Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 22

Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam, một nước đang trong quá trình phát triển và hội nhập, từ quốc gia có
thu nhập thấp đến nay trở thành quốc gia ở ngưỡng đầu có thu nhập trung bình. Việt
Nam có hệ thống tài chính, kinh tế còn nhỏ bé nên dễ bị tổn thương khi có các tác
động của khủng hoảng tài chính, kinh tế của thế giới và những khó khăn từ nội tại
nền kinh tế.
Đảm bảo an ninh tài chính, đặc biệt đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài
chính là một vấn đề quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong quá trình phát triển và
hội nhập kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy, Nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu:
“Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị
trường tiền tệ Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” cho luận án
tiến sỹ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
+ Chuyên đề thứ nhất: “giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống rửa
tiền ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
+ Chuyên đê thứ hai: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát vi mô
các tổ chức tín dụng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
+ Chuyên đề thứ ba: “Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho
hoạt động của thị trường tiền tệ Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Ba chuyên đề nghiên cứu của Nghiên cứu sinh đã được hội động nghiệm thu của
Học viện Ngân hàng nghiệm thu thông qua vào ngày 25 tháng 11 năm 2011.
Ngày 22 tháng 3 năm 2013, Nghiên cứu sinh đã bảo vệ đề tài luận án cấp cơ sở
trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở. Sau khi có kết quả chấm luận án tiến sĩ cấp
cơ sở và ý kiến của các Thành viên hội đồng, ý kiến kết luận của Chủ tịch hội đồng,
đề tài luận án tiến sĩ tiếp tục được bổ sung và hoàn chỉnh để bảo vệ trước hội đồng.
1
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
đánh giá, nhận định, nguyên nhân và bài học;
Chương 3: Giải pháp về an ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH TÀI CHÍNH CHO THỊ TRƯỜNG
TÀI CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Tổng quan về an ninh tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1. Khái niệm về an ninh tài chính
Theo quan điểm của Thống đốc Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ, an ninh tài
chính có thể được tăng cường thông qua sự hiện hữu của hệ thống hoạt động trơn tru. Đây
là một quan điểm tổng thể và bao gồm hệ thống thanh toán, cơ sở hạ tầng về công nghệ
cũng như khung quản lý và giám sát. Giữa an toàn tài chính và an ninh tài chính có mối
liên kết chặt chẽ.
Theo tài liệu An ninh tài chính quốc gia lý luận cảnh bảo, đối sách – Nhà xuất bản tài
chính tháng 7 năm 2004 của nhóm tác giả do Giáo sư, tiến sỹ khoa học Tào Hữu Phùng
(chủ biên) và tài liệu nghiên cứu của nhóm tác giả Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ
Tài chính, an ninh tài chính có khái niệm như sau:
An ninh tài chính là một khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chính ổn
định, an toàn, vững mạnh và không bị khủng hoảng.
Ổn định được hiểu là duy trì được hoạt động bình thường, không có những biến
động đột ngột, bất thường. Tuy nhiên, cần phải hiểu sự ổn định trong sự vận động và
phát triển. Ổn định không có nghĩa là cố gắng giữ nguyên mọi thứ như cũ mà là giữ
được ổn định trong tiến trình phát triển đi lên, không ngừng cải tiến và hoàn thiện.
An toàn được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm do các tác động bên trong và
bên ngoài. Giữ được an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hại cho mình đồng thời
ngăn chặn và chống lại được sự tấn công phá hoại từ bên ngoài. Nếu ổn định là tiền đề
3
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
c. An ninh tài chính khu vực;
d. An ninh tài chính toàn cầu;
1.1.2.5. Phân loại theo tính chất
a. An ninh tài chính thực;
b. An ninh tài chính “ảo” hay an ninh tài chính hình thức
1.1.2.6. Phân loại theo mức độ
a. An ninh tài chính mức độ cao;
b. An ninh tài chính được đảm bảo;
c. An ninh tài chính không được đảm bảo;
d. Mất an ninh tài chính;
1.1.2.7. Phân loại theo thị trường tài chính
a. Căn cứ tính chất chuyên môn hoá thị trường: an ninh thị trường công cụ nợ;
an ninh thị trường công cụ vốn; an ninh thị trường công cụ phái sinh. Nói một cách
tổng quát, thị trường tài chính hoạt động trên cơ sở giao dịch các loại tài sản tài
chính;
b. Căn cứ vào cơ cấu thị trường: an ninh thị trường sơ cấp, an ninh thị trường thứ
cấp;
c. Căn cứ vào thời hạn của các công cụ tài chính: an ninh tài chính của thị
trường tiền tệ và ngân hàng; an ninh tài chính thị trường vốn; an ninh thị trường bảo
hiểm;
1.2. Tổng quan về thị trường tài chính
1.2.1. Khái niệm về thị trường tài chính
Thị trường tài chính là thị trường của các công cụ tài chính và trong đó nguồn tài
chính được kết chuyển từ người có vốn dư thừa sang người thiếu vốn, thông qua các
mối quan hệ trao đổi, mua bán các công cụ tài chính.
Nếu nhìn nhận đơn giản có thể hiểu, thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động
mua bán các công cụ tài chính.Thị trường tài chính là môi trường ở đó hệ thống tài chính
5
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ

Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
với trọng tâm nghiên cứu của Đề tài luận án Tiến sĩ.
+ Thị trường tiền tệ và ngân hàng là nơi giao dịch ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn về vốn. Thị trường tiền tệ và ngân hàng bao gồm:
- Thị trường huy động vốn và cho vay của tổ chức tín dụng đối với tổ chức kinh
tế, dân cư, các tổ chức, các cá nhân khác (thường gọi là thị trường một).
- Thị trường vay và cho vay lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng (thường gọi là
thị trường hai);
- Thị trường vay, mua, bán giữa ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng
(thường gọi là thị trường ba).
+ Thị trường chứng khoán là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động giao dịch
và mua bán chứng khoán. Xét về mặt bản chất thì thị trường chứng khoán là nơi
phân phối lại các nguồn vốn từ chủ thể dư thừa vốn với các chủ thể có nhu cầu về
vốn trong nền kinh tế thị trường tập trung, thị trường phi tập trung.
+ Thị trường bảo hiểm là thị trường diễn ra quá trình mua, bán các sản phẩm
bảo hiểm. Thị trường bảo hiểm bao gồm thị trường bảo hiểm nhân thọ và thị trường
bảo hiểm phi nhân thọ.
1.2.3. Mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành thị trường tài chính.
Các thị trường cấu thành thị trường tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nhất là hai thị trường chủ yếu của thị trường tài chính là thị trường tiền tệ và ngân
hàng, thị trường chứng khoán.
Thị trường tiền tệ và ngân hàng ngày càng thống nhất với thị trường vốn trong
hoạt động của thị trường tài chính quốc gia, ngày càng mang tính toàn cầu. Những biến
động trong nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến thị trường này sau đó sẽ tác động ngay đến thị
trường khác.
Ngày nay, theo phát triển của kinh tế toàn cầu, hoạt động thị trường tài chính
ngày càng tinh vi, phức tạp, các loại công cụ tài chính có quan hệ chặt chẽ với
nhau, các thị trường hoạt động quan hệ qua lại tác động trực tiếp lẫn nhau, ranh
giới phân chia các loại thị trường chỉ mang tính tương đối, các công cụ tài chính

niệm cơ bản chỉ một trạng thái ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủng hoảng
8
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
trong hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng.
1.3.1.2. Nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu của an ninh tài chính cho hoạt động
thị trường tiền tệ và ngân hàng
a. Nhân tố ảnh hưởng
a1. Ổn định hoạt động thị trường tiền tệ và ngân hàng.
*) Ổn định hoạt động thị trường một
+ Ổn định nguồn vốn;
+ Ổn định sử dụng vốn;
*) Ổn định hoạt động của thị trường hai
*) Ổn định hoạt động thị trường ba
a2. An toàn hoạt động thị trường tiền tệ và ngân hàng
*) An toàn hoạt động thị trường một
+ Có nhiều yếu tố đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng,
trong đó các yếu tố chủ yếu đòi hỏi các tổ chức tín dụng luôn luôn phải đáp ứng, như:
• Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu;
• Các giới hạn về tín dụng;
• Tỷ lệ khả năng chi trả;
• Các giới hạn góp vốn, mua cổ phần;
• Các tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động.
Ngoài ra với đòi hỏi sự phát triển của các quốc gia, và qua các thời kỳ, các quy
định về an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng có thể được bổ sung hoặc thay đổi
theo chiều hướng ngày càng tăng cao.
*) An toàn hoạt động thị trường hai
Để đảm bảo hoạt động của thị trường này trong cạnh tranh là xác định tính
thanh khoản của thị trường, điều kiện vay và trả nợ vay trong chính sách an toàn của
hệ thống, đảm bảo các ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng hoạt động theo

Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và rủi ro hợp nhất là tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất luôn
≥8% (Theo quy định của Ủy ban Basel). Để đảm bảo an ninh tài chính, hấu hết các
quốc gia đều quy định mức tối thiểu luôn lớn hơn 9%. Theo quan điểm của Nghiên
10
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
cứu sinh, tỷ lệ này phải luôn lớn hơn 10% cho từng tổ chức tín dụng và toàn hệ thống
tổ chức tín dụng.
b2. Giới hạn tín dụng đảm bảo an ninh tài chính
+ Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được
vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng (giới hạn an toàn không được vượt quá
15% - thông lệ nhiều nước).
+ Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách
hàng theo quan điểm của Nghiên cứu sinh không vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức
tín dụng (giới hạn an toàn là 25% - theo thông lệ của nhiều nước).
+ Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng theo
quan điểm của Nghiên cứu sinh không được vượt quá 45% vốn tự có của tổ chức tín
dụng (thông lệ của nhiều nước mức giới hạn an toàn là 50%).
+ Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm
khách hàng có liên quan theo quan điểm của Nghiên cứu sinh không được quá 55%
vố tự có của tổ chức tín dụng (thông lệ của nhiều nước, mức giới hạn an toàn là
60%).
b3. Tỷ lệ về khả năng chi trả đảm bảo an ninh tài chính
+ Tỷ lệ tối thiểu theo quan điểm của Nghiên cứu sinh là 20% giữa tổng tài sản
“có” thanh toán ngay và tổng Nợ phải trả (thông lệ của nhiều nước tỷ lệ an toàn là tối
thiểu 15%).
+ Tỷ lệ tối thiểu bằng 1,5 giữa tổng tài sản “có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày
tiếp từ ngày hôm sau và tổng tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo
kể từ ngày hôm sau (theo quan điểm của Nghiên cứu sinh). Tỷ lệ này đối với mức an
toàn, thông lệ của nhiều nước là 1.

thống phải duy trì lãi thu được tăng qua các năm. Một tổ chức tín dụng bị thua lỗ, tổ
chức tín dụng đó mất an ninh tài chính. Cả tổ chức tín dụng lỗ, hoặc lợi nhuận giảm
so với các năm trước, cũng sẽ dẫn đến hệ thống mất an ninh tài chính.
c. Các chỉ số đánh giá sức chịu đựng của tổ chức tín dụng trước các cú sốc
trên thị trường tài chính
12
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Đối với mỗi rủi ro đặc thù trong hoạt động ngân hàng có những kỹ thuật kiểm
tra sức chịu đựng khác nhau. Những rủi ro dưới đây là những rủi ro phổ biến mà cơ
quan thanh tra, giám sát, quản lý cũng như các ngân hàng cần đo lường và đánh giá
để tránh các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra cho thị trường tiền tệ và ngân hàng:
+ Rủi ro tín dụng;
+ Rủi ro lãi suất;
+ Rủi ro tỷ giá;
+ Rủi ro thanh khoản;
+ Rủi ro lan truyền liên ngân hàng.
Mỗi rủi ro có các kỹ thuật kiểm tra sức chịu đựng và yêu cầu dữ liệu khác nhau.
c1. ST đối với rủi ro tín dụng
+ Phương pháp dựa trên mức dự phòng
+ Phương pháp ST vĩ mô
c2. ST đối với rủi ro lãi suất
+ Phương pháp phân tích khe hở định giá lại
+ Phương pháp phân tích khoảng thời lượng
c3. ST đối với rủi ro tỷ giá
+ Phương pháp trực tiếp ST đối với rủi ro tỷ giá
c4. ST đối với rủi ro thanh khoản
+ Phương pháp dựa trên bảng cân đối
+ Cách tiếp cận theo thời kỳ (Phương pháp dòng tiền)
c5. ST đối với rủi ro lan truyền

