TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH
“CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” TẠI ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN
2008 – NAY
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.s MAI LÊ THÚY VÂN
Nhóm thực hiện: Nhóm 5 lớp K10401
Danh sách nhóm:
1. Tr ng Dim Chi K104010007
2. Th Thanh Hà K104010018
3. Phm Quang Lc K104010047
4. Trn Th Tâm K104010073
5. Nguyn Hunh Tân K104010074
6. Nguyn Th Trí K104010087
7. Nguyn Th Ánh Tuyt K104010095
Thực trạng áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại ĐBSCL giai đoạn 2008 - nay
Mục Lục
Mục Lục 2
PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ MÔ HÌNH “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” 4
1.1 Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” 4
1.2 Các mô hình tương tự tại nước ngoài 7
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN MÔ HÌNH “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2002 ĐẾN NAY 10
2.1 Một số nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của vùng Đồng bằng Sông Cửu
Long 10
2.3 Thực trạng áp dụng mô hình “ Cánh đồng mẫu lớn” ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 14
2.4 Đánh giá chung về kết quả của việc thực hiện mô hình 16
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG MÔ HÌNH “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN”.19
những nguồn tài liệu thứ cấp.
• Phương pháp định lượng từ các số liệu cụ thể đã được công bố.
• Phương pháp tổng hợp, trình bày.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu.
Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” được áp dụng từ năm 2002 – nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Quy mô: Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long
Thời gian: Giai đoạn 2002 – nay.
3
Thực trạng áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại ĐBSCL giai đoạn 2008 - nay
5. Nguồn số liệu
Tổng cục thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, FAO,…
6. Kết cấu đề tài
Bao gồm 4 chương chính:
Chương 1: Khái niệm chung về mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”.
Chương 2: Tình hình thực hiện mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” ở Đồng bằng
Sông Cửu Long giai đoan 2002 đến nay.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu
lớn”
Chương 4: Kết luận chung.
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ MÔ HÌNH “CÁNH ĐỒNG MẪU
LỚN”
1.1 Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”
1.1.1 Khái niệm
“Cánh đồng mẫu lớn” là hình thức tổ chức lại sản xuất trên cơ sở liên kết
giữa nông dân và doanh nghiệp, tập hợp những nông dân nhỏ lẻ lại hình thành một
diện tích chung, lớn, tạo điều kiện áp dụng những kỹ thuật mới và giải quyết đầu
ra ổn định và có lợi nhuận cho nông dân.
1
2
Tham khảo : Cánh đồng mẫu lớn: Lý luận và tiếp cận thực tiễn trên Thế Giới và
Việt Nam – TS Vũ Trọng Bình- http://123doc.vn/document/188658-canh-dong-
mau-lon-li-luan-va-tiep-can-thuc-tien-tren-the-gioi.htm
5
Thực trạng áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại ĐBSCL giai đoạn 2008 - nay
Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” cần sản xuất ra sản phẩm số lượng lớn và có
chung một tiêu chuẩn chất lượng, vì thế mọi hoạt động của cánh đồng cần được
chuẩn hóa và thực hiện theo một quy trình chung. Với một quy trình đồng bộ như
vậy, các hoạt động của cánh đồng từ sản xuất, quy trình kĩ thuật, quản lý, thu
hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm được thực hiện một cách tốt hơn và nông
dân có điều kiện để học hỏi kinh nghiệm và nâng cao trình độ của mình.
Sự liên kết
Đây là đặc điểm nổi bật, làm cho mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” khác biệt
so với các mô hình khác đã có trong quá khứ. Sự liên kết ở đây chỉ mối quan hệ
tương hỗ giữa người sản xuất, nhà khoa học, cơ quan quản lý, và doanh nghiệp.
