Bài tập quản trị kinh doanh quốc tế PHÂN TÍCH mô HÌNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG mại - Pdf 22

Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
VAYBÀI TẬP NHÓM 9
Môn: QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Đề tài :
PHÂN TÍCH MÔ HÌNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CỦA CÔNG
TY KFC

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Định nghĩa nhượng quyền thương mại:
Nhượng quyền thương mại là hệ thống marketing dọc trong đó một công ty cung
cấp một cá nhân hoặc công ty khác (bên được nhượng thương mại) quyền thương mại
để kinh doanh trong một vùng địa lí kèm theo sự hỗ trợ về mặt tổ chức, đào tạo,
thương mại và quản lý.
Quan hệ nhượng quyền thương mại bao gồm ba mối quan hệ:
- Quan hệ pháp lí: Trụ cột của quan hệ pháp lí chính là hợp đồng giữa người
nhượng quyền và người được nhượng quyền. Mối quan hệ pháp lí này quy định rằng
mỗi bên phải tuân thủ và đảm đương những trách nhiệm và nghĩa vụ cụ thể.
- Quan hệ thương mại: Quan hệ thương mại gắn kết các đối tác nhượng quyền
thương mại với nhau thông qua các hoạt động hàng ngày cần thiết nhằm cung cấp sản
phẩm và dịch vụ được khách hàng chấp nhận. Bên nhận quyền thương mại hoạt động
kinh doanh chủ yếu dưới thương hiệu và theo chiến lược marketing của bên nhượng
quyền. Trong khi quan hệ pháp lí cần được ổn định, quan hệ thương mại lại linh động;
quan hệ này có xu hướng thay đổi để thích ứng với tình hình thị trường khác nhau.
Những thay đổi này thường dẫn đến mâu thuẫn giữa bên nhượng quyền và bên được
nhượng quyền. Tuy nhiên, miễn là hai bên cùng cam kết thoả mãn nhu cầu thị trường
và dựa vào nhau để cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất, những mâu thuẫn
này có thể được giải quyết.
- Quan hệ phi thương mại: Quan hệ phi thương mại là sợi dây liên kết bền chặt,
hướng đến tương lai và mang tính hợp tác hiện hữu giữa hai thành viên kênh độc lập-
bên nhượng quyền thương mại và bên được nhượng quyền thương mại - mỗi bên hoạt
Nhóm 9

Nhóm 9
Trang 2
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
- Nhượng quyền mô hình kinh doanh: được giới thiệu vào thế kỉ 20 bởi công ty
Nhà hàng A&W. Loại hình nhượng quyền này tìm kiếm người được nhượng sao lại
một khái niệm kinh doanh hoàn chỉnh - bao gồm sản phẩm hoặc dịch vụ, thương hiệu
và phương thức hoạt động - tại cộng đồng địa phương của họ. Hơn 2000 loại chủ
nhượng hoạt động chủ yếu trong ngành công nghiệp dịch vụ hiện đang sử dụng các
mô hình kinh doanh. Nhượng quyền mô hình kinh doanh đã chiếm phần lớn trong
tăng trưởng nhượng quyền thương mại ở Mỹ và nước ngoài kể từ năm 1950. Trong
những thập kỉ gần đây, loại hình nhượng quyền thương hiệu này ngày càng chiếm vị
trí quan trọng trong các đơn vị nhượng quyền, hiện đang hoạt động trong khoảng 70
phân loại kinh doanh cụ thể và 19 loại hình kinh doanh rộng hơn.
Nhằm đáp ứng với nhu cầu luôn thay đổi của thị trường, người nhượng quyền
thương mại đã liên tục thay đổi hình thức ban đầu của loại hình nhân rộng này. Theo
công ty nghiên cứu thị trường Arthur Anderson & Co., khoảng 90% nguyên mẫu
nhượng quyền hiện nay đều đã được phát triển trong vòng 10 năm qua. Nguyên nhân
dẫn đến cách tân loại hình thương hiệu bắt nguồn từ mong muốn phân đoạn những thị
trường cũ, yếu, chiếm thiểu số và thích ứng với những xu hướng kinh tế xã hội mới
nổi lên. Điều này phù hợp với CRM luôn thôi thúc các thành viên kênh phải nhạy cảm
với nhu cầu thay đổi của thị trường.
4. Lợi ích và Rủi ro trong nhượng quyền thương mại có thể được xem xét từ
hai phía:
4.1. Bên nhượng quyền:
Bên nhượng quyền thực hiện việc nhượng quyền thường là đã đạt được sự thành
công nhất định trong kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ; xây dựng được uy tín,
thương hiệu trên thị trường. Bên nhượng quyền có thể tự tìm kiếm các đối tác hoặc
các đối tác tự tìm đến đề nghị nhượng quyền. Do vậy, họ luôn ở thế chủ động, chiếm
ưu thế so với bên nhận nhượng quyền. Việc thực hiện nhượng quyền có thể đem lại
nhiều lợi ích, nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Có khi chỉ cần một sơ xuất nhỏ có

