SKKN Nâng cao hiệu quả khi dạy về Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5. - Pdf 26

1
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết môn Toán có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là môn khoa học
nghiên cứu một số mặt của thế giới thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và
phương pháp nhận thức rất cần thiết cho đời sống, sinh hoạt lao động. Đó cũng là
công cụ rất cần thiết để học các môn học khác, ngoài ra toán học nó còn giúp phát
triển tư duy cho học sinh. Đặc biệt năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng
tư duy và hợp lý và diễn đạt đúng. Các suy luận đơn giản kích thích trí tưởng
tượng…. Đó cũng chính là một phần quan trọng trong mục tiêu của môn Toán ở Tiểu
học. Để đáp ứng được mục tiêu trên, người giáo viên phải nắm vững nội dung
chương trình và phương pháp giảng dạy nhất là trong giai đoạn hiện nay. Dạy học
môn Toán phải thực hiện được mục tiêu mới và quan trọng đó là: Giúp học sinh tích
cực ứng dụng các kiến thức và kỹ năng về môn Toán để giải quyết những tình huống
thường gặp trong đời sống hàng ngày. Nhiều giải pháp đã và đang được nghiên cứu
và áp dụng để góp phần thực hiện mục tiêu nói trên. Chính vì vậy đòi hỏi người giáo
viên không chỉ nắm vững nội dung, mục tiêu bài học mà phải có phương pháp giảng
dạy phù hợp với đặc điểm, đối tượng học sinh.
Môn Toán ở Tiểu học gồm 5 mạch kiến thức được bố trí xen kẽ nhau ở mỗi lớp
học , trong đó phần “ Số thập phân” là một trong những phần trọng tâm của số học
trong chương trình Toán Tiểu học và được đưa vào giữa học kỳ I của Lớp 5.
Môn Toán là một môn học đồng hành với các em theo suốt cả quá trình học tập, nó
có tầm quan trong rất lớn trong cuộc sống hàng ngày của các em. Là một môn học
giúp học sinh rèn luyện năng lực suy nghĩ và phát triển trí tuệ. Đối với học sinh tiểu
học thì tư duy trực quan và hình tượng chiếm ưu thế hơn. Nhận thức của các em chủ
yếu là nhận thức trực quan cảm tính. Các em lĩnh hội kiến thức, quy tắc, khái niệm
toán học và thực hành thao tác đều dựa trên bài toán mẫu cụ thể, diễn đạt bằng lời lẽ
đơn giản. Khả năng phân tích, tổng hợp làm rõ mối quan hệ giữa kiến thức này với
kiến thức khác trong quá trình lĩnh hội kiến thức mới cũng như trong quá trình thực
hành chưa sâu sắc. Năng lực phán đoán, suy luận còn thấp. Nhưng đến giai đoạn lớp
4,5, đặc biệt là lớp 5 các em đã có sự phát triển mạnh mẽ về tư duy trừu tượng. Đặc

đối với học sinh trong việc học Toán
- Đối với giáo viên:
3
+ Nắm được tình hình yếu môn Toán của học sinh ở từng lớp học, nghiên cứu tổ
chức hoạt động học tập cho học sinh ở trên lớp.
+ Giáo viên cần có nhiều kinh nghiệm, nhiều biện pháp thích hợp để khắc phục
học sinh yếu môn Toán. Từ đó, chất lượng môn Toán sẽ được nâng cao.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát tình hình học yếu môn Toán của học sinh khối 2 hiện nay.
- Tiếp cận với học sinh, các thầy cô trong khối, các bậc phụ huynh học sinh để tìm
ra những biện pháp có hiệu quả nhất trong việc phụ đạo học sinh yếu.
- Rút ra kết luận và những kinh nghiệm để giải quyết một số khó khăn (nếu có)
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
IV. Giới hạn đề tài
- Tất cả học sinh trong Khối 2 ở trường Tiểu học Bình Đông 2. Năm học 2014
- 2015.
- Kiến thức về Số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5.
V. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tìm hiểu tư liệu.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp vấn đáp.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp cũng cố hoàn thiện kiến thức.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thuyết trình.
VI. Cấu trúc đề tài
Đề tài trình bày theo 3 phần lớn:
A. Mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục đích và nhiệm vụ của đề tài, giới hạn đề tài,
đối tượng và thời gian nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu.
B. Nội dung:

