Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
MỤC LỤC
Phần A: Lý thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế…………… trang 02
I. Chu kỳ sống theo quan điểm truyền thống……………………… trang 02
II. Học thuyết về chu kỳ sống sản phẩm quốc tế……………………… trang 02
1. Các giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm quốc tế…………………. trang 03
2. Nội dung của học thuyết……………………………………………. trang 06
III. Ý nghĩa của học thuyết ……………………………………… trang 08
Phần B: Phân tích sự tác động và vận dụng học thuyết đó đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam qua ví dụ TCT công nghiệp tàu thủy Nam Triệu…….
…………………………………………………………. trang 04
I. Giới thiệu về TCT Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu……………….trang 10
II. Phân tích sự tác động và vận dụng học thuyết đó đối với các nước đang phát
triển như Việt Nam qua ví dụ TCT công nghiệp tàu thủy Nam Triệu
………………………………………………………………………….trang 11
1. Đặc điểm ngành đóng tàu ………………………………………… trang 11
2. Tầm quan trọng của ngành đóng tàu ……………………………… .trang 12
3. Nhược điểm của ngành đóng tàu ………………………………… .trang 13
4. Thực tế học thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế ngành đóng tàu qua TCT
công nghiệp tàu thủy Nam Triệu …………………………………… .trang 14
III. Tóm lại………………… ………………………………………….trang 22
1
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
A. LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ SỐNG (VÒNG ĐỜI) CỦA SẢN PHẨM
QUỐC TẾ : (internatinal Product Life Cycle Theory)
I. Chu kỳ sông sản phẩm theo khái niệm truyền thống:
Chu kỳ sống của một sản phẩm tại thị trường nội địa hoặc tại một thị
trường nhất định nào đó thường thì có 4 giai đoạn:
1. Giới thiệu là giai đoạn sản phẩm đang được đưa vào thị trường. Trong
giai đoạn này doanh số tăng trưởng chậm, chưa có lợi nhuận vì phải chi phí nhiều
cho việc giới thiêu sản phẩm ra thị trường.
- Qui mô và cầu trúc thị trường là quan trọng trong việc quyết định mô
hình thương mại.
2. Các giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm quốc tế:
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ
sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là:
- Giai đoạn sản phẩm mới: đây là giai đoạn sản phẩm được cải tiến và độc
đáo trong một số thuộc tính. Sự đổi mới đòi hỏi lao động kỹ năng cao và lượng tư
bản lớn để nghiên cứu và phát triển, và sản phẩm thường được thiết kế và sản
xuất ban đầu gần công ty mẹ và thị trường công nghiệp hoá cao. Trong giai đoạn
này, sản phẩm chưa được tiêu chuẩn hoá và quá trình sản xuất đòi hỏi mức độ
3
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
linh hoạt cao. Nhà sản xuất sẽ giữ vị trí độc quyền với lợi nhuận biên cao, độ đàn
hồi giá của nhu cầu thì thấp, vì người tiêu dùng thu nhập cao sẽ mua không chú ý
đến giá. Hầu hết các sản phẩm mới được phát triển và sản xuất đầu tiên ở các
quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn( các nước tiên tiến). Nguyên nhân chủ yếu
của tình hình này là một số lượng lớn người tiêu dùng có thu nhập cao, có mong
muốn về các sản phẩm mới và nguồn cung ứng phong phú những công nhân kỹ
thuật có trình độ chuyên môn cao tạo ra một lợi thế tương đối về năng lực R & D.