yếu tố sau:
- Thương hiệu của mình liệu có được bảo vệ khi thực hiện việc nhượng
quyền? Các doanh nghiệp chỉ nên thực hiện việc nhượng quyền khi thương hiệu của
Nhóm 9
Trang 4
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
mình đã được bảo vệ an toàn tức là có một cơ chế bảo vệ và xử lý khi có những hành
vi xâm phạm đến thương hiệu (như đăng ký bản quyền tác giả, đăng ký quyền sở hữu
công nghiệp). Khi xây dựng được một thương hiệu mạnh, có uy tín, mới nên thực
hiện việc nhượng quyền.
- Hợp đồng nhượng quyền được soạn thảo như thế nào? Khi thực hiện việc
nhượng quyền doanh nghiệp cần dự liệu và phải có biện pháp phòng ngừa những rủi
ro phát sinh như ràng buộc trách nhiệm của bên nhận nhượng quyền, quy định các chế
tài,
- Bản giới thiệu của bên nhượng quyền mang tính tiết lộ thông tin liệu có
đảm bảo tính bí mật cho hoặt động kinh doanh của doanh nghiệp?
- Việc đăng ký nhượng quyền tại cơ quan nhà nước được thực hiện theo cơ
chế nào?
Vì vậy, trước khi thực hiện nhượng quyền doanh nghiệp cần phải có sự tư vấn
của các chuyên gia về thương hiệu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tài chính, kế toán,
vv
4.2. Bên nhận nhượng quyền:
4.2.1. Lợi ích khi tiến hành kinh doanh bằng nhượng quyền
Không cần phải có sẵn một cơ sở kinh doanh nói chung, kỹ năng quản lý hoặc
sự hiểu biết chuyên sâu theo các yêu cầu của hoạt động thương mại;
Có được thuận lợi nhờ tên thương mại, uy tín và danh tiếng mà bên nhượng
quyền đã xây dựng lên. Điều này có thể rút ngắn thời gian cho bên nhận nhượng
quyền so với việc tự mình xây dựng một thương hiệu và đạt được thành công trong
kinh doanh;
Nhu cầu đầu tư về vốn thường ít hơn khi nhận nhượng quyền so với việc tự

quyền nên khi nhận nhượng quyền cần phải nghiên cứu kỹ các yếu tố sau:
- Có nhu cầu về sản phẩm/dịch vụ nhượng quyền và các sản phẩm/ dịch vụ
đó có còn được ưa chuộng, có tiềm năng khai thác hay không?
- Bên nhượng quyền đã thực hiện việc kinh doanh được bao lâu; bản giới
thiệu của họ và lợi nhuận mà họ thu được như thế nào?
Nhóm 9
Trang 6
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
+ Có bao nhiêu người đã thực hiện việc nhận nhượng quyền, bao nhiêu thoả
thuận nhượng quyền đã chấm dứt và tình hình kinh doanh, lợi nhuận của họ thu được
như thế nào?
+ Hiệu quả của những sự hỗ trợ từ phía bên nhượng quyền khi bên nhận
nhượng quyền yêu cầu;
+ Mức độ cạnh tranh như thế nào? Bên nhượng quyền có cạnh tranh hoặc
cho phép một bên thứ ba khác cũng nhận nhượng quyền cạnh tranh với bên nhận
nhượng quyền hay không?
+ Nguồn vốn để thực hiện việc nhận nhượng quyền?
+ Người nhượng quyền có tiến hành chọn lựa những người sẽ được chấp
nhận làm người nhận nhượng quyền hay không?
+ Việc đánh giá lợi ích và mức độ rủi ro của cả hai bên trong nhượng quyền
sẽ quyết định sự thành công của một thương vụ nhượng quyền quyền thương mại.
II. XU THẾ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI:
1. Lịch sử nhượng quyền thương mại:
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanh nhượng
quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu.
Tuy nhiên, hoạt động nhượng quyền kinh doanh (hay nhượng quyền thương mại)
được chính thức thừa nhận khởi nguồn, phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19,
khi mà Nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh
doanh đầu tiên cho đối tác của mình.
Franchise thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945 (khi Thế Chiến

