SKKN hay: Nâng cao hiệu quả cho tiết dạy tập đọc lớp 2 - Pdf 22

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN ÂN THI
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG HOA THÁM
'&'

Lĩnh vực: Tiếng Việt / Phân môn: Tập đọc lớp 2
Họ và tên: Đàm Thị Ngân
Chức vụ: Tổ trưởng CM tổ 2 + 3
Tài liệu đính kèm:

====================
T&
Năm học : 2013 - 2014 &T======================
1
MỤC LỤC:
PHẦN I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG Trang
I-ĐẶT VẤN ĐỀ 3
II- THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC HIỆN NAY
4
1. Về phía giáo viên 4
2. về phía học sinh 6
III- PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 7
1. Một số cơ sở lý luận và thực tiễn 7
1.1. Cơ sở tâm sinh lý học 7
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học 8
1.3. Cơ sở thực tiễn 8
2. Đề xuất biện pháp tiến hành 9
PHẦN II - NỘI DUNG

6. Phương pháp sử dụng các trò chơi học tập 31
7. Đổi mới phương pháp dạy học phải vận dụng quan điểm tích hợp 32
V- TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG GIỜ TẬP ĐỌC 32
2
LỚP 2
VI- MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY TẬP ĐỌC LỚP 2 (& LỚP 3) 35
VII- THỰC NGHIỆM 36
1. Mục đích thực nghiệm 36
2. Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 37
3. Nội dung thực nghiệm 37
4. Kết quả thực nghiệm 37
PHẦN III - KẾT LUẬN
I- BÀI HỌC KINH NGHIỆM 38
II- ĐỀ XUẤT 40
1. Đối với giáo viên 40
2. Đối với nhà trường 40
LỜI KẾT
PHẦN I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I- ĐẶT VẤN ĐỀ:
- Môn Tiếng việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong
bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc
là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời
nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình
chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh
(ứng với đọc thầm). Hai mảng này có liên quan với nhau bởi vì đọc thành tiếng
đúng thì mới hiểu và ngược lại có hiểu mới đọc đúng, đọc hay.
- Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hoá khoa học,
tư tưởng tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu

khoa Tiểu học và dự kiến sẽ còn tiếp tục thay đổi trong những năm tiếp theo, thì
mọi vấn đề về giáo dục phải ngày càng được phát triển, đổi mới không ngừng. Do
4
vậy, đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học hỏi để theo kịp sự phát triển và
đổi mới của xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những giáo viên luôn có ý thức học hỏi,
trau dồi kiến thức, tích cực tìm ra phương pháp dạy học mới để đạt được kết quả
cao nhất, vẫn còn nhiều giáo viên còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ nên chưa
tiếp cận được hết những phương pháp dạy học mới. Một số giáo viên còn trung
thành và có thói quen dạy theo phương pháp cũ. Khi tiếp cận với phương pháp dạy
học mới giáo viên thường quan niệm: trong các tiết dạy phải có hệ thống câu hỏi
và buộc học sinh trả lời các câu hỏi ấy. Như vậy yêu cầu học sinh dùng một
phương pháp thực hành nhiều cho nhớ và giáo viên khi dạy ít quan tâm đến đặc
điểm tâm lí của các em học sinh tiểu học đó là “ Học mà chơi, chơi mà học”, các
em khi học rất dễ nhớ nhưng cũng rất nhanh quên.
Qua điều tra thực tế, tôi thấy rằng việc dạy đọc bên cạnh những thành công
còn có những hạn chế: giáo viên chưa hiểu khái niệm “ đọc” một cách đầy đủ, khi
dạy chưa bám sát vào mục đích, yêu cầu của từng bài. Do vậy họ chưa đạt được
mục tiêu của một giờ tập đọc. Có những người cho rằng dạy tập đọc là chủ yếu
dạy cho các em đọc to, rõ ràng là được. Phương pháp dạy tập đọc của giáo viên có
dạy theo đoạn, có các kiểu câu hỏi khác nhau song hình thức luyện đọc chỉ đơn
thuần là đọc. Việc sử dụng đồ dùng còn hạn chế , giáo viên còn dạy “chay” chưa
coi những phương tiện trực quan là cần thiết trong việc luyện đọc.
Bên cạnh đó, giáo viên vận dụng quy trình còn máy móc, dạy còn theo sách
giáo viên, sách thiết kế, bài soạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phương.
Một số giáo viên chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc đọc mẫu, đọc còn
sai nhiều, khi hướng dẫn kĩ thuật đọc chưa hướng dẫn tỉ mỉ, tận tình cho học sinh,
nhất là học sinh yếu. Cần đọc bài tập đọc ( bài văn, bài thơ) như thế nào, làm thế
nào để chữa lỗi phát âm cho học sinh, làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh
hơn, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn, diễn cảm hơn. Làm thế nào để hiểu
được “văn”, làm sao để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu, với cách dạy như

