Bài tập QTKDQT giao tiếp cá nhân trong kinh doanh quốc tế - Pdf 22

BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Bài tập nhóm :
Hiểu thế nào là giao tiếp cá nhân trong kinh doanh quốc tế?
Bằng một ví dụ cụ thể hãy phân tích sự tác động và ứng xử
của doanh nghiệp trong môi trường tự do cá nhân .
I. LÝ THUYẾT VỀ GIAO TIẾP CÁ NHÂN TRONG KINH DOANH
QUỐC TẾ:
1.1. Giao tiếp cá nhân là gì:
Ngày nay trong mỗi nền văn hóa có một hệ thống giao tiếp để truyền đạt ý nghĩ, tình
cảm, kiến thức, thông tin qua lời nói, hành động và chữ viết. Và thông thường để biểu thị
hành vi trong giao tiếp con người thường diễn tả chính thông qua ngôn ngữ. Chính vì vậy
hiểu ngôn ngữ thông thường của một nền văn hóa cho phép chúng ta biết được tại sao
người dân nơi đó lại suy nghĩ và hành động như vậy. Hiểu các hình thức ngôn ngữ khác
nhau (ngoài ngôn ngữ thông thường) của một nền văn hóa giúp chúng ta tránh đưa ra
những thông tin gây ngượng ngùng hoặc ngớ ngẩn đồng thời nhằm đạt được nhiều hiệu
quả cao trong ngoại giao và công việc. Đó cũng chính là những hành trang cơ bản để việc
thực hiện giao tiếp cá nhân có thể mang lại kết quả tốt nhất, vì vậy việc lựa chọn các
ngôn ngữ và sử dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố
then chốt để việc giao tiếp có thể thuận lợi và hiệu quả là một vấn đề rất quan trọng.
1.1.1. Ngôn ngữ thông thường:
Ngôn ngữ thông thường là một bộ phận trong hệ thống truyền đạt thông tin của một nền
văn hóa được thể hiện thông qua lời nói hoặc chữ viết. Sự khác nhau dễ thấy nhất khi
chúng ta đến một quốc gia khác là ngôn ngữ thông thường. Chúng ta sẽ phải lắng nghe và
tham gia vào các cuộc đàm thoại, đọc các văn bản liên quan để tìm đường. Chỉ có thể
1
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
hiểu thực sự một nền văn hóa khi biết ngôn ngữ của nền văn hóa đó, do vậy ngôn ngữ là
quan trọng đối với tất cả các hoạt động kinh doanh quốc tế.
Mỗi một dân tộc có một ngôn ngữ đặc trưng riêng của họ. Ví dụ, dân số Malaysia gồm có
người Mã Lai (60%), Trung Quốc (30%) và Ấn Độ (10%). Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ

đến các hoạt động của doanh nghiệp mà có khi lại còn là rào cản cho những thành công
nếu không biết tận dụng những mặt ảnh hưởng tốt của nó.
1.2.1. Ảnh hưởng của giao tiếp cá nhân đến hoạt động giao dịch, đàm phán, ký kết
hợp đồng kinh doanh quốc tế
Ảnh hưởng trực tiếp của giao tiếp cá nhân lên hoạt động hoạt động giao dịch, đàm phán
ký kết hợp đồng kinh doanh quốc tế đó là tác động lên chính hành vi của các chủ thể kinh
doanh quốc tế. Những hành vi đó sẽ in dấu lên các hoạt động của họ thông qua những
quy tắc xã giao, cách nói năng ứng xử ngôn ngữ giao tiếp mà họ sử dụng trong quá trình
giao tiếp, đàm phán, thương lượng với khách hàng.
Một yếu tố văn hóa có ảnh hưởng rõ rệt đến giao tiếp trong hoạt động giao dịch, đàm
phán, ký kết hợp đồng của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế đó chính là ngôn ngữ.
