TÌNH HÌNH HOẠT ĐÔNG KINH DOANH VÀ THỰC HIỆN LỢI
NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO
THÔNG 118
2.1. Khái quát chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty
cổ phần xây dựng công trình giao thông 118
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần xây
dựng công trình giao thông 118
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 là một doanh nghiệp
được chuyển đổi hình thức sở hữu từ một doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán
độc lập, thuộc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông I Bộ- GTVT.
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 được thành lập và
hoạt động vào ngày 01 tháng 01 năm 2002. Công ty (trước đây) được thành lập
tháng 10/1982 có nhiệm vụ tiếp cận một phần máy móc, thiết bị do Liên Xô
viện trợđể thi công các công trình đường sắt, đường bộ thuộc khu đầu mối và
vành đai Hà Nội.
Sau khi hoàn thành khu đầu mối phía nam cầu Thăng Long, Công ty đã
tham gia thi công nhiều công trình trọng điểm của Quốc gia như: Đường Bắc
Thăng Long- Nội Bài, Quốc lộ 5, Quốc 18, Quốc lộ 32, Quốc lộ 21…
Từ năm 1999 đến nay, Công ty đãđổi mới mạnh mẽ và toàn diện ở tất cả
mọi mặt: Con người, thiết bị, công nghệ, hệ thống quản lý, ngành nghề… Đã
tạo ra những bước tiến nhảy vọt. Sau 4 năm đổi mới, sản lượng năm 2002 đã
tăng gần 20 lần so với năm 1998. Đã phát triển thêm nhiều ngành nghề mới,
nhiều thị trường mới và có một nền tài chính ổn định, lành mạnh.
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 được Quyết định
thành lập số 528/2001/QĐ/BGTVT, giấy phép đăng ký kinh doanh số
0103000738 ngày 14/1/2002. của UBNDTP Hà Nội, với thời gian hoạt động là
50 năm, vốn điều lệ:10.000.000.000đ (do cổđông sáng lập). Tỷ lệ vốn Nhà
nước: 28,0%, tỷ lệ vốn cổđông trong và ngoài doanh nghiệp: 72%.
Trụ sở chính của Công ty đóng tại: Cầu Diễn- Từ Liêm- Hà Nội.
Hiện nay Công ty đã vàđang thi công đồng thời các dựán lớn trong cả
nước như:
giao thông 118:
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 là một doanh nghiệp
được chuyển đổi hình thức sở hữu từ một doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán
độc lập, thuộc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông I Bộ- GTVT, có
giấy phép hành nghề thi công xây lắp các công trình trong phạm vi toàn quốc.
Công ty đang hoạt động trong các ngành nghề kinh doanh sau:
+ Xây dựng các công trình giao thông trong cả nước ( bao gồm: Cầu,
Đường, Sân bay, Bến cảng, San lấp mặt bằng ).
+ Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, thuỷ lơị vàđường điện
dưới 35KV.
+ Nạo vét, bồi đắp mặt bằng, đào đắp nền, đào đắp công trình.
+ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cụm dân cư, đô thị, giao thông vận tải.
+ Khai thác khoáng sản và kinh doanh vật liệu xây dựng, cấu kiện thép,
cấu kiện bê tông đúc sẵn, bê tông nhựa.
+ Sửa chữa xe máy, thiết bị thi công, gia công cơ khí.
+ Tư vấn thiết kế, thí nghiệm vật liệu, đầu tư giám sát các công trình
không do Công ty thi công.
+ Kinh doanh bất động sản.
+ Buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng.
+ Vận tải hành khách hàng hoá.
+ Kinh doanh dịch vụ khách sạn, du lịch, vui chơi giải trí…
2.1.3. Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.3.1. Đặc diểm tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh.
Hiện nay, Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 tổ chức
lực lượng lao động, Công ty có một chi nhánh phía nam (TPHCM). Cả chi
nhánh lẫn Công ty đã tổ chức hạch toán riêng, còn các đội xây dựng Công ty
không có tổ chức kế toán riêng.
- Hình thức sở hữu vốn: Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông
118 có hình thức sở hữu vốn theo vốn cổ phiếu. Và có hình thức hoạt động theo
một Công ty cổ phần.
tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001 - 2000. Phán đấu được cấp chứng chỉ vào giữa
năm 2003.
