BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
[\ GIÁO TRÌNH
SINH LÝ BỆNH HỌC NGƯỜI
HUẾ, 2005
MỤC LỤC Trang
Chương 1
Giới thiệu môn học sinh lý bệnh
I. Đại cương
1. Định nghĩa
Sinh lý bệnh lý học hay gọi tắt là sinh lý bệnh học là môn học
nghiên cứu về cơ chế phát sinh, phát triển và kết thúc của bệnh; tức là
nghiên cứu những thay đổi của cơ thể bị bệnh trong quá trình bệnh lý điển
hình và cuối cùng để tìm hiểu những quy luật hoạt động của bệnh nói
chung. Theo Purkinje: “Sinh lý bệnh là sinh lý của cơ thể bị bệnh“
Sinh lý bệnh nghiên cứu những trường hợp bệnh lý cụ thể, phát hiện
và mô tả những thay đổi về sự hoạt động chức năng của cơ thể, cơ quan,
mô và tế bào khi chúng bị bệnh; từ đó rút ra những quy luật chi phối
chúng, khác với những quy luật hoạt động lúc bình thường: đó là sinh lý
bệnh học cơ quan, bộ phận. Ví dụ Sinh lý bệnh tuần hoàn (Sinh lý bệnh cơ
quan).
Tuy nhiên, có những rối loạn có thể xảy ra ở nhiều cơ quan chức
năng rất khác nhau như viêm gan, viêm cơ, viêm khớp và mỗi bệnh lại
diễn tiến theo những quy luật riêng của nó: viêm gan không giống như
viêm khớp. Tuy nhiên mỗi bệnh này lại cùng tuân theo một quy luật chung
hơn, đó là quy luật bệnh lý viêm nói chung và quy luật này lại được trình
bày trong bài viêm (Sinh lý bệnh đại cương).
Từ việc nghiên cứu quy luật hoạt động của từng bệnh, từng cơ quan,
đến quy luật hoạt động của các quá trình bệnh lý điển hình chung: Sinh lý
bệnh học tìm cách khái quát hóa để tìm hiểu quy luật hoạt động của bệnh
cũng như quy luật hoạt động của nguyên nhân gây bệnh, quy luật phát
sinh phát triển của bệnh, của quá trình lành bệnh cũng như quá trình tử
vong.
Tất cả xuất phát từ hiện tượng đi tìm bản chất của vấn đề là tìm hiểu
được bệnh là gì ? bệnh do đâu mà có ? bệnh tiến triển như thế nào? quá
- Vi sinh, ký sinh trùng BỆNH - Nhi
- Miễn dịch học - Truyền nhiễm
- Di truyền học .v.v - Da liễu.v.v. Hình 1.1: Mối liên quan giữa y học cơ sở và y học lâm sàng
2. Tính chất và vai trò
2.1. Tính chất tổng hợp
Để làm sáng tỏ và giải thích các cơ chế bệnh lý, Sinh lý bệnh phải
vận dụng những kết quả của nhiều môn học khác nhau. Phương pháp phân
tích giúp cho khoa học đi sâu vào bản chất của sự vật một cách chi tiết và
chính xác đồng thời hình thành nhiều chuyên khoa sâu chuyên biệt. Tuy
nhiên, muốn tìm ra quy luật hoạt động chung thì phải có phương pháp
tổng hợp tốt, nắm được cái gì là nguyên nhân, cái gì là hậu quả, cái gì là
cốt lõi, cái gì là chính, cái gì là phụ để đi đến bản chất của vấn đề.
3
Môn sinh lý bệnh, như định nghĩa đã nêu rõ; đi từ những hiện tượng
bệnh lý cụ thể, tìm cách khái quát hóa thành những quy luật hoạt động của
cơ thể bị bệnh; tất nhiên đòi hỏi một đầu óc tổng hợp sắc bén.
2.2.Tính chất lý luận
Sinh lý bệnh học cho phép giải thích cơ chế của bệnh và các hiện
tượng bệnh lý nói chung, đồng thời làm sáng tỏ các quy luật chi phối sự
hoạt động của cơ thể, cơ quan, tổ chức và tế bào khi bị bệnh. Do đó, trong
đào tạo ngoài nhiệm vụ trang bị kiến thức môn học; trong đào tạo nó còn
có nhiệm vụ trang bị phương pháp lý luận và cách ứng dụng các lý luận đó
khi học các môn lâm sàng và nghiệp cụ khác.