Hiểu biết về ngôn ngữ và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ thành thạo của thương nhân là một
thuận lợi hết sức to lớn trong việc giao tiếp với các thương gia nước ngoài, cũng như
trong việc tìm hiểu từ phong tục tập quán, thói quen làm việc, nhu cầu tiêu dùng cho đến
môi trường chính trị, luật pháp của nước mà họ có quan hệ buôn bán. Nếu năng lực ngoại
ngữ hạn chế, các thương nhân có thể gặp khó khăn trong khi đàm phán hoặc trao đổi ý
tưởng kinh doanh, dẫn đến hiểu lầm lẫn nhau và gây ra sự trì hoãn trong hoạt động buôn
bán song phương hay hợp tác kinh doanh. Sự bất đồng về ngôn ngữ đôi khi là rào cản rất
lớn trong việc giao tiếp với những thương nhân và doanh nghiệp nước ngoài. Hai người
nói chuyện với nhau bằng tiếng mẹ đẻ vẫn có thể hiểu lầm nhau, bởi thế giao tiếp bằng
ngoại ngữ lại càng khó khăn hơn. Ở một số quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung
3
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Quốc hay cả Việt Nam thì việc dùng chính ngôn ngữ địa phương trong giao tiếp vẫn dẫn
đến nhầm lẫn do họ có nhiều cách nói khác nhau để diễn đạt cùng một nội dung.
Hiện nay ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất trong giao tiếp quốc tế là tiếng Anh, tuy
nhiên việc biết tiếng địa phương vẫn là một thuận lợi, bởi phần lớn mọi người chuộng sự
khác biệt trong ngôn ngữ riêng của họ và việc nói tiếng địa phương có thể hình thành mối
quan hệ tốt rất quan trọng trong giao tiếp thương mại. Thông thường doanh nghiệp hay

tác khó giao dịch với nhau. Chính điều này khiến cho quá trình đàm phán kinh doanh với
các đối tác nước ngoài có những nét đặc thù riêng và ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động
kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp.
1.2.2. Ảnh hưởng của giao tiếp cá nhân đến hoạt động quản trị nguồn nhân lực của
các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế:
Cùng với hoạt động kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, chuyện các nhóm làm việc có
nhiều người mang quốc tịch khác nhau đến từ chính các quốc gia địa phương hoặc từ các
dân tộc khác đã không còn xa lạ trong nhiều công sở. Các nhóm làm việc bao gồm các
thành viên đến từ những quốc gia, lãnh thổ khác nhau thường đòi hỏi nhà quản lý phải có
những kỹ năng đặc thù, đặc biệt khi trong nhóm xảy ra mâu thuẫn đòi hỏi nhà quản lý
phải giải quyết êm thấm.
Những khó khăn của nhà quản lý đối với các nhân viên của mình trực tiếp là do yếu tố
ngôn ngữ địa phương của mỗi quốc gia nơi doanh nghiệp đang hoạt động. Nếu doanh
nghiệp không am hiểu ngôn ngữ của nước bản địa thì không thể hiểu hết được những nhu
cầu, mong muốn của nhân viên mình nên không thể đưa ra những chính sách khuyết
khích, tạo động lực làm việc với người lao động và khi có xung đột xảy ra thì việc giải
quyết gặp nhiều khó khăn do nhà quản lý không hiểu được các nguyên nhân của vấn đề.
Ngay cả khi các doanh nghiệp sử dụng một ngôn ngữ chung thống nhất tại nơi làm việc
thì những rắc rối vẫn xảy ra do các ngôn ngữ chung này vẫn được người sử dụng nói theo
các phương ngữ và lối diễn đạt khác nhau. Mặc dù ngôn ngữ kinh doanh quốc tế chủ yếu
là tiếng Anh, nhưng đôi khi vẫn xảy ra hiểu lầm do những người sử dụng nhấn mạnh sai
5
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
trọng âm, không nói trôi chảy hoặc dịch sai ý. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp chú
trọng công tác làm việc nhóm thì vấn đề ngôn ngữ lại càng quan trọng hơn. Những nhân
viên không nói thông thạo ngoại ngữ lại có thể là người giỏi nhất trong lĩnh vực chuyên
môn nhưng lại gặp những khó khăn trong giao tiếp khiến mọi người không nhận ra. Nếu
đồng nghiệp coi thường hoặc không kiên nhẫn, mâu thuẫn chắc chắn sẽ xảy ra. Những
nhân viên không thông thạo ngoại ngữ có thể cảm thấy ít có động lực đóng góp vào thành

nhà quản trị trong việc hiểu và nhận ra những mong muốn, nhu cầu của nhân viên từ đó
có thể đáp ứng được các tâm tư, nguyện vọng của họ cũng như biết cách giải quyết vấn
đề khi có xung đột xảy ra.