của Malaysia, cũng có các chính sách tương tự nhằm thúc đẩy, phát triển hoạt động
nhượng quyền trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ như đào tạo, y tế, du lịch, khách sạn –
nhà hàng,… Gần đây nhất, kể từ thời điểm năm 2000, Chính phủ Thái Lan cũng đã có
các chính sách khuyến khích, quảng bá, hỗ trợ việc nhượng quyền của các doanh nghiệp
Thái Lan tại thị trường nội địa và quốc tế.
Trung Quốc đang trở thành thị trường tiềm năng của các thương hiệu nước ngoài
như: Mc Donald's, KFC, Hard Rock Cafe, Chilli's đồng thời đây là cứ địa đầu tiên
để các tập đoàn này bán franchise ra khắp Châu Á. Thông qua đó, hoạt động franchise
của Trung Quốc trở nên ngày càng phát triển, Chính phủ Trung Quốc đã thay đổi thái
Nhóm 9
Trang 8
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
độ từ e dè chuyển sang khuyến khích, nhiều thương hiệu đang được “đánh bóng” trên
thị trường quốc tế thông qua các cuộc mua bán, sáp nhập nhằm chuẩn bị cho kế hoạch
đẩy mạnh hoạt động nhượng quyền ra bên ngoài, được xem là một trong những động
thái quan trọng để phát triển nền kinh tế vốn đang rất nóng của Trung Quốc.
Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ và
quảng bá hoạt động franchise đã được thành lập. Điển hình là Hội đồng Franchise Thế
giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, có thành viên là các hiệp hội
franchise của nhiều quốc gia. Ngoài ra, một tổ chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội
Franchise Quốc tế (International Franchise Association) được thành lập năm 1960, có
khoảng 30.000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua franchise. Thông qua
các tổ chức này, nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh tế quốc
gia đã được thực hiện như:
Tổ chức các hội chợ franchise quốc tế
- Xây dựng niên giám franchise khu vực, và trên toàn thế giới
- Hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành, các website để cung cấp thông
tin cho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến franchise
- Tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển phương thức kinh doanh franchise.
2. Các xu thế nhượng quyền thương mại trên thế giới năm 2011:

quyền thương mại để kinh doanh, tuy nhiên sẽ có ít người đủ điều kiện tài chính để
được chủ doanh nghiệp nhượng quyền cũng như các ngân hàng chấp thuận.
- Bên cạnh đó, cũng khó có thể hy vọng các ngân hàng sẽ trở nên linh hoạt hơn
trong thời gian ngắn. Cuộc khủng hoảng tín dụng đã gây ra một ảnh hưởng đáng kể
đến nhượng quyền thương mại, và mặc dù đã có những tác động của các nhóm vận
động hành lang như Hiệp hội Nhượng quyền thương mại Quốc tế (International
Franchise Association) nhằm nới lỏng tín dụng và các khoản vay, thị trường tín dụng
vẫn chưa có nhiều dấu hiệu khả quan. Những người dũng cảm và thực sự muốn trở
thành chủ doanh nghiệp sẽ vẫn có thể tìm ra cách để được nhượng quyền kinh doanh
trong năm 2011. Tuy nhiên họ sẽ cần phải kiên nhẫn, bởi vì quá trình đó sẽ tiếp tục
diễn ra với tốc độ chậm.
Xu hướng nhượng quyền thương mại chuyển đổi:
Nhóm 9
Trang 10
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
- Có một xu hướng đang xảy ra như một kết quả của cuộc khủng hoảng tín
dụng: đó là nhượng quyền thương mại chuyển đổi. Nhìn chung, các doanh nghiệp
nhượng quyền thương mại chuyển đổi dễ nhận được hỗ trợ tài chính hơn nhờ doanh
thu từ công việc kinh doanh vốn có cộng với thương hiệu của người nhượng quyền.
Sự phổ biến của loại hình kinh doanh này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai.
- Trong một nền kinh tế đang đi xuống (như những gì thế giới đang chứng kiến
trong hai năm vừa qua), người tiêu dùng luôn phải "thắt lưng buộc bụng" và hầu như
tránh sử dụng các sản phẩm hay dịch vụ được coi là xa xỉ. Họ thường tập trung vào
những gì mình cần hơn là những gì mình muốn. Do đó không khó để có thể nhận ra
một số xu hướng xuất hiện những loại hình nhượng quyền thương mại như:
Nhượng quyền thương mại các quán ăn:
- Các doanh nghiệp nhượng quyền hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thực
phẩm vốn rất phổ biến, và mỗi năm, những ý tưởng và phương pháp mới lại được đưa
ra thử nghiệm. Năm 2011 sẽ chứng kiến sự phát triển của một hình thức khá mới
trong ngành này: đó là nhượng quyền thương mại của các quán ăn di động.