Sinh lý bệnh cung cấp cho người thầy thuốc quan điểm và phương
pháp đúng, nghĩa là một quan điểm duy vật biện chứng và một phương
pháp luận khoa học trong cách nhìn nhận, phân tích và kết luận về mọi vấn
là phát hiện được những quy luật hoạt động của cơ thể bị bệnh qua các mô
hình thực nghiệm trên súc vật.
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu xuất phát từ
sự quan sát khách quan từ các hiện tượng tự nhiên (hiện tượng bệnh lý xảy
ra), sau đó dùng các kiến thức hiểu biết từ trước tìm cách cắt nghĩa chúng
(gọi là đề ra giả thuyết); sau đó dùng một hay nhiều thực nghiệm để chứng
minh giả thuyết đúng hay sai (có thể thực nghiệm trên mô hình súc vật).
1.Các bước nghiên cứu thực nghiệm PHÒNG BỆNH
ĐIỀU TRỊ
Hình 1.2: Sơ đồ nghiên cứu trong sinh lý bệnh
1.1. Quan sát và đặt giả thuyết
Trước một hiện tượng bệnh lý, dù là nhà y học cổ truyền hay y học
hiện đại, người ta đều quan sát và nhận xét những hiện tượng bệnh lý. Sau
khi quan sát (chủ quan hay khách quan), người ta tìm cách cắt nghĩa và
giải thích những điều quan sát được. Những người quan sát có thể đồng
thời phát hiện giống nhau nhưng cũng có thể khác nhau; cũng có thể giải
thích khác nhau về cùng một hiện tượng mà họ cùng quan sát; tuy nhiên
những giải thích trên mang tính chủ quan của con người, tuỳ thuộc vào
quan điểm triết học của người quan sát mà nội dung giải thích cũng khác
nhau (duy tâm, duy vật, biện chứng hay siêu hình), tuỳ thuộc vào từng thời
thuật cận lâm sàng để tăng cường phát hiện những hiện tượng mà khả
năng quan sát con người không làm được. Các xét nghiệm cận lâm sàng và
thăm dò chức năng cho những kết quả khách quan, chính xác và nhạy hơn
những điều mà bản thân thầy thuốc thu nhận được bằng ngũ quan của
mình, song những kỹ thuật ấy cũng do con người làm ra nên chúng phải
được tuân thủ những quy tắc và điều kiện thực hiện thì mới có đủ sức tin
cậy. Khả năng quan sát của người thầy thuốc chỉ có thể phát triển khi được
tiếp xúc với người bệnh thường xuyên.
Sau khi có đầy đủ các dữ kiện ở người bệnh, người thầy thuốc hình
thành trong trí óc của mình một mô hình bệnh lý nhất định. Đồng thời so
sánh mô hình này với các mô hình khác (có được qua học tập, kinh
nghiệm) để xem nó giống mô hình nào nhất và định hướng chẩn đoán phù
hợp nhất. Như vậy chẩn đoán chỉ là một giả thuyết mà người thầy thuốc
đặt ra dựa trên những quan sát khách quan thu được.
1.2. Chứng minh giả thuyết bằng thực nghiệm
Đây là bước bắt buộc, nhưng Y học cổ truyền đã không có điều kiện
thực hiện mà chỉ dừng lại ở bước 1, tức là quan sát; rồi giải thích sau khi
thử áp dụng "Y lý" của mình trong thực tiễn.
Các thực nghiệm khoa học thường xây dựng các mô hình thực
nghiệm trên súc vật từ những quan sát lâm sàng để chứng minh cho các
giả thuyết đề ra. Các thực nghiệm này được tiến hành chủ động cấp diễn
hoặc trường diễn, cho các hình ảnh bệnh lý sinh động theo thời gian thực
nghiệm. Thực nghiệm có thể tiến hành trên từng tổ chức, từng cơ quan cô
lập và trên cơ thể nguyên vẹn; hoặc phối hợp với nhau và tiến hành trên cơ
thể sống (in vivo) hoặc trong ống nghiệm (in vitro).
