Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
SKKN: NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHI DẠY SỐ THẬP PHÂN Ở CHƯƠNG
TRÌNH TOÁN LỚP 5.
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Cơ sở lý luận:
Như chúng ta đã biết môn Toán có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là môn
khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới thực, có một hệ thống kiến thức cơ
bản và phương pháp nhận thức rất cần thiết cho đời sống, sinh hoạt lao động. Đó
cũng là công cụ rất cần thiết để học các môn học khác, ngoài ra toán học nó còn
giúp phát triển tư duy cho học sinh. Đặc biệt năng lực trừu tượng hóa, khái quát
hóa, khả năng tư duy và hợp lý và diễn đạt đúng. Các suy luận đơn giản kích thích
trí tưởng tượng…. Đó cũng chính là một phần quan trọng trong mục tiêu của môn
Toán ở Tiểu học. Để đáp ứng được mục tiêu trên, người giáo viên phải nắm vững
nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Dạy học môn Toán phải thực hiện được mục tiêu mới và quan trọng đó là: Giúp
học sinh tích cực ứng dụng các kiến thức và kỹ năng về môn Toán để giải quyết
những tình huống thường gặp trong đời sống hàng ngày. Nhiều giải pháp đã và
đang được nghiên cứu và áp dụng để góp phần thực hiện mục tiêu nói trên. Chính
vì vậy đòi hỏi người giáo viên không chỉ nắm vững nội dung, mục tiêu bài học mà
phải có phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm, đối tượng học sinh.
Môn Toán ở Tiểu học gồm 5 mạch kiến thức được bố trí xen kẽ nhau ở mỗi
lớp học , trong đó phần “ Số thập phân” là một trong những phần trọng tâm của số
học trong chương trình Toán Tiểu học và được đưa vào giữa học kỳ I của Lớp 5.
2. Cơ sở thực tiễn:
Môn Toán là một môn học đồng hành với các em theo suốt cả quá trình học tập,
nó có tầm quan trong rất lớn trong cuộc sống hàng ngày của các em. Là một môn
học giúp học sinh rèn luyện năng lực suy nghĩ và phát triển trí tuệ. Đối với học
sinh tiểu học thì tư duy trực quan và hình tượng chiếm ưu thế hơn. Nhận thức của
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
2
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
Về bản chất thì số thập phân là số hữu tỷ, phân số hay số thập phân ( hữu hạn
hay vô hạn tuần hoàn) là hai cách gọi khác nhau của cùng một loại số. Đó là số
hữu tỷ, số hữu tỷ là kết quả của sự trừu tượng hóa và khái quát hóa khái niệm phân
số phát triển thành đối tượng toán học trừu tượng. Với cách ký hiệu như a/b ( a, b
là các số tự nhiên, b ≠0). Nói bản chất của số thập phân là số hữu tỷ bởi vì: Số thập
phân chỉ là một trường hợp riêng của số hữu tỷ, phân số a/b ( a, b là các số tự
nhiên, b ≠0) là thương đúng của phép chia số tự nhiên a cho số tự nhiên b. Trước
đây trong tập hợp số tự nhiên, phép chia không phải lúc nào cũng là phép chia hết
( thương là số tự nhiên ). Trong nhiều trường hợp phép chia còn dư. Khi đó thương
không phải là thương đúng, nhưng phép chia phải dừng lại vì số dư nhỏ hơn số
chia nên không thể tiếp tục chia. Với sự hình thành số mới (Số thập phân) phép
chia có thể tiếp tục bằng cách chuyển đổi số dư ( là số ở hàng đơn vị thành số phần
mười để chia). Trong thực hành việc chuyển đổi đó được thực hiện bằng cách viết
thêm chữ số 0 ở bên phải số dư, đồng thời đặt dấu phẩy ở bên phải chữ số hàng
đơn vị ở thương( để tách phần nguyên và phần thập phân). Nếu chia tiếp vẫn còn
dư ở hàng phần mười thì tiếp tục chuyển sang hàng phần trăm để chia tiếp…Khi
đó có thể xẩy ra hai trường hợp ( trường hợp chia hết và không chia hết) . Hay nói
cách khác Số thập phân là dạng ký hiệu khác của phân số có mẫu số là
10,100,1000… Chính vì vậy bản chất của số thập phân là số hữu tỷ.