doanh nghiệp nhượng quyền kinh doanh, và ở mỗi trang đều có các mẫu đơn "yêu cầu
thêm thông tin". Tuy nhiên giữa số lượng đối tác tiềm năng mà doanh nghiệp nhượng
quyền phải liên hệ với số đối tác thực sự tham gia hệ thống nhượng quyền là một
khoảng cách quá lớn.
- Ngày càng có nhiều chủ thương hiệu nhượng quyền sử dụng các biện pháp
marketing qua phương tiện truyền thông xã hội. Biện pháp này sẽ phần nào giúp thu
hẹp khoảng cách nói trên. Tuy nhiên chủ thương hiệu nhượng quyền cũng sớm nhận
ra rằng tốn không ít thời gian để thực hiện một chiến dịch truyền thông xã hội thành
công.
- Các doanh nghiệp nhượng quyền cũng hiểu rằng để thành công trong lĩnh vực
truyền thông xã hội, những công cụ nhất định để điều hành chiến dịch là một điều
không thể thiếu. Trong năm 2011, hình thức marketing nhượng quyền thương mại qua
truyền thông xã hội chắc chắn sẽ còn được sử dụng rộng rãi hơn nữa. Nếu những
người cho vay bắt đầu hoạt động trở lại, và các doanh nghiệp được nhượng quyền làm
tăng được giá trị ròng của mình, năm 2011 có thể sẽ là một năm tốt đẹp hơn so với
2010. Chúng ta hãy cùng hy vọng vào điều đó.
Nhóm 9
Trang 12
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
3. Xu thế nhượng quyền thương mại ở Việt Nam:
3.1. Sự chiếm lĩnh của các đại gia nhượng quyền thương mại nước ngoài:
Hiệp hội kinh doanh nhượng quyền Việt Nam dự báo, doanh thu của ngành này
tại Việt Nam, sẽ tiếp tục tăng mạnh trong các năm tới, khả năng sẽ đạt hơn 36 triệu
USD (khoảng 642 tỉ đồng) vào năm 2010. Điều đáng nói là xét trong bối cảnh kinh tế
hiện nay, việc có được tốc độ tăng trưởng ở mức 35% vào năm tới là một điều hết sức
khả quan.
3.2. Sức nóng của thị trường:
Ông Lý Quý Trung, Tổng giám đốc Công ty Phở 24, cho biết sức hút của dân số
trẻ năng động là một trong các yếu tố thúc đẩy ngành bán lẻ và nhượng quyền thương
mại tại Việt Nam tăng mạnh. Tuy nhiên, thực tế là hàng chuỗi cửa hàng KFC, Lotteria