6
Nếu chẩn đoán đúng thì quyết định được biện pháp điều trị thích hợp
và bệnh khỏi. Như vậy điều trị cũng là một bằng chứng thực nghiệm. Cần
lưu ý bằng chứng này cũng có những điều kiện riêng cuả nó. Ví dụ như
sinh mạng bệnh nhân như đau quá có thể gây sốc, sốt cao gây co giật ở trẻ
em.v.v. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng vì nhiều khi có hại hơn có lợi
và cũng chỉ là biện pháp đối phó.
Điều trị nguyên nhân là đúng nhất vì đánh vào yếu tố gây bệnh.
Song cũng có nhiều bệnh hiện nay chưa rõ nguyên nhân hoặc như trong
7
nhiều bệnh có nguyên nhân đã rõ nhưng khi bệnh hình thành thì có thể
diễn biến mạnh hơn, nguy hiểm cho người bệnh thì cần phải sử dụng khái
niệm dự phòng trong điều trị tức là thông qua quy luật diễn biến nhất định
của bệnh lý (sinh lý bệnh học của bệnh) mà đề ra những biện pháp điều trị
thích đáng ngăn cản hoặc hạn chế những diễn biến xấu có hại.
Sự hiểu biết về vai trò của nguyên nhân và điều kiện gây bệnh sẽ
giúp cho việc đề ra kế hoạch phòng bệnh đúng. Có thể phòng bệnh bằng
cách tiêu diệt và ngăn ngừa nguyên nhân phát triển, ngăn chặn các điều
kiện thuận lợi cho nguyên nhân nảy sinh (môi trường sống, các vectơ
truyền bệnh, dinh dưỡng .v.v.), tăng cường sức đề kháng của cơ thể. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Triệu An. 2000. Đại cương Sinh lý bệnh học. NXB Y Học, Hà Nội.
2. Bộ môn Miễn dịch học - Sinh lý bệnh trường Đại học Y khoa Hà Nội
(2002). Sinh lý bệnh. Nhà xuất bản Y học
3. Bộ môn Miễn dịch học - Sinh lý bệnh trường Đại học Y khoa TPHCM.
(2000). Sinh lý bệnh. Nhà xuất bản Y học.
4. Ganong W (1996) Review of medical physiology. Nhà xuất bản
Appeleton and Lange
5. Guyton A.C ; Hall J.E. Textbook of medical physiology. Nhà xuất bản
W.B. Saunder company.
Lục khí Lục phủ, lục kinh
360 ngày của 1 năm 360 đốt xương
Trong đại vũ trụ (cũng như trong cơ thể người) luôn có sự vận hành
giữa 2 lực đối kháng: Âm-Dương. Chu Liêm Khê khi giải thích Thái cực
đồ thuyết có nói:
"Vô cực là thái cực, thái cực động mà sinh ra dương, động cực rồi
tĩnh, tĩnh mà sinh ra âm, tĩnh cực rồi trở lại động, một động một tĩnh làm
căn bản và giúp đỡ lẫn nhau, phân âm phân dương, lưỡng nghi lập thành,
dương biến âm hợp mà sinh ra thủy, hỏa, mộc, kim, thổ, ”
Khí âm dương luân chuyển biến hóa mà tạo ra ngũ hành, sự sinh
9
khắc của ngũ hành là nguồn gốc của sự chế hóa trong vũ trụ. Hợp với
nhau là sinh, là tiếp tục tiến hóa. Trái với nhau là khắc, là hạn chế sự tiến
hóa. Trong sự vận hành của khí chất đã có sinh thì phải có khắc, có khắc
thì phải có sinh, sinh khắc có mục đích giữ quân bình trong sự sinh hóa
của vạn vật. Âm dương có hòa và ngũ hành có bình thì trời đất mới yên
mà muôn loài được thành toại, sinh tồn.