còn nhiều học sinh chưa biết cách tính và chưa thành thạo trong việc làm tính, điều
đó cho thấy việc hướng dẫn học sinh tính toán và hướng dẫn cách làm toán đạt hiệu
quả chưa cao. Nhưng với đề tài “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5B trường Tiểu học
Bàu Đồn thực hiện tốt 4 phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số thập phân sẽ giúp học sinh khắc phục những hạn chế vừa nêu và giúp các em
biết cách tính toán và tính toán một cách chính xác.
6
Lớp 5B mà tôi đang giảng dạy, tuy có nhiều em học rất khá nhưng cũng có
nhiều em học rất yếu môn Toán. Nhiều em tỏ ra không yêu thích khi học Toán, việc
truyền đạt kiến thức cho các em trong những tiết Toán đã trở nên khó khăn.
Đứng trước thực trạng nêu trên một vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để học sinh yêu
thích học Toán? Làm thế nào để chất lượng học Toán ở lớp 5B được nâng
lên? với đề tài “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5B trường Tiểu học Bàu Đồn
thực hiện tốt các phép tính với số thập phân” mới làm cho các em tích cực học tập tốt
môn Toán và nâng cao được chất lượng của lớp.
Đề tài “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5B trường Tiểu học Bàu Đồn
thực hiện tốt các phép tính cộng, trừ, nhân, chia số thập phân” mong muốn mang lại
cho học sinh lớp 5B có được giờ học Toán nhẹ nhàng mà đạt chất lượng cao. Qua
việc tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa học tốt môn Toán từ đó bản thân
tôi có những kinh nghiệm thích hợp nhằm nâng cao chất lượng học toán của học
sinh trong nhà trường nói chung và trong lớp 5B nói riêng
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
Qua thực tế dự giờ các lớp của các giáo viên trong khối 5 tôi thấy việc dạy các bài
trong môn Toán nói chung và trong chương Số thập phân nói riêng còn có nhiều vấn
đề bất cập từ phía giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học như sau:
2.1 Tồn tại :
* Đối với giáo viên:
- Giáo viên chưa thấy rõ được ý nghĩa của môn học.
- Chưa nắm vững trọng tâm bài giảng.
- Khi dạy giáo viên chủ yếu còn lệ thuộc vào Sách giáo khoa để truyền thụ kiến

thức tốt vào thực hành
Học sinh yêu
thích môn học
SL TL SL TL SL TL
5A 20 4 20 5 25 5 25
5B 20 3 15 5 25 4 20
Với thực tế như vậy tôi thấy việc khai thác bài của giáo viên trong giảng dạy nói
chung và trong dạy học môn Toán nói riêng là một vấn đề cực kỳ quan trọng, nó
quyết định sự thành bại của người thầy giáo trong quá trình giảng dạy. Chính vì vậy
việc tìm ra giải pháp nhằm giúp người giáo viên nâng cao hiệu quả giảng dạy nói
chung và trong dạy học phần Số thập phân trong chương trình Toán Lớp 5 nói riêng
là một việc làm thiết yếu.
CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Để nâng cao hiệu quả khi dạy số thập phân ở chương trình Toán Lớp 5 nói chung và
trong chương Số thập phân nói riêng thì người giáo viên cần:
1. Làm tốt công tác chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
8
Để có giờ dạy tốt, việc chuẩn bị bài của giáo viên đóng vai trò rất quan trọng.
Chuẩn bị bài của giáo viên không chỉ là chuẩn bị về đồ dùng dạy học mà giáo viên
còn phải chuẩn bị về cả nội dung, phương pháp dạy học để từ đó xác định rõ cho
mình là: Dạy cái gì? Dạy ai? Dạy nội dung này để làm gì? Dạy như thế nào? Muốn
dạy hay trước hết giáo viên phải nắm chắc nội dung cần dạy, nắm vững kiến thức
hiểu được ý đồ Sách giáo khoa, Giáo viên có nắm vững kiến thức, hiểu đối tượng học
sinh thì mới có thể đưa ra phương pháp thích hợp và chuẩn bị tổ chức cho học sinh
học tập có hiệu quả.
2. Phải nắm vững nội dung, mục tiêu, yêu cầu bài học và trên cơ sở đó xác định
trọng tâm của bài.
Việc nắm vững mục tiêu, yêu cầu và xác định rõ trọng tâm của bài dạy là một vấn
đề cực kỳ quan trọng trong quá trình giảng dạy. Nó giúp cho giáo viên tự tin, làm chủ
được tiết dạy và nó còn giúp cho giáo viên biết cách khai thác bài có chiều sâu và đạt