Nhiều doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đang
triển khai mở cửa hàng thức ăn nhanh, sau đó sẽ nhượng quyền, mà hai đơn vị tiên
phong là Kinh Đô và Vissan. Công ty Cổ phần Kinh Đô là một trong những doanh
nghiệp rất thành công với mô hình này, với mạng lưới 150 nhà phân phối và trên
30.000 điểm bán lẻ rộng khắp trên cả nước.
Ở phố Tôn Đức Thắng (Hà Nội) có một cửa hàng Kinh Đô vốn rất bề thế. Một
ngày, người ta thấy biển hiệu được gỡ xuống, và không lâu sau đó là hình của ông già
đeo tạp dề - biểu tượng giờ quá quen thuộc của KFC. Chẳng bao lâu sau, cách một
quãng đường, lại thấy Kinh Đô xuất hiện, tuy có khiêm tốn hơn nhưng vẫn là một sự
hiện diện. Chỉ một đoạn đường ngắn thôi đã cho thấy sự giằng co, cạnh tranh quyết
liệt giữa các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền trong ngành công nghiệp thực
phẩm. Có nhiều doanh nghiệp nội ý thức rất rõ việc bám đường, bám thị trường như
thế nào.
Vậy nhưng, ông Lý Quý Trung cũng chia sẻ, phát triển hệ thống kinh doanh
nhượng quyền của doanh nghiệp Việt Nam không nên làm theo kiểu phong trào, mà
cần có sự phân tích kỹ càng mọi vấn đề và làm ăn bài bản để tạo ra sự khác biệt trong
tâm trí khách hàng nhằm cạnh tranh bền vững với hệ thống của nước ngoài. Bởi hệ
thống nhượng quyền có thể suy sụp rất nhanh do hiệu ứng dây chuyền đặc trưng.
3.4. Khai phá sân khách:
Nhóm 9
Trang 14
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
Hiện nay có một xu hướng đang ngày một mạnh lên là nhượng quyền thương
hiệu tại các thị trường ngoài nước. Sử dụng nhượng quyền thương hiệu để mở rộng ra
thị trường thế giới và vươn tới đẳng cấp quốc tế là con đường hoàn toàn khả thi cho
các doanh nghiệp Việt Nam. Thực tế đã có những công ty thành công trên con đường
này và café Trung Nguyên là một điển hình - nhờ nhượng quyền thương hiệu mà trở
nên quen thuộc với người tiêu dùng trong nước và thế giới. Tất nhiên để đạt được
thành công không dễ, bởi thị trường quốc tế đòi hỏi cao về chất lượng, khác hẳn với
thị trường trong nước còn khá "dễ tính" của người tiêu dùng. Do vậy, chỉ doanh

III. MÔ HÌNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CỦA KFC
1. Giới thiệu chung:
KFC (Kentucky Fried Chicken, Gà
rán Kentucky) là nhãn hiệu của loạt cửa
hàng ăn nhanh được đánh giá nổi tiếng
thứ hai trên thế giới sau McDonald's,
trước Pizza Hut và Starbucks. KFC chủ
yếu kinh doanh các món ăn nhanh làm
từ gà và món nổi tiếng nhất là Gà rán
Kentucky do ông Harland Sanders sáng
chế.
1.1. Vài nét về sự phát triển của
KFC:
Năm 1939: Ông Sanders đưa ra
món gà rán cho thực khách với một loại
gia vị mới pha trộn 11 nguyên liệu khác
nhau. Ông nói: "Với loại gia vị thứ mười một đó, tôi đã được dùng miếng gà rán ngon
nhất từ trước đến nay".
Năm 1950: Sanders phải bán lại cơ nghiệp ở Corbin, tiểu bang Kentucky, với số
tiền chỉ vừa đủ để đóng thuế. Tự tin vào hương vị món ăn của mình nên tuy đã vào
tuổi 65, với $105 USD tiền trợ cấp xã hội nhận được, ông lên đường bán những gói
gia vị và cách chế biến gà rán đồng nhất cho những chủ nhà hàng nằm độc lập trên
toàn nước Mỹ.
Nhóm 9
Trang 16
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
Việc kinh doanh đã phát triển, vượt quá tầm kiểm soát nên ông đã bán lại cho
một nhóm người. Họ lập nên Kentucky Fried Chicken Corporation và mời ông
Sanders làm "Đại sứ Thiện chí".
Năm 1964: John Y. Brown và Jack Massey mua lại nhãn hiệu "Kentucky Fried

• Pizza Hut : Bánh pizza
• Taco Bell : Taco, món ăn với hương vị của Mexico
Doanh thu của KFC toàn cầu theo Interbrand (triệu usd):
Nhóm 9
Năm Doanh thu
2001 5.261
2002 5.346
2003 5.576
2004 5.118(giảm 8,21% so với 2003)
2005 5.112
2006 5.350
2007 5.682
2008 5.582(giảm 1,76% so với 2007)
2009 5.722
2010 5.844
2011 5.902
Trang 18
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
1.2.2. Tại thị trường Việt Nam:
KFC được biết đến tại Việt Nam với một tên gọi thân quen khác đó là Gà rán
Kentucky – chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh chuyên nghiệp, phục vụ các món ăn làm từ
gà, bơ-gơ và món nổi tiếng nhất là Gà rán Kentucky do ông đại tá thiện chí Harland
Sanders sáng chế.
Sau một loạt thành công của hệ thống chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh với thương
hiệu KFC (trên 10.000 nhà hàng đã được phát triển trên toàn thế giới). Tại Việt Nam,
KFC Tham gia vào thị trường lần đầu tiên vào tháng 12/1997 tại trung tâm thương
mại Sài Gòn Super Bowl, giờ đây, hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh này đã có mặt tại
hầu hết các đường phố của Việt Nam. KFC hiện đã có khoảng 90 cửa hàng (51 tại
Thành phố Hồ Chí Minh, 19 ở Hà Nội, 3 ở Đồng Nai, 2 ở Cần Thơ, 2 ở Vũng Tàu, 1
ở Bà Rịa, 4 ở Đà Nẵng, 2 ở Huế, 1 ở Buôn Mê Thuột, 1 ở Bình Dương, 2 ở Nha Trang