Vậy bệnh là do mất sự quân bình âm dương, ngũ hành. Nguyên nhân
của sự mất quân bình nầy có thể là nội thương do trạng thái tâm lý thái
quá (Thất tình: hỷ, nộ, ái, ố, lạc, tăng, bi), là ngoại cảm do tiết khí (Lục
khí: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa). Trị liệu bệnh căn cứ vào sự sinh khắc
của ngũ hành (Hư: bổ, Thực: tả) để nhằm lập lại sự quân bình âm dương
cho cơ thể.
Lý luận âm dương ngũ hành có vẻ mơ hồ, trừu tượng nhưng các thầy
thuốc Đông y khi áp dụng vào trong điều trị bệnh đã thu được kết quả rất
khả quan, không thể phủ nhận.
1.2. Ấn Độ và các dân tộc chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ
Văn minh Ấn Độ cổ đại được phản ảnh trong bộ kinh Veda (được
viết khoảng thế kỷ 15 đến thế kỷ thứ 7 trước CN) gồm 4 tập: Rig Veda
tĩnh, thờ ơ, buồn phiền) mà còn là nền tảng của sức khỏe và nguyên nhân
của bệnh tật.
Bệnh là do rối loạn các thể dịch đó. Ví dụ: có quá nhiều dịch nhầy ở
khắp nơi như ở phổi (sẽ gây viêm, lao), ở ổ bụng (gây cổ chướng), ở ruột
(gây ỉa lỏng, lỵ), ở trực tràng (gây trĩ), Nguyên lý điều trị bệnh là phục
hồi lại cân bằng cho cơ thể bằng cách sử dụng các thuốc có những đặc tính
của các dịch (thuốc mát, thuốc nóng, thuốc làm khô, thuốc làm ướt).
Quan niệm nầy mặc dù thiếu cơ sở khoa học nhưng đã đặt một nền
tảng vật chất cho sự hiểu biết, khác xa với những quan niệm siêu hình thần
bí vốn thịnh hành trong thời đại đó.
2.2. Thuyết hóa học
Trong đêm dài Trung cổ, y học và các ngành khoa học khác không
tiến bộ thậm chí còn đi thụt lùi do sự thống trị của tôn giáo. Về cuối thời
kỳ nầy, Paracelcius (1493-1541) một người thầy thuốc Đức nổi tiếng, nêu
lên quan niệm cho rằng:
- Lưu huỳnh, nguyên tố khí, biểu hiện sức mạnh của linh hồn
- Thủy ngân, nguyên tố lỏng, biểu hiện các lực của trí tuệ
- Các muối, cặn của chất đặc, biểu hiện nguyên lý của vật chất.
Ba chất đó nối con người với vũ trụ và qua chúng, con người tham
gia vào chuyển hóa chung của thiên nhiên. Bệnh là hậu quả của những rối
loạn cân bằng các chất nói trên.
Jean Baptiste van Helmont (1577-1644) và Sylvius (1614-1672) cho
rằng mọi quá trình sinh lý trong cơ thể đều do hoạt động của các enzyme
đặc hiệu khác nhau. Bệnh là một rối loạn hóa học enzyme trong cơ thể.
Khái niệm hóa học về bệnh sang thế kỷ XX nhờ những tiến bộ trong
ngành hóa và hóa sinh nên có nhiều thay đổi. Ngưởi ta ngày càng thấy rõ
tính chất tương đối ổn định của các thành phần hóa học trong cơ thể. Hans
Seley khi nghiên cứu về Stress đã đưa ra quan niệm bệnh là do rối loạn
khả năng thích nghi của cơ thể (rối loạn tình trạng đối kháng giữa 2 loại
hormone được tiết ra khi có stress. Ví dụ giữa mineralocorticoids và
thấy được khi mổ tử thi dẫn đến khái niệm giải phẫu cục bộ về bệnh. Khái
niệm nầy cho rằng bệnh có liên quan đến những thương tổn đầu tiên ở các
cơ quan, bộ phận, ngăn cản cơ quan, bộ phận đó hoạt động. Morgani
(1682-1771), Bichat (1771-1802), Rokitanski (1804-1878) qua kết quả
những công trình giải phẫu đại thể, vi thể đã làm phát triển mạnh mẽ quan
niệm bệnh học nầy.