viên. Học sinh có nhiều cơ hội để bộc lộ khả năng của cá nhân. Dạy học như vậy tạo
cho học sinh thói quen làm việc tự giác, chủ động, biết tự đánh giá kết quả học tập
của bản thân và của các bạn. Tạo cho học sinh niềm tin, niềm vui trong học tập. Từ
đó các em có hứng thú trong học tập, tự tin vào khả năng của bản thân và dần hình
thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu độc lập và sáng tạo, tự phát hiện ra các tình
huống có vấn đề trong học tập và trong cuộc sống.
4. Biết cách xây dựng kế hoạch dạy học một cách khoa học.
Bài soạn của giáo viên là một kế hoạch dạy học trong một tiết học, không quan
trọng là dài hay ngắn, không phải chép lại những gì có trong Sách giáo khoa mà thực
chất là kế hoạch tổ chức các hoạt động học cho học sinh, đó là những hoạt động học
mà mà học sinh cần và có thể thực hiện được. Những hoạt động này phát huy vốn
kinh nghiệm, vốn kiến thức sẵn có của các em, những điều gần gũi trong cuộc sống
hàng ngày của các em, các em tham gia hoạt động học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên
và hứng thú. Khi đó học sinh là nhân vật trung tâm, học sinh phải được hoạt động, tự
tìm tòi, phát hiện, hình thành kiến thức, giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn các
hoạt động học tập cho học sinh. Đây là phần quyết định sự thành bại của một tiết dạy.
Ví dụ minh họa về một số kế hoạch bài giảng khi dạy chương Số thập phân
trong chương trình Toán lớp 5 có hiệu quả:
10
Ngoài việc nắm vững kiến thức, xác định đúng mục tiêu và làm tốt công tác
chuẩn bị thì người giáo viên cần xây dựng cho mình một kế hoạch thật hoàn hảo để
khai thác bài được tốt . Cụ thể:
Ví dụ : Khi dạy bài “ Khái niệm Số thập phân”
Khái niệm Số thập phân được dạy trong 2 tiết ( Tiết 1 giới thiệu khái niệm về số
thập phân đơn giản, Tiết 2 giới thiệu khái niệm số thập phân – các thành phần của số
thập phân). Trên cơ sở những kiến thức đã có về số tự nhiên, cấu tạo thập phân của
số, số đo độ dài, phân sô, từ đó học sinh thấy được sự mở rộng tập hợp số tự nhiên
sang tập hợp số mới, thấy được số thập phân với hình thức ghi tiện dụng của nó là
những phân số đặc biệt có mẫu số là 10,100,1000… Giải pháp mà Sách giáo khoa sử
dụng để hình thành kiến thức cho học sinh đó là đưa ra một số ví dụ về các độ dài