hệ thống duy nhất mà bao gồm các công thức nấu ăn đặc biệt và các mục menu, thiết
kế đặc biệt, trang trí và đồ nội thất, chi tiết kỹ thuật và thủ tục cho các hoạt động , thủ
tục kiểm soát chất lượng, đào tạo và hỗ trợ, quảng cáo và khuyến mại chương trình,…
Như vậy, KFC sẽ cung cấp một mô hình kinh doanh hoàn hảo cho bên được nhượng
quyền dựa trên uy tín của thương hiệu KFC với một sự nhất quán cao trên tất cả các
hệ thống cửa hàng .
2.1.1. Hỗ trợ tài chính :
Bên nhượng quyền không cung cấp bất kỳ tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp nào,
cũng không đảm bảo bất kỳ lưu ý, cho thuê, nghĩa vụ nào .
2.1.2. Đào tạo và hỗ trợ:
Bên được nhượng quyền hoặc người quản lý của họ và ít nhất một nhà điều hành
chính khác phải tham dự và hoàn thành chương trình đào tạo về sự hài lòng của KFC .
Nhóm 9
Trang 20
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
Theo quyết định của KFC, các nhân viên khác phải tham dự và hoàn thành các
chương trình đào tạo đến sự hài lòng của KFC. Bên nhượng quyền, các nhà quản lý
của họ và các nhân viên khác cũng phải tham dự các khóa học bổ sung, chương trình,
hội thảo như KFC có thể yêu cầu. Các chương trình đào tạo sẽ kéo dài khoảng bốn
ngày, với phiên họp kéo dài từ 8 đến 10 giờ một ngày. KFC cũng sẽ cung cấp hỗ trợ
trong các lĩnh vực dịch vụ khách hàng, quản lý cửa hàng nói chung, kiểm soát chất
lượng, chuẩn bị sản phẩm mới và bảo trì thiết bị.
2.1.3. Lãnh thổ :
Chủ thương hiệu không có bất kỳ sự bảo vệ nào trong phạm vi địa lí hoạt động
hoặc khu vực dành riêng cho việc bán các sản phẩm của KFC. Bên nhượng quyền có
thể phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nhà được nhượng quyền khác , từ các nhà
hàng là các đại lý riêng, hoặc từ các kênh phân phối hoặc các nhãn hiệu cạnh tranh
kiểm soát từ bên được nhượng quyền hoặc các chi nhánh của họ.
2.1.4. Nghĩa vụ và hạn chế:
Bên nhượng quyền có trách nhiệm để thực hiện đầy đủ các thỏa thuận cấp phép.