Vào cuối thế kỷ XIX, thuyết nầy đạt đỉnh cao với công trình “Bệnh
học tế bào” của Wirchov(1821-1902). Trong cuốn sách nầy ông đã kết
luận rằng:
" Đời sống của cơ thể là tổng số đời sống của những tế bào riêng lẻ
12
đã hợp nhất trong cơ thể đó Nơi diễn tiến các quá trình bệnh chính là bản
thân tế bào và mô kế cận Sự hoạt động không bình thường của tế bào là
nguồn gốc của bệnh tật Tôi chắc chắn rằng không một thầy thuốc nào có
thể hiểu biết đầy đủ các quá trình bệnh lý nếu họ không cố gắng xác nhận
nơi đã xảy ra bệnh tật Cuối cùng mọi trường hợp bệnh đều dẫn ta tới
nguyên ủy: tế bào. Tế bào là cơ sở vật chất, là hòn đá tảng của lâu đài y
học ”. Wirchov cũng là người đã nêu lên một định đề nổi tiếng “Mỗi tế
bào đều sinh ra từ một tế bào” (Omnis cellulae cellula).
Armand Trousseau (1801-1867) nhà lâm sàng học người Pháp nhận
xét :
"Bệnh học tế bào đã quên mất con người mà chỉ chú ý đến những tế
bào nhỏ bé, do đó đã bị chìm lấp trong muôn vàn những giá trị nhỏ bé”
2.5. Thuyết thần kinh luận
Trường phái y học Nga với những công trình của Setchenov (1829-
1905), Botkin, Pavlov (1849-1936) đề ra thuyết thần kinh về bệnh. Theo
thuyết nầy cho rằng hoạt động phản xạ của hệ thần kinh giúp cho việc bảo
tồn sự hoạt động và sự toàn vẹn của cơ thể giữa những điều kiện luôn luôn
thay đổi của môi trường sống. Sự kết hợp chặt chẽ của hoạt động vỏ não
chính là điều kiện cần thiết cho sự phát sinh của một sự lỡ lời”.
- Những giấc mơ. Cái tôi trong giấc mơ theo Freud, đã rũ bỏ được
hết những ràng buộc về luân lý, thỏa mãn mọi sự đòi hỏi của bản năng tình
dục, của bản năng luôn luôn bị nền giáo dục cấm đoán, những bản năng
chống lại mọi sự kìm kẹp của luân lý.
- Những tài năng trong thi ca, âm nhạc, hội họa,
- Những chứng bệnh tâm thần kinh, thậm chí cả một số bệnh thực
thể.
Vậy bệnh là sản phẩm của một sự dồn ép, do đó trị bệnh là phải tìm
cách giải phóng cho những dồn ép đó (dépression) bằng phương pháp
phân tâm học (psychanalyse).
II. Một số điểm cần chú ý để hiểu khái niệm bệnh
Theo tiến hóa luận, mọi sinh vật khởi điểm từ những chất hữu cơ,
được tổ chức lại thành các sinh vật bậc thấp (cơ thể đơn bào) rồi tiếp tục
tiến hóa thành các sinh vật bậc cao (cơ thể đa bào). Sinh vật bậc cao với
những cơ quan có những hoạt động biệt hóa và chức năng khác nhau
nhưng đều nhằm đếïn một mục đích chung là duy trì sự sống cho cơ thể
sinh vật đó.
Vì vậy, từ thế giới vi mô sang vĩ mô, tất cả những màng ngăn cách
(màng nhân, màng tế bào, màng mạch, da, ) chỉ có tính chất tương đối do
chúng có quan hệ trao đổi chất, quan hệ tác động qua lại ảnh hưởng lẫn
nhau nhưng vẫn giữ được tính chất riêng của nó.
Như thế, sinh vật nói chung và con người nói riêng có tính thống
nhất giữa nội môi và ngoại môi. Thống nhất nhưng vẫn có mâu thuẩn vì
ngoại môi thì luôn luôn thay đổi, biến động trong khi nội môi thì đòi hỏi
một sự ổn định để có thể hoạt động bình thường. Muốn duy trì được sự ổn
định của nội môi, cơ thể phải có khả năng thích nghi bù trừ.