những chỗ ngắt, nghỉ, các em còn chưa hiểu chỗ nào cần lên giọng, chỗ nào cần
xuống giọng. Khi đọc câu hỏi, giọng đọc của các em còn đều đều chưa toát lên
6
được nội dung câu hỏi. Khi đọc các đoạn văn có câu hội thoại, các em chưa phân
biệt được giọng của nhân vật và giọng của người dẫn chuyện.
Thực tế cho thấy, chất lượng đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu
của việc hình thành kỹ năng đọc. Những học sinh do mang âm hưởng của tiếng địa
phương nên phát âm còn sai lỗi chính tả. Các em còn đọc sai chính âm. Với học sinh
vùng Hưng Yên còn sai nhiều đối với phụ âm đầu như : s/x; ch/tr; d/r, và các vần
anh/oanh, iu/ ưu; iêu/ ươu Một số em còn đánh vần, đọc nhỏ, đọc lí nhí, đọc chưa
đúng các tiếng có vần khó: ưu, ươu, ăt/ăc/ăp, còn bỏ sót tiếng hoặc thêm tiếng; bỏ
dấu thanh hoặc thêm dấu thanh một cách tuỳ tiện. Do các em chưa mạnh dạn nên
đọc phân biệt các lời của nhân vật trong bài chưa đạt yêu cầu, còn đọc với giọng
đều đều.
Bên cạnh đó, do các em vừa học ở lớp 1 lên, do đó kỹ năng đọc của các em
còn chậm, chưa đạt yêu cầu, một số em chưa nhận diện được mặt chữ cái vì hổng
kiến thức phần học vần ở lớp 1. Ở nhà các em không học bài, không ôn lại nội
dung bài học ở lớp nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập nói chung
và chất lượng đọc nói riêng.
Xuất phát từ thực trạng và cũng là những nguyên nhân vừa nêu trên, trong
luận văn này tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả trong tiết dạy tập
đọc lớp 2”.
III- PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
1. Một số cơ sở lý luận và thực tiễn:
1.1. Cơ sở tâm sinh lý học:
Để tổ chức giờ đọc cho học sinh chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắm
bản chất kỹ năng đọc. Đặc biệt là tâm sinh lý của học sinh khi đọc là cơ sở của
việc dạy đọc.
- Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin
bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác.

đánh vần để phát âm, còn nghĩa thì chưa đủ thì giờ và sức lực mà nhận biết. Mặt
khác, do vốn từ và năng lực liên kết thành câu thành ý còn hạn chế, nên việc hiểu
8
nội dung còn khó khăn. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thành năng lực
đọc hiểu cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng.
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học:
- Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ học. Nó liên quan
mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính âm, chính tả, chữ
viết, ngữ điệu, nghĩa của từ, câu, đoạn.
- Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên cơ sở nghiên cứu của ngôn ngữ
học. Bốn tiêu chí của kỹ năng đọc (đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc
diễn cảm) cũng không thể tách rời những cơ sở ngôn ngữ học. Không coi trọng
đúng mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không đảm bảo
hiệu quả dạy học.
1.3. Cơ sở thực tiễn:
* Về phía giáo viên:
- Đa số giáo viên nhiệt tình trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ, song trình độ
giáo viên không đồng đều, do không có điều kiện học tập để nâng cao trình độ.
Giáo viên chủ yếu dựa vào sách giáo viên, thiết kế để dạy, có giáo viên chưa xác
định đúng mục tiêu nội dung bài dạy, chưa nắm vững phương pháp dạy học nên
trong quá trình dạy học thường diễn ra một cách máy móc rập khuôn, chưa có
sáng tạo, chưa phân phối thời gian hợp lý cho từng hoạt động, chưa biết cách phối
hợp các hình thức tổ chức dạy học. Vai trò làm mẫu cho học sinh chưa chuẩn,
hướng dẫn học sinh đọc chưa cụ thể, có một số câu hỏi còn áp đặt, chưa quan tâm
đến tất cả các đối tượng học sinh.
* Về phía học sinh:
Các em học sinh Ân Thi nói chung và học sinh Hoàng Hoa Thám nói riêng
hầu hết là con em nông dân nên tiếp xúc với các hoạt động xã hội còn hạn chế,
cách phát âm còn lệch chuẩn (theo phương ngữ địa phương, theo thói quen, ) nên
có ảnh hưởng đến việc dạy học kỹ năng đọc. Đọc ngắt nghỉ hơi chưa đúng, học