Trong giai đoạn này hàng hoá được tiêu dùng trong nước và nhu cầu trên thị
trường ít đàn hồi so với giá, thiết kế và sản xuất hàng hoá vãn ở giai đoạn thử
nghiệm nên nơi nghiên cứu và nơi sản xuất cần phải liên hệ chặt chẽ, thường
xuyên
- Giai đoạn sản phẩm chín muồi: khi sản xuất mở rộng, quá trình của nó
ngày càng tiêu chuẩn hoá, nhu cầu linh hoạt trong thiết kế và sản xuất giảm dần,
nhu cầu lao động kỹ năng cao giảm. Doanh nghiệp tăng lượng bán sang các quốc
gia khác và bị cạnh tranh bởi các sản phẩm khác biệt chút ít, làm giảm áp lực về
giá và lợi nhuận biên, chi phí sản xuất ngày càng được quan tâm. Trong giai đoạn
này, xuất khẩu gia tăng, tuy nhiên trong lúc này những đối thủ cạnh tranh ở
những quốc gia khác sẽ thực hiện phát triển sản phẩm thay thế để đổi chỗ sản
đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm. Và mỗi giai đoạn sản phẩm ở mỗi quốc
gia khác nhau có thể có các quãng thời gian kéo dài khác nhau. Một sản phẩm có
thể đang ở giai đoạn suy thoái tại thị trường nội địa, nhưng cùng sản phẩm đó có
thể lại đang ở giai đoạn giới thiệu tại quốc gia A, hoặc đang ở giai đoạn tăng
5
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
trưởng tại quốc gia B, giai đoạn trưởng thành tại quốc gia C. Hơn nữa, một sản
phẩm mới thường có giai đoạn giới thiệu ở thị trường nội địa trước.
3. Nội dung của học thuyết:
- Giai đoạn I: Nước phát minh vừa là nước sản xuất vừa là nước xuất
khẩu. Giai đoạn này giá cả rất đắt, các nước phát triển là nước nhập khẩu, các
nước đang phát triển khó có khả năng tiếp cận, nếu có nhập khẩu thì rất ít.
- Giai đoạn II: Nước phát minh giảm sản xuất và dịch chuyển sang các
nước phát triển hoặc đang phát triển. Nước phát triển giảm nhập khẩu, tăng sản
xuất. Các nước đang phát triển bắt đầu tiếp cận với sản phẩm nhưng chỉ thuần
nhập khẩu.
6
Xuất khẩu
I
II
III
IV
Nhập khẩu
Nước phát minh
Nước phát
triển
Nước đang phát
triển
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
- Giai đoạn III: Nước phát triển sản xuất sản phẩm không những đã đáp
hàng ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những nhu cầu đòi hỏi khác nhau, do đó
việc thực hiện chính sách sản phẩm quốc tế như thế nào cho phù hợp vừa là một
sự cần thiết vừa vô cùng khó khăn, thí dụ như 5 quốc gia cùng ở Châu Aâu (Anh,
Ý Ðức, Pháp, Thụy Ðiển) nhưng có các yếu cầu khác nhau về loại máy giặt sử
dụng cho gia đình: tự động hay bán tự động, chiều cao, chiều rộng ra sao, sử
dụng nước nóng, nước lạnh hay nước bình thường
III. Ý nghĩa của học thuyết:
- Vòng đời sản phẩm quốc tế áp dụng phổ biến cho các sản phẩm công
nghiệp đặc biệt là những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.
- Vòng đời sản phẩm quốc tế kéo dài hơn vòng đời sản phẩm quốc gia.
- Trong vòng đời sản phẩm quốc tế chuyển giao công nghệ diễn ra từ nước
phát minh sang nước phát triển khác và từ nước phát triển qua những nước đang
phát triển.
- Lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế cho phép giải thích vì sao
các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh của họ từ chỗ xuất khẩu
sang thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
- Thuyết chu kỳ của sản phẩm quan trọng nhất ở điểm nó giải thích đầu tư
quốc tế. Thuyết này nhận ra được tính linh động của vốn qua các quốc gia, bác bỏ
giả định truyền thống về sự không linh hoạt của các yếu tố, nó chuyển tâm điểm
8
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
chú ý từ quốc gia sang sản phẩm. Điều này làm cho việc phối hợp giữa sản phẩm
theo giai đoạn trưởng thành sang các địa điểm sản xuất, để xác định năng lực
cạnh tranh.
