006 2007 2008
SO SÁNH
2007/2006 2008/2007
I Tài sản 225.758 520.189 499.708 294.431 130,4% (20.481) (3,9%)
1 Tài sản ngắn hạn 178.011 400.907 378.315 222.896 125,2% (22.592) (5,6%)
2 Tài sản dài hạn 47.747 119.282 121.393 71.535 149,8% 2.111 1,8%
II Nguồn vốn 225.758 520.189 499.708 294.431 130,4% (20.481) (3,9%)
1 Nợ phải trả 190.016 405.039 380.216 215.023 113,2% (24.823) (6,1%)
2 Vốn chủ sở hữu 35.743 115.149 119.492 79.406 222,2% 4.343 3,8%
Nguồn: Phòng Kế toán Cty Caseamex
Qua bảng số liệu bên trên ta thấy được sự thay đổi sâu sắc về tổng tài sản và tổng
nguồn vốn của công ty giữa 2 năm 2006 và 2007, cụ thể là tổng tài sản và nguồn vốn
năm 2007 đã tăng lên hơn 294 tỷ đồng, tăng trưởng hơn 230% so với cùng kỳ năm
2006; có được điều này cho do chính sách của công ty đã chủ trương cổ phần hoá (đi
vào hoạt động từ 1/7/2006) doanh nghiệp, tạo điều kiện hội nhập và mở rộng kinh
doanh cho công ty, bằng chứng là vốn chủ sở hữu năm 2007 đã có bước nhảy vọt thần
kỳ đạt tăng trưởng 322% tăng hơn 79 tỷ đồng sao với năm trước đó, tạo điều kiện cũng
như cơ hội mới trong thời kì hội nhập. Chính điều này đã giải thích lý do vì sao doanh
thu và sản lượng trong năm này tăng khá cao và vượt mức như vậy.
Sau khi cổ phần hoá, công ty Caseamex dần đi vào quỹ đạo ổn định. Tuy nhiên,
năm 2008, dưới sự ảnh hưởng cục bộ của cơn bão suy thoái tài chính vào cuối năm đã
làm tổng tài sản và nguồn vốn của Công ty dao động và giảm nhẹ, cụ thể là đã giảm
3,9% tương đương khoản hơn 20 tỷ đồng.
Nhìn chung, qua bảng số liệu ta thấy được quy mô của Công ty đã ngày càng được
mở rộng dưới sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế chung của cả nước. Điều này thể
tố khác ảnh hưởng đến lợi nhuận. Vậy chúng ảnh hưởng như thế nào? Để trả lời câu hỏi
trên, chúng ta sẽ nghiên cứu thêm ở chương sau!
Bảng 8. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY TRONG 3 NĂM (2006 - 2008)
Đvt: triệu đồng
CHỈ TIÊU 2006 2007 2008
SO SÁNH
2007/2006 2008/2007
Doanh thu thuần 366.395 591.667 277.415 225.272 61,5%
(314.252
)
(53,1%)
Giá vốn hàng bán 319.270 528.630 238.703 209.360 65,6%
(289.927
)
(54,9%)
Lợi nhuận gộp 47.125 63.037 38.712 15.912 33,8% (24.325) (38,6%)
Doanh thu HĐTC 1.616 (1.154) 2.637 (2.770) (171,4%) 3.791 328,5%
Chi phí tài chính 7.327 20.141 17.067 12.814 174,9% (3.074) (15,3%)
Chi phí bán hàng
và QLDN
22.606 27.847 15.140 5.241 23,2% (12.707) (45,6%)
Lợi nhuận thuần từ
HĐKD
18.808 13.895 9.143 (4.913) (26,1%) (4.752) (34,2%)
Lợi nhuận khác (52) 570 358 622 1.196,2% (212) (37,2%)
Tổng lợi nhuận
trước thuế
18.757 14.465 9.501 (4.292) (22,9%) (4.964) (34,3%)
Chi phí thuế TNDN 2.814 2.170 1.425 (644) (22,9%) (745) (34,3%)
được phần nào các khoản vay. Đến năm 2007 và 2008 - hai năm đầu tiên hoạt động
dưới hình thức cổ phần, lúc này khoản phải trả nội bộ được thay thế bằng khoản vay
trực tiếp từ ngân hàng mà không thông qua Công ty như trước nữa, tổng vay ngắn hạn
Giá vốn 89,4%
Giá vốn 86,1%Giá vốn 87,1%
năm tăng cao làm cho khoản chi phí tài chánh cũng tăng cao, mức tăng trưởng của hai
năm 2007 và 2008 xấp xỉ 200% sao với năm 2006.
Về chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, nhìn chung thị trường tiêu thụ của
công ty chủ yếu là hàng xuất khẩu nên khoản chi phí về bán hàng chủ yếu chỉ là chi phí
vận chuyển hàng hoá nên khi kim ngạch xuất khẩu tăng thì chi phí này tăng và ngược
lại. Qua bảng 8 ta thấy năm 2007 chi phí này tăng so với năm 2006 là 23,2% do sau khi
cổ phần hoá đã có sự thay đổi cơ cấu và cách quản lý, bên cạnh đó là kim ngạch xuất
khẩu tăng nên chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp tăng. Đến năm 2008, công ty
đã củng cố và cải cách cơ cấu bộ máy quản lý, có chính sách cắt giảm chi phí nên năm
này đã giảm 45,6% khoản hơn 12 tỷ đồng.
Do nguồn thu chủ yếu của công ty là ngoại tệ nên doanh thu hoạt động tài chính
của công ty luôn không ổn định, thường bị ảnh hưởng bởi sự chênh lệch tỷ giá sau khi
bán ra và thu vào. Cụ thể năm 2006 và 2008 lời hơn 1 tỷ và 2 tỷ từ việc biến động của
tỷ giá nhưng năm 2007 lại lỗ hơn 1 tỷ cũng từ sự biến động. Do doanh thu hoạt động tài
chính có được do chênh lệch tỷ giá và lãi từ tiền gửi ngân hàng nên không có khoản chi
phí cho hoạt động này. Với điều kiện và môi trường kinh tế năng động hiện nay, ngày
càng có nhiều cơ hội đầu tư hơn thì Công ty cũng nên có chủ trương đầu tư nhiều hơn
cho hoạt động này để mang lại khoản lợi nhuận hoạt động tài chính cao hơn bên cạnh
hoạt động kinh doanh hiện nay.
4.2.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là kết quả giữa Doanh thu hoạt động tài chính và
Chi phí tài chính (chi phí lãi vay) đã đề cập ở phần trên. Vì khoản chi phí lãi vay lớn
hơn rất nhiều so với khoản thu từ hoạt động tài chính nên chỉ tiêu lợi nhuận này luôn là
số âm, tức là làm giảm lợi nhuận chung của công ty:
Bảng 9. LỢI NHUẬN THEO CƠ CẤU TRONG 3 NĂM (2006 - 2008)