Quan niệm như thế sẽ giúp cho người thầy thuốc có được một thái
độ xử lý đúng về bệnh trong thực tế cuộc sống như sau:
Con người là một động vật sống có tổ chức thành cộng đồng, xã hội.
Do vậy, phải xem xét bệnh dưới góc cạnh nầy để thấy rằng: Bệnh làm giới
hạn khả năng học tập, lao động, sáng tạo. Bệnh ảnh hưởng đến sinh hoạt
cá nhân và làm tăng phí tổn của xã hội qua công tác y tế.
Thái độ cần có: Công tác phòng chống phải nhằm trước tiên vào
những bệnh có tính chất xã hội, áp dụng phương châm phóng bệnh trong
điều trị để trả bệnh nhân về sinh hoạt bình thường sớm và ưu tiên bảo tồn
những cơ quan chức năng.
15
Tóm lại, một quan niệm đúng sai về bệnh sẽ quyết định thái độ đúng
sai trong công tác đấu tranh chống lại bệnh tật. Cho nên khi quan niệm về
bệnh, chỉ nên chú trọng đến những khái niệm có tính thực dụng hơn là
những khái niệm mang nhiều tính chất triết lý nhưng lại có tác dụng tiêu
cực, hạn chế việc ứng dụng trong thực tế. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vũ Triệu An. 2000. Đại cương Sinh lý bệnh học. NXB Y Học, Hà Nội.
2. Nguyễn Ngọc Lanh. 2002. Khái niệm về bệnh. Trong: Sinh lý bệnh
(Nguyễn Ngọc Lanh chủ biên). Trang 16-30. NXB Y Học, Hà Nội.
3. Sigmund Freud. 1970. Phân tâm học nhập môn. Bản dịch của Nguyễn
Xuân Hiếu. Trang 5-263. NXB Khai Trí. Sài Gòn. 16
Chương 3
Khái niệm về bệnh nguyên
như trên, thuyết không phản ảnh được tính đặc hiệu của bệnh.
17
Thuyết nầy mang rất nhiều tính chất tiêu cực do nó đưa ra cùng một
lúc nhiều điều kiện cần phải thỏa mãn thì mới giải quyết được vấn đề bệnh
tật.
Do không phân biệt được nguyên nhân và điều kiện hoặc không
phân biệt được vai trò của mỗi yếu tố trong quá trình gây bệnh nên có ảnh
hưởng xấu đến công tác phòng bệnh và điều trị.
3. Thuyết thể tạng
Thuyết thể tạng cho nguyên nhân gây bệnh là do đặc điểm của cơ
thể người bệnh, là do thể tạng (terrain = cơ địa) của họ, do di truyền.
Cơ sở của thuyết này là từ thuyết di truyền máy móc, không kể đến
các yếu tố ngoại cảnh, là cơ sở cho thuyết phân biệt chủng tộc và những
quan niệm duy tâm về bệnh phát triển.
Cũng giống như hai thuyết trên, thuyết nầy cũng phiến diện và tiêu
cực vì nó cho rằng không thể làm gì được với một bệnh đã được "chương
trình hóa" từ trước khi con người sinh ra.
Tuy nhiên cũng cần chú ý phân biệt rằng: có trường hợp thể tạng là
điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển, có trường hợp thể tạng chính là
nguyên nhân của bệnh.
III. Quan niệm khoa học về bệnh nguyên
1. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh
1.1. Nguyên nhân quyết định, điều kiện phát huy tác dụng của nguyên
nhân
Không có nguyên nhân thì bệnh không thể phát sinh, có nguyên
nhân nhưng thiếu điều kiện thì bệnh chưa phát sinh được.
Ví dụ bệnh lao chỉ xuất hiện khi có sự hiện diện của vi trùng Koch,
nhưng sự hiện diện của vi trùng Koch chưa đủ để gây ra bệnh nếu thiếu
các điều kiện như suy giảm sức đề kháng của cơ thể, suy dưỡng,
thường gọi là yếu tố cơ địa. Vậy quy luật nhân quả đơn thuần không hoàn
toàn đúng trong y học.
2.3. Cùng một nguyên nhân có thể có những hậu quả khác nhau tùy điều
kiện cụ thể.