a. Các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về hoạt động kinh doanh chứng
khoán.
Các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến các định chế trung gian tài chính tham
gia thị trường chứng khoán, bao gồm:
+ Cơ quan giám sát phải đảm bảo điều kiện thấp nhất cho việc gia nhập thị
trường đối với các tổ chức trung gian thị trường và đồng thời đảm bảo sự công bằng
14
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
cho các tổ chức này. Việc giám sát là nhằm giảm rủi ro tổn thất cho nhà đầu tư bị gây
ra do các sai sót hoặc hành vi bất hợp pháp hay sự không đảm bảo an toàn vốn của
trung gian tài chính.
+ Phải có quy định về vốn ban đầu và vốn trong quá trình kinh doanh, các quy
định an toàn phản ánh đúng các rủi ro mà các tổ chức trung gian tài chính có thể gặp
phải.
+ Các tổ chức trung gian tài chính phải thực hiện việc tuân thủ các tiêu chuẩn về
tổ chức nội bộ, thực hiện nghiệp vụ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và quản lý rủi ro
phù hợp.
+ Phải có quy định về thủ tục giải quyết phá sản của tổ chức trung gian tài chính
nhằm giảm thiểu tổn thất cho nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro hệ thống.
b. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho các định chế tài chính tham
gia thị trường chứng khoán
+ Xây dựng các chỉ tiêu an toàn tài chính dựa trên các chỉ tiêu áp dụng cho hệ
thống ngân hàng theo nguyên tắc Basel I và Basel II. Hệ thống liên minh Châu Âu
đang áp dụng cho các định chế tài chính tham gia thị trường chứng khoán theo
nguyên tắc này. Tổ chức kinh doanh chứng khoán luôn luôn phải đáp ứng:
Vốn tự có =
Vốn tự có cấp I + Vốn tự có cấp II
8%≥
Tổng tài sản có rủi ro

1.3.3.3. Các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường bảo hiểm
Đối với việc giám sát trực tiếp khả năng thanh toán, ở một số nước căn cứ
vào quy định về “Biên khả năng thanh toán” (Solvency margin), ở một số nước
khác lại áp dụng phương pháp “Vốn trên cơ sở rủi ro” (Risk-based capital).
Các cơ quan giám sát yêu cầu các công ty phải duy trì hệ số này không dưới
100% nhằm đáp ứng yêu cầu đầy đủ vốn.
Hệ số này được tính như sau:
Hệ số biên khả năng thanh toán =
Biến khả năng thanh toán thực
100%≥
Biên khả năng thanh toán chuẩn
Theo quan điểm của Nghiên cứu sinh, để đảm bảo an ninh tài chính thì hệ số
này phải ≥ 110% (vùng đệm an toàn tuyệt đối là 10%)
16
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Đối với phương pháp thức hai “Vốn trên cơ sở rủi ro”, thì mức vốn tối thiểu
bù đắp cho những rủi ro mà công ty bảo hiểm đối mặt sẽ được tính dựa trên mức
độ những rủi ro đó.
17
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, an ninh tài chính cho thị trường tài chính là đảm bảo cho thị trường
hoạt động ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủng hoảng. Thị trường tài chính
bao gồm nhiều loại thị trường cùng hoạt động, trong đó, đặc biệt quan trọng là hoạt
động của thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo
hiểm hoạt động ổn định, an toàn, phát triển và nó có khả năng ngăn chặn khủng
hoảng sẽ tạo tiền đề chủ yếu cho đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính.
Thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm có mối