Phó giám đốc điều hành
BANKIỂMSOÁT
Phó giám đốc điều hành Phó giám đốc điều hành
GIÁMĐỐCĐIỀUHÀNH
HỘIĐỒNGQUẢNTRỊ
Các đơn vị sản xuất
Bộ máy quản lý
Xưởng sửa chưaCác đội thi công độc lậpCác BĐH dựán
Các đội thi công
Văn phòngPhòng tài chính kế toánPhòng kinh tế thị thườngPhòng quản lý thiết bịPhòng kỹ thuật công nghệChí nhánh phía Nam
SƠĐỒ 1 - CƠCẤUTỔCHỨCBỘMÁYQUẢNLÝCỦA
CÔNGTYCỔPHẦNXÂYDỰNGCÔNGTRÌNHGIAOTHÔNG 118
- Đại hội đồng quản trị: là cơ quan có quyền lực cao nhất trong công ty
cổ phần.Đại hội đồng cổđông thường niên do hội đồng quản trị triệu tập họp
mỗi năm một lần để thông qua báo cáo tài chính và thông qua định hướng phát
triển của công ty.
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân
danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của
Công ty như quyết định chiến lược phát triển Công ty, quyết định phương án
đầu tư… (trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng).
- Ban kiểm soát: Có chức năng kiểm tra tính hợp lý và hợp pháp trong
quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh trong ghi chép sổ kế toán và Báo cáo
tài chính, thường xuyên thông báo với hội đồng quản trị về kết quả hoạt động,
tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị khi trình các báo cáo kết luận và kiến
nghị lên Đại hội đồng cổđông.
- Giám đốc: Là người có quyền điều hành cao nhất trong Công ty, chịu
trách nhiệm chính và có quyền cao nhất về công việc sản xuất kinh doanh. Giám
đốc là chủ tài khoản, thực hiện việc trả lương cho cán bộ công nhân viên. Sự
năm, cho các trang thiết bị. Lập kế hoạch khấu hao mua sắm bổ sung trang thiết
bị phục vụ sản xuất của công ty. Quản lý về công tác khoa học công nghệ.
+ Phòng kỹ thuật công nghệ: Hướng dẫn khoa học kỹ thuật và tiếp thu
công nghệ mới áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đề xuất vận dụng khoa học tiên tiển
trong sản xuất kinh doanh. Cùng phòng tổ chức lao động xây dựng chương trình
đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân.
+Chi nhánh phía nam: Làđại diện cho Công ty, có trụ sở tại Thành Phố
Hồ Chí Minh.
2.1.3.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán.
Để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ vàđặc điểm kinh doanh ởđơn vị
mình, Công ty xây dựng công trình giao thông 118 đã tổ chức bộ máy kế toán
theo hình thức vừa tập trung vừa phân tán. Theo hình thức này, Công ty chỉ lập
một phòng kế toán duy nhất để thực hiện toàn bộ công việc kế toán tài chính,
thông kê theo cơ chế tổ chức phòng kế toán ở nước ta hiện nay.
Còn tại các phòng,ban, đơn vị trực thuộc thì chỉ bố trí các nhân viên hạch
toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận và kiểm tra chứng từ ban đầu để
hàng ngay hoặc định kỳ ngắn chuyển chứng từ về phòng kế toán để phòng kế
toán kiểm tra ghi sổ kế toán. Hình thức này tạo điều kiện thuận lợi cho việc
kiểm tra chỉđạo nghiệp vụ của kế toán trưởng cũng như của lãnh đạo Công ty
đối với toàn bộ cong tác kế toán nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung.
Phòng tài chính kế toán của Công ty gồm 7 người:
- Kế toán trưởng
- Kế toán tổng hợp
- Kế toán thanh toán
- Kế toán ngân hàng
- Kế toán tài sản cốđịnh
- Kế toán thuế
- Thuỷ quỹ
Giữa họ có mối quan hệ qua kại chặt chẽ xuất phát từ sự phân công phụ
Vật liệu mua về nhập
kho của Công ty
Bàn giao công trìnhHoàn thiện công trình
Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118 là một Công ty cổ
phần, cung cấp thiết bị giao thông, tương đối lớn so với các công ty khác cùng
ngành. Với đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, lành nghề, giàu
kinh nghiệm và luôn được bồi dưỡng cập nhật các kiến thức mới nhất về kinh
tế, kỹ thuật và quản lý. Công ty đã vàđang có rất nhiều đối tác cũng như thị
trường hoạt động. Trong năm 2003, với sự cố gắng nỗ lạc vượt bậc Công ty cổ
phần xây dựng công trình giao thông 118 tổ chức xây dựng gần 100 công trình
bao gồm các công trình năm trước chuyển sang. Doanh thu năm 2003 đã tăng
rõ rệt so với năm 2002, với tốc đội tăng 53,4%. Kết quả này đẫ phần nào khẳng
định sự năng động trong cách thức quản lý của Công ty.