Cùng một loại vi khuẩn nhưng tùy nơi tác dụng và tùy thuộc đáp
ứng cơ thể mà hậu quả là bệnh cảnh có thể khác nhau. Người làm công tác
phòng chống bệnh phải vận dụng sự hiểu biết của mình để từ những hậu
quả khác biệt nhau đó tìm thấy được nguyên nhân hay nói cách khác phân
biệt được hiện tượng (hậu quả) với bản chất (nguyên nhân)
2.4. Một hậu quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra
Viêm, sốt là những quá trình bệnh lý điển hình nhưng lại do rất
nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Đây chính là khó khăn của người
thầy thuốc trong việc chẩn đoán bệnh. Cần phải tìm hiểu vai trò của
nguyên nhân và hậu quả trong những điều kiện cụ thể vật chất và tinh thần
của người bệnh đặc biệt là những điều kiện xã hội vì không thể tách rời
môi trường mà trong đó sự kiện xảy ra.
Như vậy, khái niệm về bệnh nguyên học phải có tính chất toàn
diện, nó nhìn nhận cả vai trò của nguyên nhân, điều kiện, thể tạng song
mỗi yếu tố có tầm quan trọng và vị trí nhất định trong quá trình gây bệnh.
19
Ngăn ngừa nguyên nhân, hạn chế tác dụng của điều kiện, tăng
cường hoạt động tốt của thể tạng là toàn bộ sự tích cực của công tác điều
trị và dự phòng.
IV. Phân loại bệnh nguyên
1. Nguyên nhân bên ngoài
1.1. Yếu tố cơ học
Chủ yếu là các chấn thương phá hủy tổ chức, tổn thương các cơ
quan bộ phận trong cơ thể. Ví dụ các vết thương do vũ khí, tai nạn,
Chấn thương nặng có thể dẫn đến sốc chấn thương phát sinh do cơ
2
O
2
).
- Dòng điện
Tác dụng gây bệnh của dòng điện phụ thuộc vào điện thê (điện thế
càng cao càng nguy hiểm) và vào tính chất của dòng điện (dòng điện 1
chiều tác dụng nhanh hơn điện xoay chiều). Dòng điện gây bệnh theo 3 cơ
chế:
+ Gây co cứng các cơ, nhất là cơ tim làm ngừng tim,
+ Gây bỏng nếu cường độ cao. Vết bỏng do điện rất lâu lành do tổ
chức bên dưới vết bỏng bị thoái hóa,
+ Gây hiện tượng điện ly vì cơ thể là môi trường điện giải.
- Áp suất
20
Thay đổi áp suất đột ngột có thể gây nên những tổn thương cơ học
như thủng màng nhĩ, tắc mạch, hôn mê, Thường gặp ở những pháo thủ,
phi công, thợ lặn,
- Âm thanh
Một báo cáo điều tra của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố gần
đây cho biết tình trạng ô nhiễm tiếng ồn trên thế giới đã trở thành vấn đề
nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với chất lượng cuộc sống và sức
khoẻ con người.
Ô nhiễm tiếng ồn không chỉ ảnh hưởng đến thính lực mà còn là nguy
cơ dẫn đến các chứng bệnh như huyết áp cao, bệnh tim mạch, suy giảm trí
nhớ, bệnh thần kinh tổng hợp,
- Ánh sáng
Các nhà môi trường cho biết ô nhiễm ánh sáng tăng khoảng 10%
mỗi năm kể từ những năm 60 của thế kỷ XX, và cũng chỉ mới gần đây con
những đột biến nguy hiểm cho sức khỏe của con người. Tuy vậy, sự hiểu
biết về các quy luật di truyền trong bệnh nguyên học đã giúp cho việc
phòng tránh cũng như điều trị kịp thời một số bệnh.
2.2. Yếu tố thể tạng
Thể tạng hay cơ địa là tổng hợp các đặc điểm chức năng và hình thái
của cơ thể, hình thành nên trên cơ sở di truyền và quyết định phản ứng
tính của cơ thể đối với tác nhân bên ngoài. Đứng trước một yếu tố gây
bệnh, những cơ thể có thể tạng khác nhau sẽ có các đáp ứng khác nhau.