- Giáo viên nhận xét và chốt lại.
-Giáo viên giới thiệu và nhấn mạnh: 1cm hay 1/100 m còn được viết thành 0,01m.
Giáo viên vừa giới thiệu vừa viết lên bảng .( 1cm hay 1/100 m còn được viết
thành 0,01m).
(Tương tự giáo viên giới thiệu dòng thứ 3 )
- Giáo viên chốt lại cách viết 1/10m; 1/100m ; 1/1000m thành 0,1m ; 0,01m;
0,001m.
? Vậy phân số thập phân 1/10 ; 1/100 ; 1/1000 được viết thành gì? ( Được viết
thành 0,1 ; 0,01 ; 0,001)
- Giáo viên nhắc lại, nhấn mạnh và viết bảng: Phân số thập phân 1/10; 1/100;
1/1000 được viết thành 0,1 ; 0,01 ; 0,001).
- Giáo viên viết số 0,1 lên bảng và giới thiệu cách đọc số 0,1. Số 0,1 đọc là:
Không phẩy một ( Giáo viên nhấn mạnh cách đọc số cho học sinh rõ)- Gọi học sinh
đọc số 0,1.
- Giáo viên hỏi và nhấn mạnh :Em hãy cho biết 0,1 bằng phân số thập phân nào?
( 0,1=1/10)
Gọi học sinh nhận xét và đồng thời giáo viên ghi bảng 0,1=1/10- Yêu cầu học sinh
đọc: Không phẩy một bằng một phần mười .
- Giáo viên hướng dẫn cách đọc viết số 0,01; 0,001 tương tự .
- Giáo viên chỉ vào các số 0,1; 0,01; 0,001 rồi đọc lần lượt từng số và giới thiệu:
Các số 0,1; 0,01; 0,001 gọi là Số thập phân( Giáo viên nói chậm và nhấn giọng
cụm từ gọi là Số thập phân ).
- Tương tự hướng dẫn học sinh nhận biết được các số 0,5; 0,07 ; 0,009 cũng là số
thập phân.
12
Qua 2 ví dụ trên em có nhận xét gì về cách viết khác của phân số thập phân?
( Các phân số thập phân có thể viết dưới dạng Số thập phân)
- Gọi học sinh nhắc lại.
- GV chốt lại và nhấn mạnh : Các phân số thập phân có thể viết dưới dạng Số thập
phân

- Yêu cầu học sinh đổi 429cm về đơn vị mét.
+ 429cm bằng bao nhiêu mét? ( 4,29m )- GV ghi bảng:429cm= 4,29m.
+ Vậy 1,84 +2,45 bằng bao nhiêu? ( GV nhấn mạnh) HS nêu
- GV ghi bảng 1,84 + 2,45 = 4,29
- GV nêu: Trong bài toán trên để tính tổng1,84m+2,45m các em đã phải đổi từ đơn
vị mét thành đơn vị xăng-ti-mét rồi tinh, sau khi đó được kết quả lại đổi về đơn vị
mét. Làm như vậy rất mất thời gian, vì vậy thông thường người ta sử dụng cách đặt
tính như sau:
- GV ghi bảng cách đặt tính 1,84
+ 2,45
( GV ghi song song cùng phép tính 184 và không nói gì )
+ 245
+ Em có nhận xét gì về cách đặt tính đối với số thập phân? – GV nêu câu hỏi và
nhấn mạnh – Học sinh trả lời ( Đặt số hạng này dưới số hạng kia sao cho các hàng
thẳng cột với nhau, dấu phẩy thẳng cột với dấu phẩy)
- GV yêu cầu học sinh: Em hãy cộng hai số này như cộng đối với số tự nhiên. GV
gọi một học sinh thực hiện cộng đồng thời GV ghi bảng kết quả tính.
? Em có nhận xét gì về cách đặt dấu phẩy ở tổng? GV nêu câu hỏi và nhấn mạnh
HS trả lời ( Dấu phẩy ở tổng được đặt thẳng cột với dấu phẩy ở các số hạng ).
- GV yêu cầu một số học sinh nhắc lại.
- GV tổng hợp ý đúng và ghi bảng như Sách giáo khoa:
+ Cộng như cộng các số tự nhiên.
+ Viết dấu phẩy ở tổng thẳng cột như với các dấu phẩy của các số hạng.
? Em hãy so sánh sự giống và khác nhau của hai phép tính
184 và 1,84
+ 245 + 2,45
( Giống nhau về đặt tính và tính, khác nhau ở chổ một phép tính có dấu phẩy một
phép tính không có dấu phẩy).
14
Ví dụ 2: GV đưa ra phép tính : 15,9 + 8,75 =