hoảng. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho các định chế tài chính tham gia thị
trường bảo hiểm bao gồm: các chỉ tiêu tối thiểu về biên khả năng thanh toán, các chỉ
tiêu về vốn tối thiểu
Thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm
hoạt động thống nhất trong thị trường tài chính.
Ngày nay thị trường tài chính liên thông toàn cầu rất cao cả về khối lượng và giá
trị giao dịch, do đó các quốc gia cần có các giải pháp toàn cầu để ngăn chặn bọn tội
phạm sử dụng thị trường tài chính để phạm tội, để rửa tiền…
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ AN NINH TÀI CHÍNH CỦA THỊ TRƯỜNG
TÀI CHÍNH VIỆT NAM, ĐÁNH GIÁ, NHẬN ĐỊNH,
NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC
2.1. Tổng quan về thị trường tài chính Việt Nam
Đến cuối năm 2012, tổng tài sản của hệ thống tài chính Việt Nam là 5.675 ngàn
tỷ đồng, bằng 213,2% so với GDP; trong đó riêng khu vực ngân hàng, tổng tài sản là:
5.502 ngàn tỷ Việt Nam đồng và bằng 206,7% so với GDP của năm 2012; tổng tài
sản của các công ty chứng khoán là 82 ngàn tỷ Việt Nam đồng và bằng 3,1% so với
GDP; tổng tài sản của các công ty bảo hiểm là: 108 ngàn tỷ Việt Nam đồng và bằng
19
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
4% so với GDP. Đến cuối năm 2012, vốn hóa thị trường chứng khoán bằng 26% so
với GDP của năm 2012.
2.2. Thực trạng về an ninh tài chính của thị trường tài chính Việt Nam, đánh
giá, nhận định, nguyên nhân và bài học
2.2.1. Thực trạng an ninh tài chính của thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam,
đánh giá, nhận định, nguyên nhân và bài học
2.2.1.1. Thực trạng về an ninh tài chính thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam
Cho đến nay, hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam có 125 tổ chức tín dụng và
chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng hợp tác xã và các quỹ tín dụng cơ sở,

chất là trên 17% so với tổng dư nợ (hơn 464 ngàn tỷ Việt Nam đồng, tương đương
hơn 23 tỷ đô la Mỹ).
Hệ thống ngân hàng Việt Nam có quy mô khá lớn và tăng nhanh so với GDP
qua các năm; tháng 12 năm 2007 tổng tài sản hệ thống ngân hàng mới đạt 80,5% so
với GDP; đến tháng 12 năm 2012 đã đạt 184,7% so với GDP; các khoản cho vay tăng
lên tương ứng so với GDP từ 63% lên 101% GDP.
+ Nhà nước chiếm giữ phần vốn trong lĩnh vực ngân hàng là rất lớn liên quan cả
đến quyền sở hữu trực tiếp và gián tiếp.
+ Hệ thống ngân hàng với mức độ cao của sở hữu chéo giữa các ngân hàng và
giữa các ngân hàng và doanh nghiệp.
+ Hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động ở các mức độ thông tin còn thấp về
tính minh bạch.
+ Nếu bóc tách tất cả mức sở hữu chéo và quá trình đầu tư, vay và cho vay giữa
các tập đoàn kinh tế có sở hữu ngân hàng hay công ty chứng khoán, công ty bảo
hiểm, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính thì tỷ lệ an toàn vốn (CARs) của
một số ngân hàng chưa đạt theo yêu cầu vốn tối thiểu là 9%.
+ Tăng trưởng tín dụng rất cao vào năm 2007 là 53,89% xuống còn 9,14% vào
năm 2012, đã tạo ra cú sốc cho các doanh nghiệp, cũng là một tác động lớn gây lên
nợ xấu cao.
Nợ đọng trong xây dựng cơ bản lớn dẫn đến nhiều công trình thi công dở dang,
21
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
kéo dài, hiệu quả đầu tư thấp, tổng nợ đọng xây dựng cơ bản đến nay khoảng 100
ngàn tỷ Việt Nam đồng; sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa khó khăn, hàng tồn
kho tăng cao; thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản sụt giảm mạnh và trì
trệ kéo dài…
Bài học được rút ra từ thực tiễn
+ Để đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam,
trước tiên phải xác định có tầm chiến lược và có lộ trình công khai để điều hành