Tất cả họ đều có chung một sự quan tâm “Làm thế nào để đạt hiệu quả cao
nhất ?”. Trong mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, người sản xuất (nông dân) nhận
được sự hỗ trợ của nhà khoa học trong ứng dụng khoa học kĩ thuật vào quy trình
sản xuất, người nông dân hỗ trợ nhà khoa học điều kiện tiếp xúc thực tiễn. Nhà
quản lý với vai trò là người hoạch định chính sách tạo điều kiện tốt nhất để cho mô
hình hoạt động và phát triển, tạo điều kiện cho các mối quan hệ phát triển, đảm
bảo quyền lợi của các bên. Doanh nghiệp trong mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”
đảm bảo vốn cho mô hình hoạt động, hỗ trợ quản lý, và tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường.
1.1.3 Tác động của mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” đến sự phát triển sản
xuất nông nghiệp
Cần phải nhìn thấy được những tác động của mô hình “Cánh đồng mẫu
lớn” đối với sản xuất nông nghiệp để có thể áp dụng được mô hình này một cách
thành công.
dân và thu hút nhiều người tham gia
3
.
1.2.2 Mô hình trang trại gia đình tại Mỹ
So với các quốc gia khác, nước Mỹ có lợi thế rất lớn cho sản xuất nông
nghiệp như diện tích lớn, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa… Sản xuất nông nghiệp
đã góp phần giúp cho nước Mỹ có diện mạo của ngày hôm nay.
Hiện nay tại Mỹ, sản xuất nông nghiệp hầu như được thực hiện trong các
trang trại rộng lớn. Những trang trại tại Mỹ có thể thuộc sở hữu của một gia đình,
của một doanh nghiệp hay của nhiều người cùng góp lại. Những trang trại khổng
lồ này đã tạo ra những vùng sản xuất nông nghiệp lớn cho nước Mỹ. Việc áp dụng
khoa học kĩ thuật, cải tiến máy móc… khiến sản lượng nông nghiệp của Mỹ tăng
nhanh. Và biến ngành nông nghiệp thành một ngành kinh doanh thực sự.
Tuy nhiên, tại Mỹ, người sản xuất nông nghiệp lại phải đối mặt với một
khó khăn, đó là sản xuất dư thừa. Năng suất cao làm cho sản lượng nông nghiệp
của Mỹ không ngừng tăng lên, nhưng lợi nhuận lại chẳng được bao nhiêu, do giá
thấp. Với chính sách cắt giảm trợ cấp cho nông nghiệp, các nhà sản xuất nông
nghiệp tại Mỹ cần phải thay đổi chiến lược sản xuất và kinh doanh để có thể cải
thiện tình hình
4
.
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua hai mô hình sản xuất nông nghiệp diện tích lớn ở trên, ta có thể tìm
được một số bài học kinh nghiệm cho mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại Việt
Nam như sau:
3
Tham khảo:
http://www.vca.org.vn/Default.aspx?tabid=82&CategoryID=2&News=160
4
Tham khảo : http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_useconomy_viii.html
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong hai đồng bằng lớn nhất
nước ta, cũng là một trong số những đồng bằng lớn, phì nhiêu của Đông Nam Á
và thế giới, là vùng sản xuất và xuất khẩu lương thực, vùng cây ăn trái nhiệt đới
lớn nhất Việt Nam.
Về vị trí địa lý: Đồng bằng sông Cửu Long nằm giữa một khu vực kinh tế
năng động và phát triển, liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vùng phát
triển năng động nhất Việt Nam bên cạnh các nước Đông Nam Á (Thái Lan,
Singapore, Malaixia, Philippin, Indonesia ) - những thị trường và đối tác đầu tư
quan trọng. Vùng kinh tế này cũng nằm trong khu vực có đường giao thông hàng
hải và hàng không quốc tế quan trọng, giữa Nam Á và Đông Á cũng như châu Úc
và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương. Vị trí này hết sức quan trọng quan
trọng cho giao lưu quốc tế.