15
* Hoạt động 1: Hình thành phép trừ hai số thập phân.
- Giáo viên đưa ví dụ ra và đồng thời ghi bảng:
Ví dụ1: Đường gấp khúc ABC dài 4,29m , trong đó đoạn thẳng AB dài 1,84m. Hỏi
đoạn thẳng BC dài bao nhiêu mét?
- GV gọi học sinh đọc lại ví dụ và hướng dẫn học sinh tìm hiểu yêu cầu bài toán.
+ Bài toán cho biết gì? ( …)
+ Yêu cầu của bài toán là gì? (…)
- GV gạch chân và nhấn mạnh những dữ kiện đã cho và những yêu cầu cần tìm.
- Muốn tìm độ dài đoạn BC ta làm như thế nào? ( Lấy độ dài của đường gấp khúc
ABC trừ đi độ dài đoạn AB ).
- Em hãy nêu rõ phép tính này ? ( 4,29 - 1,84)
- GV ghi bảng phép tính: 4,29 - 1,84 =
+ Em có nhận xét gì về phép trừ này? ( Đây là phép trừ hai số thập phân)- Gv nhận
xét và giới thiệu về phép trừ hai số thập phân.
* Hoạt động 2: Hình thành cách trừ hai số thập phân
Để thực hiện được phép trừ này các em có thể đưa các đơn vị đo độ dài này về
thành các số tự nhiên.
- Em hãy đổi 4,29m và 1,84m về đơn vị xăng-ti-mét? ( HS đổi).
- GV ghi bảng: 4,29m = 429 cm
1,84m = 184cm
- GV ghi bảng cách đặt trừ hai số tự nhiên: 429
- 184
245(cm)
- Gọi học sinh thực hiện phép trừ- GV đồng thời ghi bảng kết quả phép trừ
- Yêu cầu học sinh đổi 245cm về đơn vị mét.
+ 245cm bằng bao nhiêu mét? ( 2,45 m )- GV ghi bảng:245 cm= 2,45 m.
+ Vậy 4,29,- 1,84 bằng bao nhiêu? HS nêu- GV ghi bảng 4,29- 1,84 = 2,45
- GV nêu: Trong bài toán trên để có kết quả phép trừ 4,29m-1,84m = 2,45m
các em đã phải chuyển từ đơn vị mét thành đơn vị xăng-ti-mét rồi tính, sau khi đó

đặt tính và tính cho cô phép tính này.
- Yêu cầu học sinh hai bạn ngồi cùng bàn thảo luận và tìm ra cách tính. – học sinh
thảo luận nhóm 2- GV theo dõi và gợi ý thêm cho học sinh: Để có phần thập phân ở
17
số bị trừ cũng giống như ở số trừ đều có 2 chữ số thì số 45,8 có thể viết dưới dạng số
nào mà giá trị vẫn không thay đổi? ( 45,80 )
- Gọi đại diện nhóm trình bày cách đặt và tính- GV đồng thời ghi bảng kết quả.
45,8
- 19,26
26,54
- Gọi học sinh nhắc lại cách đặt và thực hiện phép trừ- đồng thời GV ghi bảng:
+ Coi 45,8 là 45,80 rồi trừ như trừ các số tự nhiên.
+ Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột như với các dấu phẩy của số bị trừ và sô trừ.
*Hoạt động 3: Rút ra ghi nhớ.
? Qua 2 ví dụ trên muốn trừ hai số thập phân ta làm như thế nào? Học sinh nêu-
nhận xét và giáo viên tổng kết chốt lại và ghi bảng như Sách giáo khoa:
Muốn trừ hai số thập phân ta làm như sau:
+Viết số trừ dưới số bị trừ sao cho các chữ số ở cùng một hàng đặt thẳng cột với
nhau.
+ Trừ như trừ các số tự nhiên.
+ Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy của số bị trừ và số trừ.
- Một số học sinh nhắc lại quy tắc
- GV hệ thống lại kiến thức.
Ví dụ 4: Khi dạy bài “Nhân một số thập phân với một số thập phân ”.
1. Giới thiệu bài:
2. Giảng bài ( Khai thác bài):
* Hoạt động 1: Hình thành phép nhân số thập phân với số thập phân.
- Giáo viên đưa ví dụ ra và đồng thời ghi bảng:
Ví dụ1: Một mảnh vườn hình chữ nhật có chiều dài 6,4m, chiều rộng 4,8m. Hỏi
diện tích của mảnh vườn đó bằng bao nhiêu mét vuông?