1.2.3. Ảnh hưởng của giao tiếp cá nhân đến hoạt động tiếp thị, quảng bá thương hiệu
của doanh nghiệp:
Với tổng số hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ thì ước tính trên thế giới, số ngôn ngữ
được sử dụng cũng xấp xỉ chừng đó. Chính sự đa dạng về ngôn ngữ đã khiến các doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn khi đưa sản phẩm của mình thâm nhập thị trường nước ngoài.
Biết bao nhiêu doanh nghiệp đã phải đổ mồ hôi, công sức và rót không ít tiền của để tìm
cho mình những tên gọi, khẩu hiệu đầy ý nghĩa và ấn tượng nhưng đôi khi chính những
tên gọi, những khẩu hiệu này lại làm cho kế hoạch thâm nhập thị trường của các doanh
nghiệp bị phá sản.
Chúng ta có thể đơn cử một ví dụ về một hãng bút nổi tiếng thế giới Parker, khi tiến vào
thị trường Mexico đã tung hô rầm rộ khẩu hiệu "Chiếc bút tạo cảm giác êm ái và không
làm thủng túi áo bạn." Nhưng một sự nhầm lẫn tai hại đã xảy ra với hai từ đồng âm trong
tiếng Mexico, người dân nước này đã dịch khẩu hiệu này thành "Nó sẽ không đâm thủng
nhưng làm bạn mang bầu." Tương tự như vậy lời quảng cáo cho món gà rán đầy hấp dẫn
của Kentucky với mục đích là mang tới hương vị thơm ngon từ mười đầu ngón tay khi
thưởng thức đã bị hiểu thành "Hãy ăn những ngón tay của bạn”.
Rào cản về ngôn ngữ khi dịch các quảng cáo, tên hãng, tên sản phẩm đã trở thành một
trong những khó khăn lớn mà các doanh nghiệp phải đương đầu trong quá trình tham gia
vào thương mại quốc tế. Điều này chứng tỏ rằng ngôn ngữ dành cho quảng cáo là đôi khi
7
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
lại là con dao hai lưỡi, chỉ cần doanh nghiệp mắc phải những điều tối kỵ trong ngôn ngữ
một vùng thì dù ý đồ quảng cáo của doanh nghiệp ấn tượng đến mấy cũng sẽ bị phá sản
khi chuyển sang ngôn ngữ vùng đó. Cách tốt nhất để có thể vượt qua rào cản này là
doanh nghiệp nên tìm người quản lý hiểu rõ ngôn ngữ và tập quán của nước "chủ nhà,"
nhưng điều này cũng không phải là dễ bởi vì ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp

Cả nước có 22 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 thành phố trực thuộc trung ương, 2 đặc khu hành
chính. Thiên nhiên đa dang thuận lợi phát triển các lĩnh vực kinh tế.
Dân cư, xã hội
II.1.3. Dân Cư: Đặc điểm dân cư Trung Quốc:
+ Đông dân nhất thế giới: hơn 1,3 tỉ người (2005), chiếm 1/5 dân số thế giới.
+ Dân số tăng nhanh qua các thời kỳ, hiện nay đã có xu hướng tăng chậm lại.
+ Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên giảm, tuy nhiên số người tăng thêm hàng năm vẫn cao
+ Có trên 50 dân tộc, trong đó chủ yếu là người Hán
Thuận lợi: + Nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ tạo nên sức cạnh tranh mạnh
mẽ của sản phẩm Trung Quốc.