Về khoáng sản: Đồng bằng sông Cửu Long có triển vọng dầu khí trong
thềm lục địa, tiếp giáp với biển Đông và Vịnh Thái Lan gồm các bể trầm tích sau:
bể trầm tích Cửu Long, Nam Côn Sơn, Thổ Chu - Mã Lai. Đá vôi có trữ lượng
khoảng 130 đến 440 triệu tấn. Đá Granit, Andesit có khoảng 450 triệu m3. Sét
gạch ngói có trữ lượng đến 40 triệu m3. Cát sỏi có trữ lượng đến 10 triệu m3/năm.
Than bùn có lượng 370 triệu tấn, trong đó U Minh khoảng 300 triệu tấn. Nước
khoáng có ở Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Minh Hải.
Về đất đai: Đồng bằng sông Cửu Long, một trong những đồng bằng châu
thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới, là một vùng đất quan trọng, sản
10
Thực trạng áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại ĐBSCL giai đoạn 2008 - nay
xuất lương thực lớn nhất nước, là vùng thuỷ sản và vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn
của cả nước. Tổng diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, không kể hải đảo, khoảng
3,96 triệu ha, trong đó khoảng 2,60 triệu ha được sử dụng để phát triển nông
nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản chiếm 65%. Trong quỹ đất nông nghiệp, đất trồng
cây hàng năm chiếm trên 50%, trong đó chủ yếu đất lúa trên 90%.
Về cơ sở vật chất: Mặc dù vẫn chưa phải là có cơ sở vật chất cao, tuy nhiên
hiện nay đồng bằng này đang rất được chú trọng phát triển và nâng cao các điều
tấn, vụ thu đông và vụ mùa đạt 3,2 triệu tấn).
Năm 2011-2012 ĐBSCL bắt đầu áp dụng mô hình "Cánh đồng mẫu lớn" và
đã đạt được những kết quả rất tốt, cụ thể của vùng như trong các vụ lúa 2011-
2012, ĐBSCL lợi nhuận thu được cao hơn so với ngoài mô hình từ 2,2- 7,5 triệu
đồng/ha. Về sản xuất lúa Đông Xuân 2012-2013, các tỉnh ĐBSCL gieo sạ 1,53
triệu ha, giảm 46.000ha so với năm 2012; năng suất 69,1 tấn/ha; sản lượng ước đạt
10,6 triệu tấn. Trong vụ này, có 13 tỉnh, thành phố đăng ký tham gia mô hình cánh
đồng mẫu lớn với tổng diện tích hơn 71.000ha, tăng 40.000ha so với vụ Hè Thu
năm 2012.
Mặt hàng nông sản:
Tổng diện tích cây ăn quả của vùng đạt khoảng gần 290 nghìn ha (chiếm
34,7% cả nước), hàng năm sản xuất ra một lượng trái cây rất lớn. Ngoài gạo và
thủy sản là mặt hai mặt hàng sản xuất và xuất khẩu lớn nhất nước, bên cạnh đó trái
cây ĐBSCL cũng chiếm một lượng lớn về sản xuất và xuất khẩu trong tổng sản
lượng trái cây của cả nước, (năm 2005 sản lượng trái cây cả nước ước đạt 6,2 triệu
tấn trong đó ĐBSCL đạt hơn 3,2 triệu tấn), đặc biệt là dứa, sầu riêng, nhãn, xoài,
chuối, thanh long, vú sửa, bưởi.
Thủy sản:
Năm 2012, vùng ĐBSCL nuôi hơn 595.000ha tôm, sản lượng hơn 358.000
tấn. Tổng diện tích nuôi cá tra toàn vùng đến cuối năm 2012 đạt 5910ha, sản
lượng hơn 1,2 triệu tấn, năng suất bình quân trên 274 tấn/ ha. Hiện nay vùng
13
Thực trạng áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại ĐBSCL giai đoạn 2008 - nay
ĐBSCL có khoảng 70 đơn vị có nhà máy chế biến cá tra, bắt đầu hình thành sự
phân hóa mạnh về năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh.