bằng bao nhiêu mét vuông? ( 30,72m
2
)- GV ghi bảng:
3072 dm
2
=30.72 m
2

+ Vậy 6,4 x 4,8 bằng bao nhiêu? HS nêu- GV ghi bảng 6,4 x 4,8 = 30,72 (m
2
)
- GV nêu: Trong bài toán trên để có kết quả phép nhân 6,4 x 4,8
các em đã phải chuyển từ đơn vị mét thành đơn vị đề-xi-mét rồi tính, sau khi đó
được kết quả là đề-xi-mét vuông lại đổi về đơn vị mét vuông . Làm như vậy không
thuận tiện và mất thời gian, vì vậy thông thường người ta sử dụng cách đặt tính như
sau:
- GV ghi bảng cách đặt tính 6,4
x 4,8
( GV ghi song song cùng phép tính 64 và không nói gì )
19
x 48
+ Em có nhận xét gì về cách đặt tính nhân một số thập phân với một số thập phân?
( Đặt thừa số này dưới thừa số kia sao cho các hàng thẳng cột với nhau, dấu phẩy
thẳng cột với dấu phẩy)
- Em hãy thực hiện phép nhân này như nhân hai số tự nhiên.
- GV gọi một học sinh thực hiện phép nhân đồng thời GV ghi bảng kết quả tính.
? Em có nhận xét gì về các chữ số thuộc phần thập phân ở tích với tổng các chữ số
thuộc phần thập phân ở các thừa số? ( Đều bằng nhau và có 2 chữ số thuộc phần
thập phân)
- GV yêu cầu một số học sinh nhắc lại- Gv tổng hợp ý đúng và ghi bảng như Sách

Ví dụ1: Một thanh sắt dài 6,2 dm cân nặng 23,56 kg. Hỏi 1dm của thanh sắt đó cân
nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
- GV gọi học sinh đọc lại ví dụ và hướng dẫn học sinh tìm hiểu yêu cầu bài toán.
+ Bài toán cho biết gì? ( …)
+ Yêu cầu của bài toán là gì? (…)
- GV gạch chân và nhấn mạnh những dữ kiện đã cho và những yêu cầu cần tìm.
- GV hỏi: Làm thế nào để biết được 1dm của thanh sắt đó cân nặng bao nhiêu ki-
lô-gam? ( Lấy cân nặng của thanh sắt chia cho độ dài của thanh sắt)
- Em hãy nêu rõ phép tính này ? ( 23,56 : 6,2 )
GV: Như vậy để tính xem 1dm thanh sắt đó cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam chúng ta
phải thực hiện phép chia 23,56 : 6,2
- GV ghi bảng phép tính: 23,56 : 6,2 =
+ Em có nhận xét gì về phép chia này? ( Đây là phép chia một số thập phân cho
một số thập phân)
- GV nhận xét và giới thiệu về phép chia một số thập phân cho một số thập phân.
* Hoạt động 2: Hình thành cách chia một số thập phân cho một số thập phân.
GV: Các em đẫ được học về những phép chia số thập phân nào? ( Chia một số
thập phân cho một số tự nhiên; Chia một số tự nhiên cho một số tự nhiện thương tìm
được là một số thập phân; Chia một số tự nhiên cho một số thập phân…)
? Để thực hiện được phép chia này các em có thể đưa phép chia trên về phép chia
nào các em đã được học? (Chia một số thập phân cho một số tự nhiên; Chia một số tự
nhiên cho một số tự nhiên thương tìm được là một số thập phân)
GV: Vận dụng các kiến thức đã học em hãy thực hiện phép chia này?
21
- GV yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 2 tìm ra cách làm. ( GV theo dõi giúp đỡ
thêm- Học sinh có thể làm theo nhiều cách khác nhau như: Nhân cả số bị chia và số
chia với 10 để đưa về dạng Chia một số thập phân cho một số tự nhiên hay nhân cả số
bị chia và số chia với 100 để đưa về dạng Chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên )
- Gọi đại diên các nhóm trình bày cách làm và kết quả của nhóm mình.
- GV ghi bảng: Ta có: 23,56 : 6,2 = ( 23,56 x 10) : ( 6,2 x 10)