Trong chương trình Toán Lớp 5 nội dung kiến thức chương Số thập phân gồm
các bài sau:
Phần Số thập phân gồm:
- Khái niệm số thập phân
- Hàng của Số thập phân, Đọc, viết số thập phân.
- Số thập phân bằng nhau.
- Chưa nắm vững trọng tâm bài giảng.
- Khi dạy giáo viên chủ yếu còn lệ thuộc vào Sách giáo khoa để truyền thụ kiến
thức cho học sinh mà không biết cách khai thác bài như thế nào cho hiệu quả.
- Giáo viên phần lớn chưa phân loại được các đối tượng học sinh trong lớp mình
phụ trách để giảng dạy.
- Không khí lớp học nặng nề, không sôi nổi.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
4
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
* Đối với học sinh:
- Bị động trong tiếp thu kiến thức, tri thức các em tiếp nhận được chóng quên.
- Vận dụng vào thực hành thường máy móc không sáng tạo.
- Các em không say mê môn học.
2.2 Nguyên nhân của những tồn tại trên:
- Giáo viên ít khi chuẩn bị bài trước lúc lên lớp.
- Một số giáo viên chưa xác định rõ trọng tâm của bài dạy, cho nên khi khai thác
bài còn dạy đều đều không có điểm nhấn dẫn đến học sinh rất mơ hồ trong việc
tiếp nhận tri thức mới nên tri thức các em tiếp nhận được chóng bị lãng quên.
- Cách khai thác bài của giáo viên vẫn chủ yếu theo truyền thống đó là cung cấp
kiến thức chứ chưa giúp học sinh tự tìm ra kiến thức mới cho mình.
- Giáo viên chưa khai thác được vốn sống, vốn kinh nghiệm, vốn kiến thức có
sẵn của học sinh trong việc khai thác bài mới.
-Việc vận dụng các phương pháp dạy học cũng như hình thức dạy học chưa phù
hợp, chưa khơi dậy được tính tích cực học tập của học sinh.
2.3 Kết quả khảo sát thực tế:
Cụ thể qua khảo sát tình hình thực tế ở trường tôi, tôi đã thu được kết quả như
sau: ( Thời gian khảo sát vào cuối tháng 12 năm học 2008-2009)
mình là: Dạy cái gì? Dạy ai? Dạy nội dung này để làm gì? Dạy như thế nào? Muốn
dạy hay trước hết giáo viên phải nắm chắc nội dung cần dạy, nắm vững kiến thức
hiểu được ý đồ Sách giáo khoa, Giáo viên có nắm vững kiến thức, hiểu đối tượng
học sinh thì mới có thể đưa ra phương pháp thích hợp và chuẩn bị tổ chức cho học
sinh học tập có hiệu quả.
2. Phải nắm vững nội dung, mục tiêu, yêu cầu bài học và trên cơ sở đó xác
định trọng tâm của bài.
Việc nắm vững mục tiêu, yêu cầu và xác định rõ trọng tâm của bài dạy là một
vấn đề cực kỳ quan trọng trong quá trình giảng dạy. Nó giúp cho giáo viên tự tin,
làm chủ được tiết dạy và nó còn giúp cho giáo viên biết cách khai thác bài có
chiều sâu và đạt hiệu quả cao.
Ví dụ: * Khi dạy bài “ Cộng hai số thập phân ”
Mục tiêu: Biết: + Cộng hai số thập phân.
+ Giải bài toán với phép cộng các số thập phân.
Với mục tiêu trên thì trọng tâm của bài dạy là: Học sinh nắm được cách đặt
tính và tính về cộng hai số thập phân và vận dụng thực hành vào giải toán có lời
văn.
* Khi dạy bài “ Trừ hai số thập phân ”
Mục tiêu: Biết: + Trừ hai số thập phân.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
6
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
+ Vận dụng giải toán có nội dung thực tế.