+ Về tổ chức thị trường:
Việc duy trì hoạt động của hai sở giao dịch chứng khoán đã góp phần phát triển
thị trường chứng khoán trong thời gian qua, tuy nhiên hiện nay điều này cũng làm
cho thị trường chứng khoán bị chia cắt.
Thị trường trái phiếu chuyên biệt đã được thành lập và hoạt động tại Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội, song chủ yếu là trái phiếu Chính phủ. Giá trị trái phiếu
Chính phủ niêm yết trên 160 nghìn tỷ Việt Nam đồng song có quá nhiều trái phiếu.
2.2.2.2. Đánh giá, nhận định về an ninh tài chính của thị trường chứng khoán
Việt Nam, nguyên nhân và bài học
+ Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới và hoạt động còn nhỏ, vai
trò điều phối và cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế còn hạn chế.
+ Các nguyên nhân tạo nên thị trường chứng khoản nhỏ, nhưng tiềm ẩn các yếu
tố mất an ninh tài chính, trước hết là nguyên nhân nền kinh tế hoạt động bộc lộ yếu
kém, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, nợ xấu của doanh nghiệp tăng cao
dẫn đến nợ xấu ngân hàng tăng kỷ lục trong nhiều thập kỷ, hàng tồn kho lớn, tiêu thụ
giảm sút, thị trường bất động sản gần như đóng băng, tác động của khủng hoảng kinh
tế thế giới.
+ Bài học rút ra từ quá trình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt
Nam:
Thị trường cần phát triển ổn định chắc chắn, kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn phát
hành cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp, minh bạch thông tin của các doanh
nghiệp đã niêm yết theo các tiêu chuẩn thực sự kiểm soát được, phối hợp giám sát thị
23
Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
trường theo hướng giám sát dòng tiền, giám sát phối hợp giữa thị trường tiền tệ và
ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường vốn nói chung theo xu thế giám sát
hợp vốn.
2.2.3. Thực trạng về an ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm Việt Nam
2.2.3.1. Thực trạng an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt

của bảo hiểm ít tác động đến thị trường tài chính Việt Nam. Các quy định về bảo
hiểm bước đầu đã được xây dựng và các chuẩn mực giám sát đã được áp dụng.
Để phát triển thị trường bảo hiểm bền vững cần có những chính sách khuyến
khích, thúc đẩy, đồng thời có cơ chế quản lý, giám sát cho phù hợp, đảm bảo thị
trường phát triển được an toàn, ổn định và tránh được các tác động tiêu cực ảnh
hưởng đến thị trường.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, thị trường tài chính phát triển
với quy mô và tốc độ rất nhanh. Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ và
ngân hàng, tính ổn định chưa cao, lạm phát kéo dài trong nhiều năm đã tạo bất ổn cho
nền kinh tế vĩ mô, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh do
phải vay lãi suất ngân hàng quá cao, nợ quá hạn của các ngân hàng có xu thể tăng,
một số ngân hàng thanh khoản khó khăn, một số ngân hàng phải sáp nhập, cơ cấu lại
theo hướng sáp nhập với ngân hàng lớn hoặc có thể phải có sự can thiệp trực tiếp của
Ngân hàng Nhà nước…Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế gặp nhiều khó
khăn, nợ xấu ngân hàng tăng cao là nguy cơ gây mất ổn định thị trường, nếu không
xử lý tốt dễ dẫn đến khủng hoảng thị trường tiền tệ và ngân hàng và tác động đến
khủng hoảng thị trường tài chính Việt Nam. Về đặc điểm cơ cấu của thị trường tài
chính Việt Nam, thị trường tiền tệ và ngân hàng chiếm đa phần (luôn luôn trên dưới
200% so với GDP và gần 90% so với toàn thị trường).
Tuy nhiên, thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam hoạt động về cơ bản ổn định
chưa cao, an toàn ở mức thấp và phát triển khó khăn, có khả năng lâm vào khủng hoảng
do nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại tăng cao. Thị trường chứng khoán Việt
Nam mới phát triển từ năm 2000 nhưng đã có sự mất ổn định hoạt động, chưa thật an
25

Trích đoạn Đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Một số giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho các khoản vay nợ quốc gia ở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status