để thực hiện, Với phép chia này thì đưa về dạng phép chia nào để tính? Dựa vào kiến
thức các em đã nắm được ở ví dụ 1, em hãy đặt tính và tính cho cô phép tính này.
- Yêu cầu học sinh hai bạn ngồi cùng bàn thảo luận và tìm ra cách tính. – học sinh
thảo luận nhóm 2- GV theo dõi
- Gọi đại diện nhóm trình bày cách đặt tính- GV đồng thời ghi bảng
- Gọi học sinh lên bảng thực hiện đặt tính rồi tính- Cả lớp theo dõi
82,55
6 35
0
1,27
65
- Gọi học sinh nhắc lại cách làm – GV ghi bảng :
+ Đếm thấy phần thập phân của số 82,55 có hai chữ số và phần thập phân của số
1,27 cũng có hai chữ số, bỏ dấu phẩy ở hai số đó đi ta được 8255 :127
+ Thực hiện phép chia 8255 : 127 .
+ Vậy 82,55 : 1,27 = 65
*Hoạt động 3: Rút ra ghi nhớ.
? Qua 2 ví dụ trên bạn nào có thể nêu cách chia một số thập phân cho một số thập
phân? Học sinh nêu- nhận xét và giáo viên tổng kết chốt lại và ghi bảng như Sách
giáo khoa:
Muốn chia một số thập phân cho một số thập phân ta làm như sau:
+ Đếm xem có bao nhiêu chữ số ở phần thập phân của số chia thì chuyển dấu phẩy
ở số bị chia sang bên phảI bấy nhiêu chữ số.
+ Bỏ dấu phẩy ở số chia rồi thực hiện phép chia như chia cho số tự nhiên
- Một số học sinh nhắc lại quy tắc.
- GV hệ thống lại kiến thức.
…….
5. Giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức học tập theo định
hướng đổi mới phương pháp dạy học toán.
Phương pháp dạy học toán là cách thức tổ chức các hoạt động học toán cho học

* Học theo nhóm:
Tùy từng bài giáo viên có thể chia nhóm như sau:
- Nhóm hỗn hợp : Loại nhóm này thường hoạt động đều trong các tiết học để
các em có thể giúp đỡ lẫn nhau.
24
- Nhóm theo trình độ: Thường áp dụng vào các tiết thực hành.
Ở nhóm này giáo viên có thể bồi dưỡng học sinh yếu, kém đồng thời cũng bồi
dưỡng học sinh khá giỏi bằng cách cho các em làm thêm một số bài toán nâng cao.
- Nhóm theo sở trường: Dành cho những đối tượng đặc biệt. Những hoạt động
của các nhân hơp tác hoạt động thành nhóm ở mỗi học sinh được trao đổi thảo luận
với nhau, tự các em phát biểu ý kiến riêng của mình dưới sự giúp đỡ của bạn bè và sự
hướng dẫn của giáo viên các em đi đến thống nhất trong nhóm.
* Học theo lớp: Tất cả các ý kiến của các nhóm sẽ được trao đổi thảo luận rộng
rãi hơn để tìm ra những kết luận hợp lý. Tại đây người giáo viên sẽ được thể hiện rõ
vai trò trọng tài khoa học giúp các em phân biệt đúng hay sai, hợp lý hay chưa hợp lý,
nên làm theo cách này hay cách kia.
- Cuối tiết học giáo viên dành ít thời gian để tổ chức trò chơi học tập nhằm làm thư
giản không khí học tập, giúp các em bớt căng thẳng sau một tiết học.
VD: Tính : 17,42 + 36,5 + 12,58
+ Học cá nhân: Học sinh tự suy nghĩ tìm ra cách giải rồi thực hiện.
+ Học theo nhóm: Học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm thực hành tính theo
nhóm để tìm ra cách giải nhanh nhất.
+ Học lớp: Giáo viên gọi đại diện các nhóm lên trình bày.
+ Cụ thể nhóm 1làm như sau:
17,42 + 36,5 + 12,58 =
53,92 + 12,58 = 66,5
Nhóm 2, 3, 4: áp dụng tính chất giao hoán của phép cộng.
17,42 + 36,5 + 12,58 =
17,42 + 12,58 + 36,5 =
30 + 36,5 = 66,5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status