Với mục tiêu trên thì trọng tâm của bài dạy là: Học sinh nắm được cách đặt
tính và tính về trừ hai số thập phân và vận dụng vào giải toán có lời văn.
* Khi dạy bài “ Chia một số thập phân cho một số thập phân”
Mục tiêu: Biết: + Chia một số thập phân cho một số thập phân.
+ Vận dụng trong giải toán có lời văn.
thực chất là kế hoạch tổ chức các hoạt động học cho học sinh, đó là những hoạt
động học mà mà học sinh cần và có thể thực hiện được. Những hoạt động này phát
huy vốn kinh nghiệm, vốn kiến thức sẵn có của các em, những điều gần gũi trong
cuộc sống hàng ngày của các em, các em tham gia hoạt động học một cách nhẹ
nhàng, tự nhiên và hứng thú. Khi đó học sinh là nhân vật trung tâm, học sinh phải
được hoạt động, tự tìm tòi, phát hiện, hình thành kiến thức, giáo viên chỉ là người
tổ chức hướng dẫn các hoạt động học tập cho học sinh. Đây là phần quyết định sự
thành bại của một tiết dạy.
Ví dụ minh họa về một số kế hoạch bài giảng khi dạy chương Số thập phân
trong chương trình Toán lớp 5 có hiệu quả:
Ngoài việc nắm vững kiến thức, xác định đúng mục tiêu và làm tốt công tác
chuẩn bị thì người giáo viên cần xây dựng cho mình một kế hoạch thật hoàn hảo
để khai thác bài được tốt . Cụ thể:
Ví dụ : Khi dạy bài “ Khái niệm Số thập phân”
Khái niệm Số thập phân được dạy trong 2 tiết ( Tiết 1 giới thiệu khái niệm về
số thập phân đơn giản, Tiết 2 giới thiệu khái niệm số thập phân – các thành phần
của số thập phân). Trên cơ sở những kiến thức đã có về số tự nhiên, cấu tạo thập
phân của số, số đo độ dài, phân sô, từ đó học sinh thấy được sự mở rộng tập hợp
số tự nhiên sang tập hợp số mới, thấy được số thập phân với hình thức ghi tiện
dụng của nó là những phân số đặc biệt có mẫu số là 10,100,1000… Giải pháp mà
Sách giáo khoa sử dụng để hình thành kiến thức cho học sinh đó là đưa ra một số
ví dụ về các độ dài khác nhau rồi yêu cầu đưa về cùng một đơn vị đo. Trên cơ sở
đó người giáo viên cần khai thác bài như sau để mang lại hiệu quả cao trong phần
cung cấp kiến thức cho học sinh. Cụ thể:
1.Giới thiệu bài.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
8
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
m dm cm mm
0 1
0 0 1
0 0 0 1
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
- Giáo viên chốt lại cách viết 1/10m; 1/100m ; 1/1000m thành 0,1m ; 0,01m;
0,001m.
? Vậy phân số thập phân 1/10 ; 1/100 ; 1/1000 được viết thành gì? ( Được viết
thành 0,1 ; 0,01 ; 0,001)
- Giáo viên nhắc lại, nhấn mạnh và viết bảng: Phân số thập phân 1/10; 1/100;
1/1000 được viết thành 0,1 ; 0,01 ; 0,001).
- Giáo viên viết số 0,1 lên bảng và giới thiệu cách đọc số 0,1. Số 0,1 đọc là:
Không phẩy một ( Giáo viên nhấn mạnh cách đọc số cho học sinh rõ)- Gọi học
sinh đọc số 0,1.
- Giáo viên hỏi và nhấn mạnh :Em hãy cho biết 0,1 bằng phân số thập phân
nào? ( 0,1=1/10)
Gọi học sinh nhận xét và đồng thời giáo viên ghi bảng 0,1=1/10- Yêu cầu học
sinh đọc: Không phẩy một bằng một phần mười .
- Giáo viên hướng dẫn cách đọc viết số 0,01; 0,001 tương tự .