+ Đa dạng về bản sắc văn hóa, là điều kiện để phát triển du lịch
Khó khăn: Gây sức ép lên tài nguyên, môi trường, giải quyết việc làm, tệ nạn xã hội
II.1.4. Tính cách dân tộc.
Đất nước Trung Quốc là một đất nước có lịch sử lâu dài, gắn với những cuộc đấu tranh
tranh giành lãnh thổ của các bộ tộc, bộ lạc nhằm thống nhất đất nước. Các bộ tộc, bộ lạc
9
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
ai cũng cho mình là mạnh nhất, xứng đáng để làm chủ đất nước. Do ảnh hưởng của lịch
sử người Trung Quốc luôn đề cao dân tộc mình và bản thân mình. Họ cho rằng mình là
trung tâm của vũ trụ là thứ nhất. Vì vậy khi nói về Trung Quốc người ta thường nói đến
số 1, số 1 ngoài việc là số trung tâm đó còn là còn số duy nhất, tức là người Trung Quốc
cho rằng mình là duy nhất xứng đáng làm chủ thế giới này.
Do ảnh hưởng của các cuộc đấu tranh, người Trung Quốc có cấu kết dân tộc rất cao. Họ
rất trung thành với chính quyền, với Đảng mà mình đã lựa chọn. Hị không bao giờ phản
bội hay đi ngược lại lý tưởng mà mình đã chọn lựa. Người Trung Quốc rất thâm thuý.
Người ta thường nói: “Người Trung Quốc giống như cái hố sâu, ở bên trong thì chứa
đựng nhiều thứ nhưng mặt nước lại êm ả, không gợn sóng”. Khó ai hiểu được người
Trung Quốc nghĩ gì, muốn gì. Họ còn được coi là con sư tử mà người ta thường nói:
“Không nên đánh thức con sư tử đang ngủ” vì khi thức dậy không biết con sư tử đó sẽ

Tuy nhiên cũng có những điều kiêng kỵ. Người Trung Quốc có rất nhiều điều kiêng kỵ,
một số điều kiêng kỵ của họ là:
- Họ kiêng con số 4 vì số này phát âm giống chữ “tử” nghĩa là chết.
- Trong giao tiếp, kiêng ôm vai hay vỗ lưng kiêng trỏ tay vào người đối diện vì cho rằng
như thế là bất lịch sự. Khi rót nước, người hán kiêng để miệng bình trà đối diện với
khách bởi lẽ quan niệm dễ khiến khách gặp điều chẳng lành. Họ cũng kiêng tặng khăn
mặt cho nhau vì như thế là tỏ ý đoạn tuyệt ( trong tang lễ người ta dùng khăn trắng). Họ
kiêng tặng nhau dao kéo vì sợ làm thương và tổn hại đối phương.
2.3. Các yếu tố quan trọng trong đàm phán kinh doanh của người Trung Quốc:
- Mối quan hệ:
11
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Trong khi người Mĩ coi trọng mạng lưới quan hệ, thông tin, vào thể chế, thì người Trung
quốc coi trọng giá trị xã hội (nhóm bạn bè, họ hàng, những cộng sự thân cận). Ngày nay,
quan niệm này có thay đổi, nhưng nó vẫn có ảnh hưởng quan trọng. Người có nhiều mối
quan hệ thân quen sẽ là người chiến thắng. Quan hệ tốt cũng dựa trên sự "có đi có lại".
Ơn huệ luôn được ghi nhớ, báo đáp, nhưng không phải ngay lập tức. Ở Trung quốc,
người ta không vội vàng, nhịp sống nông nghiệp cần nhiều thời gian.
Sự hồi đáp theo thời gian dài là hòn đá tảng trong việc duy trì mối quan hệ. Bỏ qua sự hồi
đáp, với người Trung quốc đó là một thái độ xấu, vô đạo đức, là "vong ân bội nghĩa", nó
giết chết bất cứ việc làm ăn nào trong tương lai.