2.1.5. Tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty:
2.1.5.1.Kết quả tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trong một số
năm gần đay (2003 - 2004):
Nhìn chung, Công ty thực hiện tốt nhiệm vụ kế hoạch sản xuất năm 2004
cho dù lợi nhuận trước thuế giảm. Tuy nhiên, trong điều kiện khó khăn như vậy
nhưng Công ty vẫn làm ăn có lãi vàđàm bảo đời sống cho cán bộ công nhân
viên trong Công ty. Chung ta đã biết đây là kết quảđáng mừng và nó thể hiện
phần nào sự phấn đấu, nỗ lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên của Công ty
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. (Bảng 3: Một số chỉ tiêu phản ánh kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong 2 năm qua 2003 và
2004).
2.1.5.2. Tình hình tài chính của Công ty trong năm 2004:
Tính đến cuối năm 2004, tổng nguồn vốn kinh doanh của Công ty là:
Sốđầu kỳ 9.351.773.352đ trong đó nợ phải trả chiếm 45,83%, nguồn vốn chủ sở
hữu chiếm 22,09%. Nghĩa là cứ trong 1đ vốn kinh doanh của Công ty thì có
10.358.764.526đ . Như vậy ta có thể thấy hệ số nợ của Công ty là cao, nó có tác
dụng khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu và các nhà quản lý có thể sử dụng
- Các khoản phải trả NH khác 2.459.224.712 1.932.564.152
- Phải trả cho các đơn vị NB 10.900.671.452 6.030.229.450
- Nợ dài hạn 44.232.328.948 56.534.946.194
- Vay dài hạn 44.232.328.948 56.534.946.194
II Nguồn vốn chủ sở hữu 9.832.222.477 13.374.736.372
1. Nguồn vốn kinh doanh 9.351.773.352 11.365.755.700
- Vốn góp 8.500.000.000 9.785.000.000
- Thặng dư vốn góp 257.000.000
- Vốn khác 809.344.655 809.344.655
- Quỹ phát triển kinh doanh 22.428.697 514.411.045
2. Các quỹ của DN 300.499.125 603.838.528
Trong đó: QKTPL 221.081.614 207.209.620
3. Lợi nhuận chưa phân phối - 1.405.142.144
Cộng Nguồn vốn 152.601.417.874 221.577.551.934
Vậy để biết được tình hình tài chính của Công ty, ta phải phân tích qua
các chỉ số sau: Để biết đến khả năng thanh toán của công ty cổ phần xây dựng
công trình giao thông 118
Về Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
== = 1,068 >1
= = 1,064 >1
Qua hệ số khả năng thanh toán tổng quát của cả hai năm cho chúng ta
thấy, trong năm 2003, cứ 1 đồng nợ ngắn hạn và dài hạn thìđược đảm bảo bằng
1,068 đồng Tổng tài sản, con số này trong năm 2004 là 1,064 đồng đã giảm
0,004 gía trị tài sản đảm bảo với tỷ giảm là 0,37%. Nhưng sự sụt giảm đôi chút
giữa chỉ số này trong hai năm là do trong năm khoản Nợ phải trả tăng gần với
sự gia tăng của Tổng tài sản. Điều này cũng chứng tỏ Tổng tài sản của Công ty
là phần là hình thành từ nguồn vốn bên ngoài, việc này có thểảnh hưởng đến
khả năng thanh tóan đến hạn đặc biệt là khỏan Vay ngắn hạn. Vậy Công ty cần
có biện pháp hữu hiệu hơn trong việc quản lý các khoản này. Song ta có thể
thấy khả năng thanh toán của Công ty là chưa an toàn nhưng cũng có thể chấp
thanh toán nợ. Còn trong năm 2004 Công ty phải cần 1/0,98 = 1,02 giá trị Tài
sản lưu động vàđầu tư ngắn hạn mới có thể giải phóng được 1 đồng nợ.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là tiêu chuẩn khắt khe hơn về khả năng
thanh toán Nợ ngắn hạn so với Hệ số khả năng thanh toán tổng quát và Hệ số
khả năng thanh tóan Nợ ngắn hạn. Hệ số này phản ánh tốc độ thanh toán ngay
đối với các khoản nợ ngắn hạn đến hạn. Hệ số này trả lời cho câu hỏi khi các
khoản Nợ ngắn hạn đến hạn trả thì với tình hình tài chính của doanh nghiệp hiện
tại thì doanh nghiệp có trảđược ngay và trả hết được hay không?