- Giáo viên chỉ vào các số 0,1; 0,01; 0,001 rồi đọc lần lượt từng số và giới thiệu:
Các số 0,1; 0,01; 0,001 gọi là Số thập phân( Giáo viên nói chậm và nhấn giọng
cụm từ gọi là Số thập phân ).
- Tương tự hướng dẫn học sinh nhận biết được các số 0,5; 0,07 ; 0,009 cũng là số
thập phân.
Qua 2 ví dụ trên em có nhận xét gì về cách viết khác của phân số thập phân?
( Các phân số thập phân có thể viết dưới dạng Số thập phân)
- Gọi học sinh nhắc lại.
- GV chốt lại và nhấn mạnh : Các phân số thập phân có thể viết dưới dạng Số
thập phân
- GV ghi bảng cách đặt cộng hai số tự nhiên:
184
+ 245
429(cm)
- Gọi học sinh thực hiện phép cộng- GV đồng thời ghi bảng kết quả phép cộng
- Yêu cầu học sinh đổi 429cm về đơn vị mét.
+ 429cm bằng bao nhiêu mét? ( 4,29m )- GV ghi bảng:429cm= 4,29m.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
11
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
+ Vậy 1,84 +2,45 bằng bao nhiêu? ( GV nhấn mạnh) HS nêu
- GV ghi bảng 1,84 + 2,45 = 4,29
- GV nêu: Trong bài toán trên để tính tổng1,84m+2,45m các em đã phải đổi từ
đơn vị mét thành đơn vị xăng-ti-mét rồi tinh, sau khi đó được kết quả lại đổi về
đơn vị mét. Làm như vậy rất mất thời gian, vì vậy thông thường người ta sử dụng
cách đặt tính như sau:
- GV ghi bảng cách đặt tính 1,84
+ 2,45
( GV ghi song song cùng phép tính 184 và không nói gì )
+ 245
+ Em có nhận xét gì về cách đặt tính đối với số thập phân? – GV nêu câu hỏi và
nhấn mạnh – Học sinh trả lời ( Đặt số hạng này dưới số hạng kia sao cho các hàng
thẳng cột với nhau, dấu phẩy thẳng cột với dấu phẩy)
- GV yêu cầu học sinh: Em hãy cộng hai số này như cộng đối với số tự nhiên.
GV gọi một học sinh thực hiện cộng đồng thời GV ghi bảng kết quả tính.
? Em có nhận xét gì về cách đặt dấu phẩy ở tổng? GV nêu câu hỏi và nhấn mạnh
HS trả lời ( Dấu phẩy ở tổng được đặt thẳng cột với dấu phẩy ở các số hạng ).
- GV yêu cầu một số học sinh nhắc lại.
+ Viết dấu phẩy ở tổng thẳng cột như với các dấu phẩy của các số hạng.
*Hoạt động 3: Rút ra ghi nhớ.
? Qua 2 ví dụ trên muốn cộng hai số thập phân ta làm như thế nào? Học sinh
nêu- nhận xét và giáo viên tổng kết chốt lại và ghi bảng như Sách giao khoa:
Muốn cộng hai số thập phân ta làm như sau:
+Viết số hạng này dưới số hạng kia sao cho các chữ số ở cùng một hàng đặt
thẳng cột với nhau.
+ Cộng như cộng các số tự nhiên.
+ Viết dấu phẩy ở tổng thẳng cột với các dấu phẩy của các số hạng.
- Một số học sinh nhắc lại quy tắc.
- GV hệ thống lại kiến thức.
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Trừ hai số thập phân”.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
13
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
1. Giới thiệu bài:
2. Giảng bài ( Khai thác bài):
* Hoạt động 1: Hình thành phép trừ hai số thập phân.
- Giáo viên đưa ví dụ ra và đồng thời ghi bảng:
Ví dụ1: Đường gấp khúc ABC dài 4,29m , trong đó đoạn thẳng AB dài 1,84m.
Hỏi đoạn thẳng BC dài bao nhiêu mét?
- GV gọi học sinh đọc lại ví dụ và hướng dẫn học sinh tìm hiểu yêu cầu bài toán.
+ Bài toán cho biết gì? ( …)
+ Yêu cầu của bài toán là gì? (…)
- GV gạch chân và nhấn mạnh những dữ kiện đã cho và những yêu cầu cần tìm.