kiến thức đời sống giáo dục tình cảm, thầm mĩ. Tập đọc là môn khởi đầu, đồng
10
thời cũng là công cụ học tập không chỉ trong nhà trường mà còn trong cuộc sống
nói chung. Trước hết môn tập đọc giúp cho học sinh rèn kĩ năng đọc đúng, ngắt
giọng, nhấn giọng , đọc diễn cảm một bài văn, khổ thơ làm tiền đề cho việc tìm
hiểu bài. Các quá trình đó có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho
nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được tri thức văn hóa của dân tộc, tiếp
thu nền văn minh của loài người thông qua sách vở, biết đánh giá cuộc sống xã
hội, tư duy. Qua hoạt động học, tình cảm thẩm mĩ của các em được nâng cao nên
tầm hiểu biết để nhìn ra thế giới xung quanh và quá trình nhận thức của các em có
chiều sâu hơn. Đọc đúng, đọc hay cũng là kĩ năng của ngôn ngữ văn học. Qua đó
có tác động đến tình cảm, đạo đức cao đẹp cho người học sinh. Đồng thời phát
huy óc sáng tạo và khả năng tư duy như quá trình phân tích tổng hợp cho các em.
2. Xuất phát từ thực tế dạy học:
Qua nghiên cứu thực tế tôi thấy rằng chất lượng dạy tập đọc ở tiểu học chưa
cao nguyên nhân là do nhiều lượng kiến thức giáo viên còn áp đặt, nặng nề, truyền
đạt còn quen sử dụng phương pháp truyền thống, ít gợi ý để học sinh khám phá,
tìm hiểu. Khả năng đọc của một số giáo viên còn hạn chế, có những cách hiểu và
cách giải dẫn đến hiệu quả đạt được trong giờ tập đọc chưa cao. Học sinh còn học
tập một cách thụ động dẫn đến giờ học trở nên khô khan, tẻ nhạt.
Khi dạy học, giáo viên thường dựa trên hướng dẫn của sách giáo viên bằng
phương thức giáo viên hỏi - học sinh trả lời. Điều đó đã bộc lộ nhiều nhược điểm
trong việc quản lí lớp cũng như khả năng kích thích hứng thú học tập của học sinh
tham gia tìm hiểu, xây dựng bài. Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọc cho học
sinh còn hạn chế dẫn đến sau một giờ, một bài học sinh ít có khả năng đọc hay,
diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đủ. Học sinh không quan tâm tới
phương pháp đọc của mình. Do đó, các em rất yếu về năng lực.
3. Xuất phát từ nhu cầu nâng cao nghiệp vụ chuyên môn:
Phân môn Tập đọc có nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc cho học sinh. Đọc là một
hoạt động của lời nói, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói âm thanh , là

+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.
12
III- ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng chung: Học sinh khối lớp 2.
- Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 2A-Trường tiểu học Hoàng Hoa
Thám, huyện Ân Thi, Tỉnh Hưng yên.
- Đối tượng đối chứng: Học sinh lớp 2C-Trường tiểu học Hoàng Hoa
Thám, huyện Ân Thi, Tỉnh Hưng yên
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm ra biện pháp đọc đúng, đọc hay tốt nhất để giúp học sinh học tốt phân môn
Tập đọc.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được mục đích rèn đọc cho học sinh tôi đã sử dụng một số phương pháp
sau:
1. Thu thập tài liệu, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài, tìm hiểu
sách giáo khoa Tiếng Việt 2, sách giáo viên, thiết kế Tiếng Việt 2.
2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với học
sinh, giáo viên. Dùng phiếu thăm dò.
3. Phương pháp trao đổi và toạ đàm với đồng nghiệp.
4. Dạy thực nghiệm:
Để minh hoạ cho các giải pháp và các phương pháp đã nêu ở trên tôi đã chọn và
dạy bài: Cây xoài của ông em ( Tuần 11/TV2/Tập 1/Tr.89).
5. Kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm.
IV- CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO TIẾT DẠY TẬP
ĐỌC LỚP 2:
Trên cơ sở lí luận của việc dạy học nói chung và dạy môn Tập đọc nói
riêng. Tôi nhận thấy thực tiễn dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học ở tiểu
học. Để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm có trong thực tế, tôi
13