2.3 Thực trạng áp dụng mô hình “ Cánh đồng mẫu lớn” ở vùng Đồng bằng
Sông Cửu Long
Trên thực tế, mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp đã được thực hiện hơn
10 năm qua theo Quyết định số 80/2002/QĐ- TTg. Tuy nhiên, để được gọi là mô
hình “Cánh đồng mẫu lớn” và là tiền đề cho việc nhân rông mô hình phổ biến thì
Về tình hình tiêu thụ:
Năm 2010 là năm ĐBSCL đánh dấu sự tăng trưởng mạnh về sản lượng gạo xuất
khẩu, trong tổng lượng gạo xuất khẩu cả nước năm 2010 là 6,8 triệu tấn thì riêng
ĐBSCL là đóng góp đến 5,6 triệu tấn và đem về tổng kim ngạch xuất khẩu lên đến
2,6 tỷ USD trong tổng số 2,9 tỷ USD của cả nước (chiếm đến 90%). Trong đó, An
Giang là một trong những tỉnh đi đầu về sản lượng gạo xuất khẩu, ước tính kim
ngạch xuất khẩu đạt trên 29% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh, đã
góp phần đáng lể làm tăng trưởng kinh tế tại địa phương. Xuất khẩu cả năm 2010
ước tính đạt trên 530,3 ngàn tấn với tổng kim ngạch đạt gần 224,5 triệu USD tăng
16,7% về lượng, tăng 22% về trị giá so cùng kỳ năm 2009. Giá xuất bình quân cả
năm 2010 đạt 421,7 USD/tấn tăng bình quân khoảng 20 USD/tấn so với năm 2009
(Nguồn: Sở công thương An Giang, 2010).
2.4 Đánh giá chung về kết quả của việc thực hiện mô hình
Có thể thấy rằng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” ra đời chính là sự kế thừa
của nhiều mô hình trước đây với việc tổ chức và sắp xếp lại phù hợp với thực
5
Nguồn: http://langsontv.vn/node/26242
15
Thực trạng áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại ĐBSCL giai đoạn 2008 - nay
trạng, nhu cầu, phương thức tổ chức mới, vừa đáp ứng được xuất khẩu và gia tăng
lợi nhuận cho người sản xuất, vừa hướng đến mục tiêu phát triển nông nghiệp bền
vững trong tương lai. Vì thế, đây thực sự là một con đường mới khả quan hơn cho
người nông dân, song, vẫn còn tồn tại những hạn chế bên cạnh những thành tựu
cần phải xem xét và lựa chọn những giải pháp hợp lý để có thể đi thật hiệu quả
trên con đường này.
2.4.1 Thành công và nguyên nhân
Thể hiện sự hiệu quả trong việc liên kết giữa “ bốn nhà” thúc đẩy quá trình
sản xuất ổn định và bền vững.
Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” đã thực hiện mối liên kết “bốn nhà” ( nhà
nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông), trung hòa các tác động của
tiêu lúa cho dân theo hợp đồng bằng cách trực tiếp tiêu thụ trong nước hoặc xuất
khẩu.
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân
Vai trò các bên trong liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản còn hạn chế.
Doanh nghiệp thường dựa vào thương lái thu gom nông sản mà chưa quan
tâm phát triển liên kết trực tiếp với nông dân. Các cơ quan, tổ chức khoa học còn
thụ động liên kết với doanh nghiệp và người sản xuất để thực hiện hợp đồng
nghiên cứu. Cơ quan chính quyền địa phương còn lúng túng trong chỉ đạo phát
triển liên kết sản xuất.
Đầu ra cho sản phẩm nông dân chưa nhận được sự hưởng ứng cao của
doanh nghiệp.