- Học thuyết này giải thích cho chúng ta rõ vì sao hơn 25 năm đổi mới, mở
cửa, hội nhập nước ta vẫn còn tiếp nhận những công nghệ cũ, lạc hậu từ nguồn
vốn FDI. Việc các doanh nghiệp FDI mang công nghệ thấp vào nước ta, hay việc
chính các doanh nghiệp nước ta mua công nghệ thấp hoàn toàn không phải vì
phía nước ngoài muốn chơi xỏ ta, biến ta thành bãi rác công nghệ; hay các doanh
nghiệp nước ta quá kém cỏi trong việc lựa chọn công nghệ. Khi đầu tư, các doanh
8. Công ty CP CNTT Sông Chanh
9. Công ty CP Công nghiệp Đúc Vinashin
10. Công ty CP Vận tải Viễn dương Nam Triệu
11.Công ty CP CNTT Thanh Hóa
12.Công ty CP CNTT Hoàng Long Vinashin
13.Công ty CP Vận tải biển CNTT Nghệ an Vinashin
Địa chỉ: xã Tam Hưng – huyện Thủy Nguyên – TP Hải Phòng
Email [email protected]
Website : http:\\www.nasico.com.vn
* Lĩnh vực kinh doanh:
10
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Tư vấn thiết kế, kinh doanh, tổng thầu đóng mới và sửa chữa tàu thủy, thiết
bị và phương tiện nổi; thi công công trình, nhà máy đóng tàu; sản xuất kinh
doanh thép, thép cường độ cao ; sản xuất, lắp ráp các thiết bị nội thất tàu; sản
xuất động cơ diesel, động cơ thủy; …
* Một số SP chủ lực:
II. Phân tích sự tác động và vận dụng học thuyết đó đối với các nước
đang phát triển như Việt Nam qua ngành đóng tàu biển ở Việt Nam. Cụ thể
là Tông công ty công nghiệp tàu thủy Nam Triệu:
1. Đặc điểm của ngành đóng tàu:
Lịch sử phát triển kinh tế - làm giàu của nhân loại khắp năm châu đã chứng
minh: Những nước giàu có, thuộc mười nước giàu nhất trên thế giới chính là các
nước được gọi là “Quốc gia biển” như: Mỹ, Nhật Bản, Canada, Anh, Pháp, Ý,
Nga… Ngay ở Đông Nam Á và quanh biển Đông nẩy sinh những con Rồng Châu
Á: Hàn Quốc, Đài Loàn, Hồng Kông, Singapore. Kinh tế biển (KTB) bao gồm
sáu ngành kinh tế: cảng, đóng tàu, hải sản, dầu khí, du lịch biển và lấn biển. Đặt
vào bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, với cách xếp thứ tự như trên đủ để
khẳng định hai ngành kinh tế biển: Cảng – Đóng tàu nắm giữ vai trò chủ chốt,
11
nguồn điện năng vô cùng lớn phục vụ cho quá trình sản xuất. Chính vì vậy bên
cạnh xây dựng một nhà máy đóng tàu lớn thường kèm theo các nhà máy nhiệt
điện sử dụng than đá hoặc than nâu…
− Công nghệ chế tạo các thiết bị nâng: các loại cẩu 5T, 10T, 20T, 50T
trang bị ngay trên tàu. Các cần cẩu này được đặt trên một phương tiện nổi là tàu,
nên quy trình điều khiển khác xa các cẩu đặt trên bờ.
− Công nghệ vũ khí, khí tài: Điều này mang tính bắt buộc đối với tàu quân
sự, nhất là đối với tàu ngầm như công nghệ giận chìm tàu ngầm sâu 1000m; công
nghệ điều hoà không khí trong các khoang tàu. Các khí tài hiện đại như: pháo, tên
lửa, máy rà thuỷ lôi…biết bao nhiêu chủng loại vũ khí rất hiện đại, kỹ thuật cao
mà Việt Nam ta cho đến nay chưa tiếp cận được.
− Các ngành công nghệ cao khác: Máy lạnh, phòng chống cháy nổ, y tế,
viễn thông, bảo quản lương thực và thực phẩm
3. Nhược điểm ngành đóng tàu: dễ gấy ô nhiễm môi trường mạnh nhất
trong các ngành KTB
So với năm ngành KTB còn lại thì đóng tàu và sửa chữa tàu có tốc độ làm
mất cần bằng sinh thái nhanh, thải ra nhiều chất độc hại, nhất là những chất ảnh
hưởng đến sức khỏe của con người. Vụ tai tiếng Nhà máy đóng tàu Huyndai -
13
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Vinashin Khánh Hoà chôn trộm 100 tấn gỉ - xỉ đồng cũng đủ lý giải cho sự bất
cập này. Không những thế, ở Việt Nam do thiếu điện một cách thường xuyên và
trầm trọng, nên nhiều ngành công nghiệp trong đó đóng tàu, bên cạnh những
xưởng, nhà máy đóng tàu còn kéo theo nhà máy nhiệt điện như: Nam Triệu,
Posco Vân Phong - Khánh Hoà… Điều này đã làm môi trường đã ô nhiễm lại
càng ô nhiễm thêm. Nên nhớ rằng việc giảm tuổi thọ con người rất khó đong
đếm. Ở châu Âu, sau một thế kỷ đóng tàu, bây giờ người ra mới sáng mắt ra. Vì
vậy họ thải ra - ta lại tranh thủ ôm vào. Đúng là một cái bẫy bất thành văn bản.