nguyên liệu hiện nay.Việc phát triển kinh tế thế giới thúc đẩy quá trình hội nhập ngày
càng cao của các quốc gia là một điều kiện thuận lợi cho KFC trong việc mở rộng
chiến lược nhượng quyền của mình tới nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ hơn. Và bằng
chứng là hiện KFC đang có mặt tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ .
2.1.5.2. Thách thức:
- Sự cạnh tranh về giá:
Gia nhập thị trường thế giới, KFC mong muốn mở rộng tăng thêm lợi nhuận và
phát triển qui mô công ty để gia tăng thêm giá trị thương hiệu. Cũng lúc này khi xâm
nhập vào thị trường thế giới KFC cũng phải đối mặt với vấn đề gia tăng chi phí, sức
ép giảm chi phí từ mọi phía và nhất là khi mà các đối thủ cạnh tranh chính trong
ngành thức ăn nhanh như ông trùm Mac Donald luôn đặt mình ở vị trí ưu thế hơn về
chi phí và giá cả. Một thực tế có thể tìm kiếm được thông tin về giá cả của KFC và
McDonald nếu như KFC có giá khẩu phần gà dao động từ $1.8 - $11 thì McDonald có
xu hướng rẻ hơn trung bình khỏang $4 - $8; so với các hãng thức ăn nhanh khác thì
KFC được cho là có giá mắc hơn. Để giải quyết được bài toán hóc búa này , KFC phải
tìm được cách để tối thiểu hóa chi phí của mình trên sản phẩm. Và bằng chứng là KFC
Nhóm 9
Trang 22
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
tận dụng những nơi liên tục có năng lực sản xuất dư thừa và những nơi tiềm năng khách
hàng rộng lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam,…
Ngoài ra, họ tối ưu hóa sản xuất bằng cách sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có từ
quốc gia mà họ hâm nhập vào bên cạnh vẫn sử dụng duy trì công thức bí quyết riêng
của họ được lưu tại Mỹ bằng việc ứng dụng các công nghệ kỹ thuật mới trong việc
chế biến, bảo quản thực phẩm KFC đã nâng cao hơn hiệu quả hoạt động của mình.
Thêm vào đó, với việc nhìn nhận thị trường, lựa chọn chiến lược kinh doanh tốt, KFC
đã tối ưu chi phí tạo nên sự đồng bộ trong hình ảnh thương hiệu của mình. Vào tháng
12/2002 năm khó khăn của ngành thực phẩm thức ăn nhanh. Nếu như ông trùm
McDonald phải chịu lỗ 212 triệu bảng Anh, đóng của hàng trăm cửa hàng bán lẻ và
ghi nhận tình trạm giảm doanh thu 20% trong suốt 6 tháng 2002 tại Anh thì KFC lại

chất cho cơ thể. Những món này họ có thể tự chế biến tại nhà hay vô các nhà hàng,
nơi mà họ có thể vừa ăn vừa trò chuyện với bạn bè hay gia đình. Đó thực sự là một
thách thức không nhỏ đối với các thương hiệu thức ăn nhanh nói chung và KFC nói
riêng .
- Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường:
Một trong những đối thủ lớn nhất của KFC hiện nay chính là
McDonald's.
McDonald’s đã tạo ra cuộc cách mạng mới về cách phục vụ đồ ăn cách đây
khoảng 50 năm trước, là nhà tiên phong trong lĩnh vực thành lập chuỗi cửa hàng thứa
ăn nhanh. McDonald’s là thương hiệu thống lĩnh và có tốc độ tăng trưởng lớn
nhất trong thị trường đồ ăn nhanh ở 120 nước trên 6 châu lục. McDonald’s hiện
đang hoạt động với trên 29,000 cửa hàng trên toàn thế giới và theo ước tính thì doanh
thu tổng cộng năm 2000 đã là hơn 40 tỉ đô la Mỹ.
Ngoài ra, Loteria cũng là một trong những đối thủ đáng gờm của KFC tại những
thị trường mà nó hiện diện. Lotteria đã có mặt tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Trung Quốc và Việt Nam. Thế mạnh của của Loteria chính là hamburger theo công
thức chế biến đặc biệt của Hàn Quốc. Lotteria có nhiều lọai hamburger với hương vị
phong phú, hấp dẫn .
Bên cạnh 2 đối thủ trên, KFC cũng đang phải đối diện với những thương hiệu
nổi tiếng khác như Jolibee, Chicken Town,… cũng đang cố gắng chinh phục thị
trường thức ăn nhanh.
2.2. Lợi ích KFC mang lại cho bên nhận nhượng quyền:
Nhóm 9
Trang 24
Bài tập nhóm môn: QTKD Quốc Tế GVHD: PGS. T.S Nguyễn Thị Như Liêm
2.2.1. Có quyền sử dụng hệ thống điều hành kinh doanh, cơ cấu tổ chức và
thương hiệu KFC nổi tiếng đã được chứng nhận. Được cấp giấy phép sẽ hoạt động
một cửa hàng KFC được đặc trưng bởi một hệ thống duy nhất mà bao gồm các công
thức nấu ăn đặc biệt và các mục menu, đặc biệt thiết kế, trang trí và đồ nội thất, chi
tiết kỹ thuật và thủ tục cho các hoạt động thủ tục kiểm soát chất lượng, đào tạo và hỗ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status