17
Thực trạng áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại ĐBSCL giai đoạn 2008 - nay
Nhiều doanh nghiệp vẫn muốn duy trì cách thức mua lúa qua thương lái,
các nhà máy chế biến cũng ít ký hợp đồng ràng buộc trách nhiệm với nông dân.
Cách tổ chức tiêu thụ này dẫn tới nông dân luôn ở thế yếu.
Nông dân không định được giá lúa, khó cải thiện nâng cao chất lượng gạo
do thóc gom từ nhiều nguồn khác nhau dẫn tới khó tạo thương hiệu gạo, vùng
nguyên liệu lúa xuất khẩu. Mặt khác, ở nhiều nơi nông dân sản xuất nhỏ, chưa
quen liên kết, diện tích đất mỗi hộ ít, trình độ không đồng đều nên khả năng đầu
tư, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật hạn chế, ghi chép nhật ký sản xuất chưa có tiền lệ, vay
vốn cũng còn khó khăn.
Điều kiện sản xuất và tiêu thụ còn hạn chế.
Việc triển khai mô hình này vẫn gặp nhiều khó khăn do phần lớn các hộ nông
dân trồng lúa có diện tích trồng lúa nhỏ, sản xuất lúa theo hướng tự cung, tự cấp,
quy mô nhỏ lẻ, manh mún chưa có hướng sản xuất lúa hàng hóa theo quy mô lớn.
Đặc biệt là các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư, thu mua, chế biến và tiêu thụ
gạo, ảnh hưởng tới chuỗi giá trị hàng hóa của hệ thống sản xuất lúa gạo.
Cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực còn hạn chế.
Do đây là mô hình mới nên hệ thống kết cấu hạ tầng còn thấp, giao thông
nông nghiệp, và tạo điều kiện để áp dụng các kĩ thuật mới.
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN CHUNG
Nhìn chung lại, ngành nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long nói riêng
hay ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung muốn phát triển một cách bền vững
thì cần phải có một hướng đi cụ thể. Và việc cụ thể hóa điều đó bằng các mô hình,
19
Thực trạng áp dụng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” tại ĐBSCL giai đoạn 2008 - nay
như mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” trên là một điều cần thiết. Tuy nhiên, để mô
hình tạo được hiệu ứng tích cực, cần có những tác động về mặt chính sách tạo điều
kiện thuận lợi. Với những mặt tích cực của mình, hy vọng mô hình cánh đồng mẫu
lớn sẽ giúp chuyển hướng phát triển của nông nghiệp Việt Nam từ phát triển theo
chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, để chúng ta thực sự có được một nền
nông nghiệp mạnh và bền vững.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Giáo trình Kinh tế nông nghiệp lý thuyết và thực tiễn – Nhà xuất bản thống kê
-2006
http://www.agroviet.gov.vn/Pages/news_detail.aspx?newsid=28176
Báo điện tử của Chính Phủ: http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Canh-dong-mau-
lon-nang-gia-tri-nong-nghiep/20132/162368.vgp
http://www.bentre.gov.vn/index.php?
option=com_content&task=view&id=14941&Itemid=42
http://www.khuyennongvn.gov.vn/an-giang-tang-cuong-hieu-qua-lien-ket-tu-mo-
hinh-canh-dong-mau-lon_t77c615n29048tn.aspx
http://www.khuyennongvn.gov.vn/binh-dinh-can-nhan-rong-mo-hinh-canh-dong-
mau-lon_t77c614n28894tn.aspx
http://vinhlong.mard.gov.vn/ContentDetail.aspx?CatId=287&Id=9665
http://www.vca.org.vn/Default.aspx?tabid=82&CategoryID=2&News=160
Radio Việt Nam – “Bạc Liêu: Cánh đồng mẫu lớn - mô hình sản xuất bền vững”:
http://radiovietnam.vn/tin-tuc-63-tinh-thanh/2013/04/bac-lieu-canh-dong-mau-
lon mo-hinh-san-xuat-ben-vung/