4. Thực tế học thuyết chu kỳ sông sản phẩm quốc tế ngành đóng tàu
biển Việt Nam qua trường hợp Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Nam Triệu:
các cường quốc đóng tàu trên giới Sau năm 1945, Nhật Bản xây dựng hàng loạt
nhà máy đóng tàu vừa để đón đầu vừa để cạnh tranh với các nước Tây Âu và Mỹ.
Ở Hàn Quốc, ngành công nghiệp đóng tàu của mới bắt đầu hình thành vào những
năm 1960, đến năm 1993, lần đầu tiên Hàn Quốc trở thành nhà sản xuất tàu lớn
nhất trên thế giới, vượt qua cả Nhật Bản. Nhiều năm liên tục, Hàn Quốc dẫn đầu
về lượng đơn đặt hàng đóng tàu với 44% thị phần thế giới. Ngành đóng tàu Hàn
Quốc có tính cạnh tranh mạnh mẽ do các hãng đóng tàu hoạt động có hiệu quả,
công nghệ đạt trình độ cao, đi kèm với những lợi thế rõ ràng về cảng biển và
thềm lục địa. Họ rất thành thạo trong việc đóng các tàu lớn chất lượng cao, như
15
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
các tàu chở công-ten-nơ, tàu chở dầu thô và khí ga thiên nhiên hóa lỏng.
Samsung Heavy, Huyndai Heavy Industries và Daewoo Shipbuilding & Marine
Engineering của Hàn Quốc hiện là 3 tập đoàn đóng tàu lớn nhất thế giới.
Giai đoàn này, các nước phát minh ra tàu biển giảm sản xuất do sự bão hòa
trong nước, đồng thời nhận thấy rằng: ngành đóng tàu gây ra ô nhiễm môi trường
nặng nề nên đã bắt đầu dịch chuyển sản xuất tàu thủy ra nước ngoài bằng hình
thức đầu tư,Các loại tàu chở hàng hóa thông thường được chuyển giao cho các
nước phát triển: Tây Âu, Nhât Bản, Hàn Quốc. Các nước phát triển gia tăng sản
xuất trong nước để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Các nước đang phát triển gia đoạn này vẫn còn phải nhập khẩu, tuy nhiên
bắt đầu tham gia vào thị trường sản xuất tàu biển trên thế giới ở mức độ thấp. Các
nước này là Trung Quốc, Brazil, Việt Nam…
4.3 Giai đoạn 3:
Đến những năm 90 của thế kỷ XX, các nước phát minh như Mỹ, Anh, Hà
Lan chỉ chú trọng sản xuất tàu biển với tính chất đặc thù có công nghệ rất cao
như tàu ngầm, tàu chiến, tàu chở xăng dầu, gaz…, các loại tàu thông thường khác
được được nhập khẩu nhu cầu trong nước từ các nước phát triển như Tây âu,
Nhật Bản, Hàn Quốc
Các nước phát triển gia tăng sản xuất, sản phẩm không những đáp ứng
cho nhu cầu quốc gia.
Trong khi đó, các nước đang phát triển dưới áp lực của sự phát triển kinh
tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động đã chấp nhận phát triển ngành đóng
tàu với nhiều cơ hội không những cho ngành đóng tàu mà cho cả những ngành
phụ trợ khác. Tuy nhiên cũng đứng trước những rủi ro về môi trường và sức khỏe
cho người dân. Các nước đang phát triển không những sản xuất đáp ứng nhu cầu
thị trường nội địa mà còn xuất khẩu sang các nước phát minh, các nước phát
triển.
Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đã thay đổi ngành này và ngày càng xuất
hiện nhiều các tập đoàn xuyên quốc gia, không loại trừ cả các hợp đồng hợp tác
kỹ thuật, công nghệ giữa các nhà sản xuất. Các hợp tác này bao gồm đủ các lĩnh
vực: từ công nghệ vỏ, động cơ, phương tiện liên lạc đến việc trang bị sinh hoạt
thiết yếu cho thủy thủ đoàn. Cao hơn nữa là mua bán giấy phép sản xuất, chuyển
giao công nghệ đóng tàu hoàn chỉnh. Đây là xu thế tất yếu để giảm chi phí đóng
tàu, tăng lợi nhuận tối đa. Tuy nhiên, công nghệ động cơ và các nghi khí hàng hải
tinh xảo, độ ồn và tiêu phí năng lượng thấp, đặc biệt để dùng cho tàu chuyên
dụng vẫn mãi là độc quyền của các nhà sản xuất, các cường quốc sản xuất tàu
thủy trước đây.
* Hoạt động sản xuất của TCT côn nghiệp tàu thủy Nam Triệu:
Theo học thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế, Tổng công ty công nghiệp
tàu thủy Nam Triệu hiện đang ở giai đoạn 4 của các sản phẩm ngành đóng tàu.
18
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Việt Nam - quốc gia biển và làm giàu từ kinh tế biển là chủ trương có tầm
nhìn thế kỷ đưa Việt Nam giàu mạnh trong thế kỷ 21 của Đảng và Nhà nước.
Phát triển ngành công nghiệp đóng tàu là bước đi nối dài trong chiến lược ấy, thể
hiện tầm nhìn của Chính phủ trong việc điều hành với ưu tiên mọi nguồn lực cho
phát triển ngành công nghiêp này bằng các hỗ trợ về cơ chế, mặt bằng đất đai
nhanh và đảm bảo uy tín quốc gia bằng khoản vay tín dụng quốc tế 750 triệu
USD cho Vinashin.
hợp đồng đóng mới và sửa chữa các phương tiện thuỷ cho khách hàng trong và
ngoài nước. Từ năm 1999, sau 35 năm hoàn thành xây dựng đợt I, được Đảng -
Nhà nước quan tâm đầu tư, Tổng công ty tiến hành nâng cấp, nâng cao năng lực
sản xuất - kinh doanh. Sự kiện này cùng với việc xác định chiến lược sản xuất -
kinh doanh đúng đắn, chiến lược chất lượng sản phẩm, đầu tư chiều sâu cả về
trang thiết bị và xây dựng đội ngũ. . Từ năm 2006 đến nay, Tổng công ty đã đóng
và bàn giao hàng loạt các sản phẩm có chất lượng như: tàu 610 TEU số 2, 2 tàu
10.500 DWT xuất khẩu cho Công ty NOMA Nhật Bản và đặc biệt là tàu dầu
13.500 DWT và tàu hàng 22.500 DWT. Tàu dầu 13.500 DWT là những con tàu
chở dầu đầu tiên có trọng tải lớn được đóng mới thành công, có cấu tạo phức tạp,
đòi hỏi tính chính xác rất cao, đặc biệt tàu được lắp hệ thống tự động hóa toàn
phần, khi hành trình trên biển không cần người trực ca, tàu 22.500 DWT là tàu
hàng có trọng tải lớn, tính năng kỹ thuật cao, được gia công lắp ráp trên dây
20
Chu kỳ sống SP quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
chuyền công nghệ tiên tiến của Tổng công ty. Các con tàu này đều đáp ứng yêu
cầu chất lượng, tiêu chuẩn quốc tế, được các cơ quan đăng kiểm NK (Nhật Bản),
đăng kiểm BV (Pháp), đăng kiểm Việt Nam xác nhận và được bạn hàng trong
nước và quốc tế đánh giá cao. Việc đóng thành công những sản phẩm trọng điểm,
mang tính quốc gia và quốc tế cùng với quy mô và thị trường ngày càng phát
triển rộng lớn, Tổng công ty đã khẳng định vị trí, năng lực và thương hiệu của
mình trước khách hàng trong và ngoài nước, mở ra hướng phát triển mới cho
ngành Công nghiệp tàu thủy Việt Nam trên lĩnh vực đóng tàu xuất khẩu.
Theo nguyên tắc học thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế, ở giai đoạn 4
TCT công nghiệp tàu thủy Nam Triệu hiện đã tiếp cận với công nghệ sản xuất tàu
biển của thế giới, sản xuất cho tàu biển đáp ứng nhu cầu của các hãng vận tại
trong nước. Hơn nữa, TCT đã xuất khẩu sản phẩm tàu biển do minh sản xuất trở
lại các nước phát minh và các nước đang phát triển.
21