- Muốn tìm độ dài đoạn BC ta làm như thế nào? ( Lấy độ dài của đường gấp
khúc ABC trừ đi độ dài đoạn AB ).
- Em hãy nêu rõ phép tính này ? ( 4,29 - 1,84)
- 184
? Em có nhận xét gì về cách đặt tính trừ đối với số thập phân? ( Đặt số trừ
dưới số bị trừ sao cho các hàng thẳng cột với nhau, dấu phẩy thẳng cột với dấu
phẩy)
- GV yêu cầu học sinh: Em hãy thực hiện phép trừ này như trừ hai số tự nhiên.
- GV gọi một học sinh thực hiện phép trừ đồng thời GV ghi bảng kết quả tính.
? Em có nhận xét gì về cách đặt dấu phẩy ở hiệu ? ( Dấu phẩy ở hiệu được đặt
thẳng cột với dấu phẩy của số bị trừ, số trừ ).
- GV yêu cầu một số học sinh nhắc lại.
- GV tổng hợp ý đúng và ghi bảng như Sách giáo khoa:
+ Thực hiện phép trừ như trừ các số tự nhiên.
+ Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột như với các dấu phẩy của số bị trừ và sô
trừ.
? Em hãy so sánh sự giống và khác nhau của hai phép tính 429 và 4,29
- 184 - 1,84
( Giống nhau về đặt tính và tính, khác nhau ở chổ một phép tính có dấu phẩy
một phép tính không có dấu phẩy).
Ví dụ 2: GV đưa ra phép tính : 45,8 - 19,26 =
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
15
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
? Em có nhận xét gì về các hàng của số bị trừ và số trừ ở ví dụ 2 so với ở ví dụ
1? ( Các hàng của số bị trừ và số trừ ví dụ 1 giống nhau còn các hàng của số bị trừ
và số trừ ở ví dụ hai khác nhau Số 45,8 ở phần thập phân có một chữ số, Số 19,26
ở phần thập phân có 2 chữ số)
- GV nhận xét và chốt lại sự giống và khác nhau của 2 phép tính.
- GV: Ở ví dụ này các hàng ở phần thập phân khác nhau, vậy cách đặt tính và
tính như thế nào? Các em hãy dựa vào kiến thức mà các em đã nắm được ở ví dụ
* Hoạt động 1: Hình thành phép nhân số thập phân với số thập phân.
- Giáo viên đưa ví dụ ra và đồng thời ghi bảng:
Ví dụ1: Một mảnh vườn hình chữ nhật có chiều dài 6,4m, chiều rộng 4,8m. Hỏi
diện tích của mảnh vườn đó bằng bao nhiêu mét vuông?
- GV gọi học sinh đọc lại ví dụ và hướng dẫn học sinh tìm hiểu yêu cầu bài toán.
+ Bài toán cho biết gì? ( …)
+ Yêu cầu của bài toán là gì? (…)
- GV gạch chân và nhấn mạnh những dữ kiện đã cho và những yêu cầu cần tìm.
- Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm như thế nào? ( Lấy số đo chiều dài
nhân với số đo chiều rộng)
- Em hãy nêu rõ phép tính này ? ( 6,4 x 4,8 )
- GV ghi bảng phép tính: 6,4 x 4,8 =
+ Em có nhận xét gì về phép nhân này? ( Đây là phép nhân số thập phân với số
thập phân)
- Gv nhận xét và giới thiệu về phép nhân số thập phân với số thập phân.
* Hoạt động 2: Hình thành cách nhân số thập phân với số thập phân.
Để thực hiện được phép nhân này các em có thể đưa các đơn vị đo độ dài này về
thành các số tự nhiên.
- Em hãy đổi 6,4m và 8,4m về đơn vị đề-xi-mét? ( HS đổi).
- GV ghi bảng: 6,4m = 64dm ; 4,8 m=48 dm
- GV ghi bảng cách đặt nhân hai số tự nhiên:
64
x 48
512
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
17
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
256
phân? ( Đặt thừa số này dưới thừa số kia sao cho các hàng thẳng cột với nhau,
dấu phẩy thẳng cột với dấu phẩy)
- Em hãy thực hiện phép nhân này như nhân hai số tự nhiên.