- Qua người trung gian:
Người Trung quốc nghi kị và không tin tưởng khi gặp gỡ người lạ, vì vậy ẽ khó thành
công nếu không có "người trung gian". Lòng tin chỉ được truyền tải qua quan hệ tin cậy
ba bên. Mục tiêu đầu tiên là bạn phải tìm được "người trung gian" có mối liên hệ thân
thiết với tổ chức, quan chức mà bạn cần tiếp cận (họ có thể là đồng hương, thân nhân,
bạn học, bạn làm ăn cũ, ). Điều quan trọng, mối liên hệ đó dựa trên "kinh nghiệm cá
nhân".
Ở Trung quốc, bước đi đầu tiên cực kì quan trọng. Một "người trung gian" cũng không

làm ăn. Với người Trung quốc cố gắng làm ăn khi chưa đủ sự tin cậy, hòa hợp là một
việc làm khiếm nhã.
Cho tới nay quyền sở hữu và Luật Hợp đồng ở Trung quốc gần như không tồn tại hoặc
không theo chuẩn phương Tây. Vì vậy không có gì phải bàn cãi khi người Trung quốc
dựa nhiều vào lòng tin hơn là những bản Hợp đồng được bàn thảo kĩ.
Một chiến thuật rất phổ biến ở Trung quốc gọi là "Lưỡng thủ chuẩn bị", tức là dọa sẽ làm
ăn với người khác. Một phần văn hóa mặc cả của người Trung hoa.
13
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
- Tư duy tổng hợp:
Người Trung quốc có tư duy tổng thể, họ có xu hướng bàn tất cả các vấn đề cùng lúc.
Trong khi người Mĩ lại tư duy trình tự, chi tiết từng vấn đề một. Sự khác biệt tư duy là
nguyên nhân dẫn đến căng thẳng trong đàm phán.
Tóm lại khi đàm phán với Trung quốc, bạn phải chuẩn bị thảo luận mọi thứ cùng một lúc,
theo một trình tự có vẻ lộn xộn. Không có thứ gì được thỏa thuận cho tới khi mọi thứ đã
thỏa thuận xong. Sẽ là tín hiệu tốt nếu các nhà lãnh đạo cao cấp Trung quốc tham gia
cuộc họp hoặc họ bắt đầu tập trung vào một số khía cạnh cụ thể của Hợp đồng, thái độ
mềm mỏng hơn ở một số vấn đề, yêu cầu thêm cuộc họp, sự hiện diện của "người trung
gian", bổ xung một số điều khoản phụ.
- Tiết kiệm:
Với lịch sử lâu dài đầy bất ổn chính trị và kinh tế đã dạy người dân tính tiết kiệm. Họ
đàm phán rất nhiều và mặc cả chủ yếu về giá. Người Trung quốc rất giỏi sử dụng chiến
thuật im lặng trong đàm phán.
Để bảo vệ mức giá người Trung quốc sử dụng tính kiên nhẫn và sự im lặng làm vũ khí
chống lại sự thiếu kiên nhẫn và tính ba hoa của người Mĩ. Hãy kiên nhẫn và hỏi lại người
Trung quốc: tại sao có giá đó, lịch giao hàng, điều khoản bảo hiểm,
- Thể diện:
Văn hóa kinh doanh Trung quốc: uy tín và địa vị xã hội hoàn toàn dựa vào việc giữ thể
diện. Khái niệm thể diện của người Trung quốc cũng giống khái niệm phẩm giá, uy tín

Đặc trưng của mô hình này thể hiện ở những điểm nổi bậc về việc tái cơ cấu tự do mới đó
tập trung vào biến đổi vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, kéo theo việc hạn chế sử
dụng chi tiêu của chính phủ và đánh thuế để điều hòa chu kỳ kinh doanh, nới lỏng hoặc
hủy bỏ điều tiết của chính phủ đối với hành vi của tư bản trong các lĩnh vực trong nước
15
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
và quốc tế, tư hữu hóa các doanh nghiệp nhà nước và tiện ích công, cắt giảm mạnh ngân
sách cho các chương trình xã hội. Sự tái cơ cấu đó được gọi là “tự do mới” bởi nó là một
hình thái được cập nhật và cực đoan hơn của lý thuyết kinh tế “tự do cổ điển” do Adam
Smith và David Ricardo phát triển trong thế kỷ XVIII và XIX, với lập luận rằng nền kinh
tế tư bản chủ yếu tự điều tiết thông qua hoạt động của các lực lượng thị trường.