= = 0,7 <1
Hệ số khả năng thanh
toán ngắn hạn năm 2003
102.394.017.20
98.536.866.44
Hệ số khả năng thanh
toán ngắn hạn năm 2004
149.166.366.88
151.667.869.36
102.394.017.207 -
Hệ số khả năng thanh
toán nhanh năm 2003
98.536.866.449
= = 0,67 <1
Ở Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 118, hệ số khả năng
thanh tóan nhanh đầu năm 2004 là 0,7, hệ số này trong năm 2003 là 0,68 tức
làđã giảm 0,02 lần với tỷ lệ giảm là 2,94%. Nguyên nhân là do hàng tồn kho
tăng 14.010.028.455 đồng với tỷ lệ tăng là 42,3% và cũng trong năm 2004 Tổng
số nợ ngắn hạn đã tăng khá lớn là 53.130.982.919 đồng với tỷ lệ tăng 54%.
Như vậy hệ số khả năng thanh toán nhanh khá thấp và có xu hướng giảm
trong năm 2004, điều này Công ty phải nhanh chóng tìm biện pháp đưa hệ số
Nguyên nhân ảnh hưởng khác có thể là do nhìn thấy lãi suất tiền gửi ngân hàng
khá thấp nên trong năm 2004 Công ty đã tăng khoản Đầu tư ngắn hạn là
20.814.100.000 đồng (trong năm 2003 khoản này thì không có) để có thể mang
lại hiệu quả cao hơn.
Cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Chỉ số cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư này được sử dụng đểđo lường
phần tài trợ của các chủ nợđối với doanh nghiệp. Nó cóý nghĩa rất quan trọng
trong việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Các nhàđầu tư sẽ xem
xét số vốn đểđánh giá mức độ an toàn cho đồng vốn của họ. Nếu chủ sở hữu
đóng góp phần nhỏ trong tổng vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp chủ yếu do các chủ nợ gánh chịu.
Hệ số nợ
Chỉ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối
với chủ nợ trong việc góp vốn. Xét trên quan điểm của đơn vịđi vay thì họ thích
hệ số nợ cao bởi vì lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát
doanh nghiệp. Song nếu hệ số nợ quá cao thì công ty dễ rơi vào tình trạng mất
khả năng thanh toán.
Chúng ta xem xét cơ cấu vốn của Công ty cổ phần xây dựng công trình
giao thông 118.
= =0,93 hay 93%
= =0,94 hay 94%
Trong năm 2003, hệ số nợ của Công ty chiếm trong tổng nguồn vốn là
93% con số này trong năm 2004 là 94% tức làđã giảm tăng lên 1%. Nguyên
nhân chủ yếu là do trong năm 2004 Nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty chỉ tăng
3.542.513.895 đồng vởi tỷ lệ tăng là 36% và chiếm tỷ trọng 6% giảm 1% so với
năm 2004, trong khi đó Nợ phải trả lại tăng quá lớn. Trong năm 2004 khoản Nợ
phải trả là 65.433.620.165 đồng với tỷ lệ tăng là 45,83% và chiếm tỷ trọng 94%
tăng 1% so với năm 2003. Mặt khác, Công ty cổ phần xây dựng công trình giao
142.769.195.39
Hệ số nợ năm 2003
Chỉ tiêu này cho này phản ánh trình độ sử dụng vốn của Công ty. Nó cho
biết trong tổng tài sản của Công ty thì có bao nhiêu đồng được đầu tư vào Tài
9.832.222.477
Tỷ suất tự tài
trợ năm 2003
152.601.417.87
Tỷ suất tự tài
trợ năm 2004
13.374.736.372
221.577.551.93