- GV gọi một học sinh thực hiện phép nhân đồng thời GV ghi bảng kết quả tính.
? Em có nhận xét gì về các chữ số thuộc phần thập phân ở tích với tổng các chữ
số thuộc phần thập phân ở các thừa số? ( Đều bằng nhau và có 2 chữ số thuộc
phần thập phân)
- GV yêu cầu một số học sinh nhắc lại- Gv tổng hợp ý đúng và ghi bảng như
Sách giáo khoa:
+ Thực hiện nhân như nhân các số tự nhiên.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
18
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
+ Hai thừa số có tất cả hai chữ số thuộc phần thập phân, ta dùng dấu phẩy
tách ở tích ra 2 chữ số kể từ phải sang trái.
? Em hãy so sánh tích của 6,4 x 4,8 ở hai cách tính?
( Giống nhau về đặt tính và tính, khác nhau ở chổ một phép tính có dấu phẩy
một phép tính không có dấu phẩy).
Ví dụ 2: GV đưa ra phép tính : 4,75 x 1,3 =
- Dựa vào kiến thức các em đã nắm được ở ví dụ 1, em hãy đặt tính và tính cho
cô phép tính này.
- Yêu cầu học sinh hai bạn ngồi cùng bàn thảo luận và tìm ra cách tính. – học
sinh thảo luận nhóm 2- GV theo dõi
- Gọi đại diện nhóm trình bày cách đặt tính- GV đồng thời ghi bảng
- Gọi học sinh lên bảng thực hiện đặt tính rồi tính- Cả lớp theo dõi
- Gọi học sinh nhắc lại các đặt tính và tính
*Hoạt động 3: Rút ra ghi nhớ.
? Qua 2 ví dụ trên muốn nhân số thập phân với số thập phân ta làm như thế nào?
một số thập phân)
- GV nhận xét và giới thiệu về phép chia một số thập phân cho một số thập phân.
* Hoạt động 2: Hình thành cách chia một số thập phân cho một số thập phân.
GV: Các em đẫ được học về những phép chia số thập phân nào? ( Chia một số
thập phân cho một số tự nhiên; Chia một số tự nhiên cho một số tự nhiện thương
tìm được là một số thập phân; Chia một số tự nhiên cho một số thập phân…)
? Để thực hiện được phép chia này các em có thể đưa phép chia trên về phép
chia nào các em đã được học? (Chia một số thập phân cho một số tự nhiên; Chia
một số tự nhiên cho một số tự nhiên thương tìm được là một số thập phân)
GV: Vận dụng các kiến thức đã học em hãy thực hiện phép chia này?
- GV yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 2 tìm ra cách làm. ( GV theo dõi giúp đỡ
thêm- Học sinh có thể làm theo nhiều cách khác nhau như: Nhân cả số bị chia và
số chia với 10 để đưa về dạng Chia một số thập phân cho một số tự nhiên hay nhân
cả số bị chia và số chia với 100 để đưa về dạng Chia một số tự nhiên cho một số tự
nhiên )
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
20
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
- Gọi đại diên các nhóm trình bày cách làm và kết quả của nhóm mình.
- GV ghi bảng: Ta có: 23,56 : 6,2 = ( 23,56 x 10) : ( 6,2 x 10)
23,56 : 6,2 = 235,6 : 62 = 3,8
+ Vậy 2 3,56 : 6,2 bằng bao nhiêu? HS nêu- GV ghi bảng
23,56 : 6,2 = 3,8 (kg)
- GV nêu: Trong bài toán trên để có kết quả phép chia 23,56 : 6,2 thông
thường người ta sử dụng cách làm như sau:
- GV ghi bảng cách đặt tính
23,5,6 6,2
? Em hãy đếm xem phần thập phân của số 6,2 có mấy chữ số? ( Có một chữ số)
sinh thảo luận nhóm 2- GV theo dõi
- Gọi đại diện nhóm trình bày cách đặt tính- GV đồng thời ghi bảng
- Gọi học sinh lên bảng thực hiện đặt tính rồi tính- Cả lớp theo dõi
82,55
6 35
0
1,27
65
- Gọi học sinh nhắc lại cách làm – GV ghi bảng :
+ Đếm thấy phần thập phân của số 82,55 có hai chữ số và phần thập phân của số
1,27 cũng có hai chữ số, bỏ dấu phẩy ở hai số đó đi ta được 8255 :127
+ Thực hiện phép chia 8255 : 127 .