Chủ nghĩa tự do mới ngày nay có quy mô rộng lớn hơn do sự tiến bộ của khoa học – công
nghệ, nhất là công nghệ thông tin, đã làm cho các dân tộc gần với nhau hơn và do toàn
cầu hóa cùng với hội nhập quốc tế đang diễn ra trên một phạm vi rộng hơn với cường độ
mạnh mẽ hơn.
Ưu điểm:
Sự thắng lợi của nền kinh tế theo chủ nghĩa tự do mới được minh chứng bằng sự thăng
hoa của nền kinh tế Mỹ nửa sau thập kỷ 90 với tăng trưởng kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp khá
thấp và ít lạm phát, sản lượng và năng suất cao hơn.
Mô hình kinh tế tự do mới đề cao vai trò cá nhân. Thật vậy một xã hội muốn phát triển
thịnh vượng trước hết phải phát huy tính độc lập, sáng tạo của mọi cá nhân và muốn làm
được như vậy phải có một môi trường xã hội tự do thông thoáng. Sự can thiệp quá sâu
của nhà nước có thể dẫn đến tình trạng mất đi tự do và khả năng tự chủ, sáng tạo của cá
nhân. Chính sách kinh tế dựa trên tư tưởng thị trường tự do với yếu tố chủ đạo của tư
tưởng này là cần hạn chế vai trò của chính phủ và thay thế bằng các lực lượng thị trường.
Mô hình kinh tế tự do mới giúp tăng tính cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp dẫn đến
nền sản xuất sẽ hiệu quả hơn, hàng hóa sẽ đa dạng và phong phú hơn.
Mô hình kinh tế tự do mới giúp cho đồng vốn lưu thông dễ dàng hơn. Điều đó giúp cho
các nước đang phát triển thu hút được nhiều vốn đầu tư từ đó hấp thu, tiếp cận nhanh hơn

cầu hóa và cạnh tranh ngày càng khốc liệt làm cho hệ thống kinh tế thế giới bước qua
nhiều giai đoạn thăng trầm biến đổi. Sự cạnh tranh khốc liệt từ thị trường bên ngoài cộng
với xu hướng toàn cầu hóa đã gây nhiều ra áp lực lớn đối với nền kinh tế không chỉ hệ
17
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
thống các nước trong khối TBCN mà còn cả CNXH chính vì vậy sự biến đổi về chiến
lược kinh tế của hệ thống các nước XHCN nói chung và Trung Quốc nói riêng đã có
nhiều sự thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế. Quá trình toàn cầu hóa đã làm tăng áp lực
cạnh tranh phải đối mặt với các tập đoàn lớn từ bên ngoài làm cho mô hình kinh tế hoạt
động dưới sự quản lý của nhà nước đã không còn sức cạnh tranh thích hợp và hiệu quả
đặt biệt là cuộc khủng hoảng thế giới năm 1997 đã gián một đòn mạnh mẽ vào nền kinh
tế thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng. Quá trình phát triển trở thành một cường
quốc kinh tế như hiện nay của Trung Quốc là một quá trình áp dụng thành công mô hình
tế hiệu quả đồng thời đã vận dụng được những lợi thế quốc gia để có thể làm tăng hiệu
quả xuất nhập khẩu trên thị trường thế giới.