Nói cách khác, thể tạng là cơ sở vật chất của tính phản ứng, chịu ảnh
hưởng của các yếu tố như tuổi, giới, hoạt động thần kinh nội tiết và nhất là
môi trường sống. Do vậy, thể tạng không phải bất biến mà có thể thay đổi
khi các yếu tố ảnh hưởng thay đổi.
Hai loại yếu tố bệnh nguyên bên trong và bên ngoài có quan hệ mật
thiết với nhau. Một nguyên nhân bên ngoài tác động lên cơ thể chỉ có thể
gây được bệnh khi nó làm thay đổi một cách có hiệu quả sự hằng định của
nội môi mà các yếu tố di truyền và thể tạng lại có ảnh hưởng lớn trên sự
hằng định đó. Ngược lại, thể tạng cũng như di truyền lại chịu ảnh hưởng
của nội môi mà có thể nói gọn thể tạng là do ngoại môi tác động lên di
truyền. Nói một cách khác, thể tạng là hậu quả của cái quá khứ cá biệt trên
cái hiện tại cá biệt của từng cá thể. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Triệu An. 2000. Đại cương Sinh lý bệnh học. NXB Y Học, Hà Nội.
2. Nguyễn Ngọc Lanh. 2002. Đại cương về bệnh nguyên học. Trong: Sinh lý
bệnh (Nguyễn Ngọc Lanh chủ biên). Trang 31-42. NXB Y Học, Hà Nội.
22
Chương 4
- Tuổi: "mỗi tuổi mỗi bệnh" là nhận xét phổ biến trong dân gian.
Thực vậy, một số bệnh là đặc thù của tuổi trẻ như sởi, ho gà, đậu
mùa, các bệnh tim mạch, ung thư thường gặp ở tuổi già.
23
- Giới: một số bệnh thường gặp ở nam giới như loét dạ dày-tá tràng,
nhồi máu cơ tim, ung thư phổi, Ngược lại, hay gặp ở nữ các bệnh viêm
túi mật, ung thư vú, u xơ hoặc ung thư tử cung, viêm phần phụ, Điều nầy
được giải thích do khác biệt về hoạt động thần kinh nội tiết hoặc do sự
khác biệt về công việc làm, về sinh hoạt, thói quen hằng ngày,
- Hoạt động thần kinh nội tiết: ảnh hưởng rõ đến phản ứng tính và
qua đó ảnh hưởng đến quá trình bệnh sinh. Trên súc vật thí nghiệm khi
gây hưng phấn thần kinh (bằng cafein hay phénamin) thì phản ứng viêm sẽ
mạnh hơắo với các con vật bị ức chế thần kinh (bằng bromur). Ở người,
vào những lúc có thay đổi hoạt động nội tiết như dậy thì, tiền mãn kinh,
thường thấy thay đổi tính tình và cả phản ứng đối với những yếu tố bệnh
nguyên nữa.
- Yếu tố môi trường: ngoại môi ảnh hưởng đến phản ứng tính qua
những yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ, áp lực, địa phương và nhất là dinh
dưỡng, Ánh sáng quá mạnh, nhiệt độ cao làm cho thần kinh dễ hưng
phấn. Tình trạng thiếu ăn, đặc biệt thiếu protid làm phản ứng sút kém, dễ
nhiễm khuẩn. Ngày nay người ta chú ý đến nhịp sinh học của cơ thể vào
các thời điểm trong ngày, tháng, năm để đưa thuốc vào cơ thể hoặc can
thiệp phẩu thuật sao cho có hiệu quả cao nhất.
3. Mối liên quan giữa toàn thân và cục bộ trong quá trình bệnh sinh
- Toàn thân và cục bộ: toàn thân khỏe mạnh thì sức đề kháng cục bộ
sẽ tốt, do đó yếu tố gây bệnh sẽ khó xâm nhập vào hoặc nếu có thì cũng
nhanh chóng bị loại bỏ. Vết thương cục bộ sẽ chóng lành nếu người bệnh
được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng.
- Cục bộ và toàn thân: một tổn thương tại chỗ, gây nên bất cứ do yếu