+ Vậy 82,55 : 1,27 = 65
*Hoạt động 3: Rút ra ghi nhớ.
? Qua 2 ví dụ trên bạn nào có thể nêu cách chia một số thập phân cho một số
thập phân? Học sinh nêu- nhận xét và giáo viên tổng kết chốt lại và ghi bảng như
Sách giáo khoa:
Muốn chia một số thập phân cho một số thập phân ta làm như sau:
+ Đếm xem có bao nhiêu chữ số ở phần thập phân của số chia thì chuyển dấu
phẩy ở số bị chia sang bên phảI bấy nhiêu chữ số.
+ Bỏ dấu phẩy ở số chia rồi thực hiện phép chia như chia cho số tự nhiên
- Một số học sinh nhắc lại quy tắc.
- GV hệ thống lại kiến thức.
…….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
22
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
5. Giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức học tập theo định
Kinh nghiệm:
Nâng cao hiệu quả khi dạy Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5
- Học sinh tự học với tài liệu, đồ dùng học toán để chiếm lĩnh tri thức mới,
luyện tập thực hành theo khả năng của học sinh. Trong khi học cá nhân, từng học
sinh có thể hỏi ý kiến, trao đổi với giáo viên. Giáo viên cũng có thể theo dõi,
hướng dẫn, kiểm tra một số học sinh
* Học theo nhóm:
Tùy từng bài giáo viên có thể chia nhóm như sau:
- Nhóm hỗn hợp : Loại nhóm này thường hoạt động đều trong các tiết học
để các em có thể giúp đỡ lẫn nhau.
- Nhóm theo trình độ: Thường áp dụng vào các tiết thực hành.
Ở nhóm này giáo viên có thể bồi dưỡng học sinh yếu, kém đồng thời cũng bồi
dưỡng học sinh khá giỏi bằng cách cho các em làm thêm một số bài toán nâng cao.
- Nhóm theo sở trường: Dành cho những đối tượng đặc biệt. Những hoạt
động của các nhân hơp tác hoạt động thành nhóm ở mỗi học sinh được trao đổi
thảo luận với nhau, tự các em phát biểu ý kiến riêng của mình dưới sự giúp đỡ của
bạn bè và sự hướng dẫn của giáo viên các em đi đến thống nhất trong nhóm.
* Học theo lớp: Tất cả các ý kiến của các nhóm sẽ được trao đổi thảo luận
rộng rãi hơn để tìm ra những kết luận hợp lý. Tại đây người giáo viên sẽ được thể
hiện rõ vai trò trọng tài khoa học giúp các em phân biệt đúng hay sai, hợp lý hay
chưa hợp lý, nên làm theo cách này hay cách kia.
- Cuối tiết học giáo viên dành ít thời gian để tổ chức trò chơi học tập nhằm làm
thư giản không khí học tập, giúp các em bớt căng thẳng sau một tiết học.
VD: Tính : 17,42 + 36,5 + 12,58
+ Học cá nhân: Học sinh tự suy nghĩ tìm ra cách giải rồi thực hiện.
+ Học theo nhóm: Học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm thực hành tính theo
nhóm để tìm ra cách giải nhanh nhất.
+ Học lớp: Giáo viên gọi đại diện các nhóm lên trình bày.
+ Cụ thể nhóm 1làm như sau:
17,42 + 36,5 + 12,58 =
dụng. Qua quá trình thể nghiệm ở một số lớp tôi thu được kết quả như sau:
1. Đối với học sinh:
- Giờ học sôi nổi hơn
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM @&? Năm học 2011- 2012
25