giờ dạy càng có hiệu quả bấy nhiêu. Để xác định mục tiêu, nội dung dạy học
chúng ta phải trả lời được: Sau giờ học học sinh đạt được những gì? Cụ thể đó là
trả lời các câu hỏi.
+ Học sinh cần đọc bài tập đọc trong thời gian bao lâu (để xác định tốc độ
đọc, luyện kỹ năng đọc nhanh).
+ Những từ ngữ, câu nào cần học sinh luyện đọc thành tiếng. Chúng cần
được đọc lên như thế nào và vì sao lại chọn những từ ngữ, câu đó để luyện đọc.
+ Toàn bài cần đọc với giọng điệu như thế nào, tốc độ, cường độ, cao độ,
trường độ.
+ Những từ ngữ, câu nào cần dạy nghĩa và dạy nghĩa chúng ra sao? Những
tình tiết nào của câu chuyện cần tìm hiểu và tìm hiểu chúng như thế nào?
+ Nội dung chính của bài tập đọc là gì? Ý nghĩa của bài văn, bài thơ, câu
chuyện là gì? Học sinh được giáo dục điều gì sau khi đọc bài tập đọc?
2. Chuẩn bị kỹ cho việc đọc mẫu:
Mỗi giáo viên Tiểu học nói chung và đặc biệt là giáo viên dạy lớp 2 (khối
lớp mà học sinh cần nghe đọc mẫu nhiều) phải có kỹ năng “đọc” thuần thục.
Kỹ năng đọc là mục đích cuối cùng chúng ta muốn có ở học sinh sau mỗi
giờ học. Những kỹ năng này trước hết phải có kỹ năng giải mã nghĩa, ý của văn
bản đó. Giáo viên phải tạo được hình đọc lý tưởng cũng tức là phải có kỹ năng đọc
thuần thục. Giáo viên phải đọc được bài tập đọc, từ việc biết cách xác định từ, câu
quan trọng đến việc hiểu được nghĩa, ý, tình của văn bản. Giáo viên không thể
hình thành ở học sinh kỹ năng gì mà bản thân mình không có, không thể gặt hái
được những gì mà ta không có khả năng gieo trồng. Vì vậy, trong dạy học chúng
ta không có quyền đòi hỏi học sinh làm những gì mà bản thân mình chưa hoặc
không làm được. Giáo viên không thể luyện cho học sinh đọc hay, đọc diễn cảm
khi mà bản thân mình chưa xác định được bài văn cần đọc với giọng điệu như thế
nào. Khi dạy học không có hiệu quả, nhiều giáo viên đổ lỗi cho phương pháp mà
không biết rằng “Phương pháp chỉ là hình thức của sự tự vận động bên trong của
chính nội dung”.
15

16
+ Giọng các bạn gái hồi hởi "Ái chà chà! Bím tóc đẹp quá!" (Đọc nhanh,
cao giọng ở lời khen).
+ Giọng thầy giáo vui vẻ, thân mật "Đừng khóc, tóc em đẹp lắm!" "Thật
chứ!" (Nhấn giọng từ khẳng định).
3. Rèn tốt các kỹ năng đọc:
3.1. Luyện phát âm:
Muốn học sinh đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng dẫn đến đọc diễn cảm
người giáo viên phải giúp các em phát âm chuẩn. Đọc đúng loại câu, đúng ngữ
điệu câu giúp các em tự hiểu nội dung bài. Xác định đúng loại câu, ngữ điệu, giúp
các em biết đặt mình vào vị trí của nhân vật, của tác giả. Ngoài ra, giáo viên còn
phải biết cách tổ chức một giờ học nhẹ nhàng, sinh động. Xây dựng phong trào thi
đua đọc đúng, đọc hay, kết hợp với việc rèn đọc trong tất cả các môn học khác,
giúp các em tích cực hoá việc học môn Tiếng Việt. Như chúng ta đã biết, học sinh
tỉnh Hưng Yên nói chung và học sinh tiểu học Ân Thi nói riêng khi nói và đọc đều
mắc một sai lầm là đọc ngọng, nói lẫn giữa phụ âm đầu là l- n hoặc với những
tiếng có phụ âm quặt lưỡi như s/x; r/d; ch/tr. Thậm chí khi nghe cũng không phân
biệt được đúng sai, không chỉ ở học sinh mà ngay cả giáo viên cũng vậy. Diều đó
cũng dễ hiểu khi những lỗi phát âm đó đã trở thành lỗi phát âm của cả vùng. Bên
cạnh những lỗi phổ biến đó, vẫn còn một số em đọc sai ở những lỗi khác do cấu
tạo của bộ máy phát âm. Điều này cũng làm cho các em mất tự tin khi đọc, mất đi
sự hứng thú với môn học. Mà theo quy trình dạy tập đọc lớp 2 hiện nay là:
+ Bước 1: Luyện đọc đúng.
+ Bước 2: Tìm hiểu nội dung.
+ Bước 3: Luyện đọc nâng cao ( rèn đọc hay, đọc diễn cảm).
Chính vì vậy, khi dạy Tập đọc, chúng ta phải chú ý quan tâm đến tất cả các đối
tượng học sinh trong lớp mình và phải phụ thuộc vào trình độ của học sinh, phải
hướng dẫn cho các em đọc đúng, phát âm chuẩn. Nếu học sinh đọc chưa tốt, đọc
còn ngọng, sai và ấp úng thì giáo viên phải dừng lại ở bước 1 là luyện đọc đúng.
Nếu học sinh đọc đúng, đọc tốt rồi thì giáo viên dành cho luyện đọc nâng cao