Hiện nay Trung Quốc là một trong những quốc gia hàng đầu về xuất nhập khẩu tại thị
trường Châu Á và Mĩ. Quốc gia này đã tận dụng triệt để những lợi thế cá nhân của mình
trên thị trường quốc tế để giao thương thành công với các quốc gia khác một cách hiệu
quả. Với thành quả hiện nay hầu hết tại các quốc gia trên thế giới điều in đậm hình ảnh
cũng như văn hóa đặc thù của người Trung Quốc khi quan hệ với quốc gia này, sự thành
công của nền kinh tế đã để lại một ấn tượng sâu sắc riêng về bản sắc cá nhân đặc thù
riêng của người Trung Quốc khi tham gia vào thị trường quốc tế.
III.2. Áp dụng của Trung Quốc vào thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam:
+ Là một quốc gia lớn đồng thời có mối quan hệ gần gũi với Việt Nam về văn hóa cũng
như khoảng cách Trung Quốc gần như đã tìm kiếm được thị trường khách hàng mục tiêu
hoàn hảo để trở thành ứng cử sáng giá cho việc trở thành quốc gia có khả năng vượt mặt
Mỹ về xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tương lai.
Nhìn trên tổng thể quan hệ hợp tác kinh tế thương mại nhiều mặt hai nước, Việt Nam là
nước nhập siêu lớn từ Trung Quốc, thường xuyên chiếm khoảng 60% tổng nhập siêu của

Quốc và thâm nhập được vào thị truờng rộng lớn này. Có như vậy Việt Nam mới cải
thiện được cán cân mậu dịch và tránh được những rủi ro của mối quan hệ kinh tế bất đối
xứng hiện nay.
19
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Điều này đòi hỏi sự xem xét toàn diện, kĩ lưỡng của tất cả các bộ ngành liên quan, với
các chính sách điều chỉnh phù hợp, để thương mại Việt Nam ngang hàng với đối tác láng
giềng khổng lồ. Ngoài ra, trong những năm vừa qua Mỹ là đối tác xuất khẩu lớn nhất
Việt Nam, trong đó chủ yếu là xuất các mặt hàng quần áo và giày dép. Bên cạnh đó điện
thoại di động và các phụ kiện liên quan dần trở thành nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ hai
của Việt Nam (sau quần áo), chiếm hơn 10% sản lượng xuất khẩu. Ngân hàng thế giới
đánh giá đến năm 2013, mặt hàng này sẽ vượt qua sản phẩm may mặc trở thành nguồn
doanh thu xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Nhu cầu về quần áo và giầy dép ít bị ảnh hưởng từ sự biến động kinh tế toàn cầu so với
các hàng hóa khác. Điều này kết hợp với tốc độ tăng trưởng nhanh trong việc xây dựng
thị phần trong ngành viễn thông, đã giúp Việt Nam tránh khỏi ảnh hưởng từ sự sụt giảm
về nhu cầu hàng hóa trên toàn thế giới trong thời gian gần đây. Xuất khẩu của Việt Nam
được kỳ vọng sẽ tăng trưởng ớ mức hơn 10% mỗi năm cho đến cuối năm 2030 với xuất
khẩu sang các nước mới nổi còn lại của châu Á, khu vực Trung Đông và châu Phi.
Theo nhiều chuyên gia nhận định rằng với những ưu thế hiện nay của cá nhân Trung
Quốc thì tương lai không xa sẽ trở thành một trong những quốc gia thâu tóm thị trường
xuất nhập khẩu Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung.
Việc thành công của kinh tế Trung Quốc nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng một phần
không nhỏ là sự ảnh hưởng của tự do cá nhân đến cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu. Sự
cẩn thận, chu toàn và nhạy bén của người Trung Quốc đã chạm đến nhu cầu của thị
trường nơi mà họ đặt chân đến và chấp nhận họ như là một điều tất yếu. Chính vì vậy mà
khi thâm nhập vào thị trường như Việt Nam quốc gia này gần như đã tận dụng được tất
cả những lợi thế có sẵn và nghiên cứu thật kĩ về đối phương để gần như Trung Quốc đã
có thể vượt mặt đối thủ để trở thành đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam về

21
NHÓM 11
BT.Nhóm Môn: QTKD Quốc tế GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm

và nhiều tạp chí báo mạng khác.
22
NHÓM 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status