- Đọc đúng là tái hiện âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có
lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng.
18
- Đọc đúng phải thể hiện được hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng
chính âm. Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn.
Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị), ngắt nghỉ hơi
đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu) .
- Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng
Việt.
+ Đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch
+ Đọc đúng các chính âm: Có ý thức phân biệt để không đọc “anh" thành
"ăn”, “chạy nhanh” thành “chạy nhăn".
+ Đọc đúng các âm cuối
+ Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phương như lẫn thanh (~) và
thanh sắc (/) VD: Dũng => Dúng, xã => xá.
+ Đọc đúng bao gồm cả đúng tiết tấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu. Cần phải dựa
vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc
không được tách một từ làm hai.
VD: Ông già bẻ gẫy từng chiếc một/cách dễ dàng.
+ Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm:
Ví dụ không đọc: Em cầm tờ/lịch cũ
Ngày hôm qua đâu rồi.
+ Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: Mẹ
là/ngọn gió của con suốt đời:
- Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu
hơn ở dấu chấm. Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, hơi xuống
giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu
cảm, với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến
khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu.
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.

Tự xa xưa / thủa nào
Trong rừng xanh / sâu thẳm
Con ve cũng mệt / vì hè nắng oi…
20
Mẹ là ngọn gió / của con suốt đời.
Tuy nhiên, khái niệm "từ" đối với học sinh lớp 2 còn rất mờ nhạt. Nên để học
sinh thực hiện được việc ngắt giọng theo ý đồ của giáo viên (mà không có hướng
dẫn cụ thể) cũng là cả một vấn đề.
Khi đọc các bài văn xuôi cũng vậy, việc ngắt giọng phải phù hợp với dấu câu.
Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, trùng hợp với danh giới ngữ đoạn.
Trên thực tế học sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu văn dài có cấu trúc
phức tạp hoặc mắc lỗi ngay ở câu ngắn vì các em chưa nắm được quan hệ ngữ
pháp giữa các từ.
Ví dụ: Ông già bẻ bó đũa một/ cách dễ dàng.
Dê trắng thương/ bạn quá.
Bàn tay mẹ/ quạt mẹ đưa gió về.
Vì vậy trước khi giảng một bài cụ thể, giáo viên cần dự tính những chỗ học sinh
hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng.
Bên cạnh dạy học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa, ngữ
pháp còn cần phải dạy ngắt giọng biểu cảm, nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, nhằm
tập trung sự chú ý của người nghe vào những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa.
Ví dụ: Đó là chỗ ngừng lâu hơn trong các câu thơ cuối bài:
Mẹ / là ngọn gió của con suốt đời.
Một điều cần lưu ý, khi đọc các bài văn xuôi, chỗ ngắt giọng phải trùng hợp
với ranh giới ngữ đoạn. Khi đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với
chỗ kết thúc một tiết đoạn. Vì vậy, đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng nói
riêng vừa là mục đích của dạy đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh
chiếm lĩnh nội dung bài đọc. Mỗi bài đọc nhằm chỉ ra cơ sở ngữ nghĩa, ngữ pháp,
chỗ ngắt giọng. Dự tính những chỗ học sinh hay ngắt giọng sai khi đọc, cũng là
xác định những chỗ cần luyện ngắt giọng trong bài tập đọc cụ thể. Từ đó dạy đọc

Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê, a ngắc
ngứ. Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi học sinh đã đọc đúng. Đọc nhanh chỉ
thực sự có ích khi nó không tách rời việc hiểu rõ điều được đọc. Khi đọc cho
người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ nhanh nhưng để cho người
nghe kịp thời hiểu. Vì vậy, đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ chấp
22
nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói. Với học
sinh lớp 2 là khoảng 40 tiếng/phút (thời điểm cuối HKI) và khoảng 50 tiếng/phút
(thời điểm cuối năm).
* Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ
tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc
nhanh là cụm từ, câu , đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ
nhịp đọc. Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự kiểm tra
của giáo viên của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có tiếng
cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc độ đọc như thế nào còn
phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
Các kĩ năng đọc được thể hiện qua hai hình thức là đọc thành tiếng và đọc
thầm. Vì vậy, sau khi đã rèn được kĩ năng đọc đúng và đọc nhanh, điều giáo viên
cần quan tâm là rèn kĩ năng đọc thành tiếng và đọc thầm
3.4. Luyện đọc thành tiếng:
Luyện đọc thành tiếng bao gồm: Luyện đọc to, luyện đọc đúng, luyện đọc
nhanh. Đối với học sinh lớp 2 cần chú trọng khâu luyện đọc đúng. Vì học sinh có
đọc được đúng, không ê - a ngắc ngứ thì mới luyện đọc được nhanh (tốc độ đọc
vừa phải, đạt yêu cầu theo chuẩn kiến thức kĩ năng ở mỗi giai đoạn), không thể nói
ai đọc hay mà trong quá trình đọc lại phát âm chưa chuẩn, ngắt nghỉ chưa đúng
chỗ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc cần
ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35cm, cổ
và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Ở lớp khi được cô giáo gọi
đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay.

dung văn bản đọc. Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức. Kết quả của
đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là hiểu
được toàn bộ những gì được đọc. Như tâm lý ngôn ngữ học đã chỉ ra, để hiểu và
nhớ những gì được đọc, người đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng
như nhau, mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những từ “chìa khóa”, những nhóm
từ mang ý nghĩa cơ bản. Đó là những từ để giúp ta hiểu được nội dung của bài. Đó
là những từ dùng “đắt”, tạo nên giá trị nghệ thuật cho bài văn. Đó là những từ giàu
24
màu sắc biểu cảm như các từ láy, những từ đa nghĩa, những từ mang nghĩa bóng,
có sự chuyển nghĩa văn chương. Tiếp đó, cần hướng dẫn học sinh đến việc phát
hiện ra những câu quan trọng của bài. Những câu nêu ý nghĩa chung của bài.
Trong quá trình luyện đọc thành tiếng và luyện đọc thầm, giáo viên cần lưu
ý luyện cho học sinh làm chủ tia mắt khi đọc:
Trước hết, phải luyện cho học sinh không bỏ sót tiếng, không thêm tiếng, không
lạc giọng khi đọc. Đặc điểm của học sinh lớp 2 khi đọc có nhiều em còn bỏ sót
tiếng hoặc lạc giọng vì các em này chưa làm chủ được tia mắt. Với những học sinh
này, giáo viên phải quay lại với việc sử dụng que trỏ hoặc thước đặt dưới từng
dòng kẻ để đọc.
3.6. Rèn kỹ năng đọc hiểu :
Kĩ năng đọc hiểu là một kĩ năng không thể thiếu trong quá trình rèn đọc cho học
sinh. Đây là kĩ năng được rèn sau khi các em đã hoàn thiện các kĩ năng ở trên.
Rèn kỹ năng đọc hiểu chính là hình thành cho học sinh các kỹ năng:
+ Kỹ năng nhận diện ngôn ngữ (Phát hiện từ mới và phát hiện ra cái quan
trọng trong bài đọc, nhận ra các câu khó hiểu và các câu quan trọng của bài đọc).
+ Kỹ năng làm rõ nghĩa (kỹ năng làm rõ từ, nội dung bài).
+ Kỹ năng hỏi đáp để học sinh phân tích hiểu rõ nội dung bài.
Muốn học sinh có năng lực có kỹ năng đọc hiểu tốt, giáo viên phải có định
hướng, có kế hoạch sắp xếp thời gian tìm hiểu bài, thời gian luyện đọc thành tiếng
và phải coi trọng chất lượng đọc.
-Mỗi giờ lên lớp giáo viên xác định nội dung đọc hiểu cho các em. Tuỳ theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status