XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
TRƯỜNG THCS LIÊN NGHĨA
Tổng điểm xếp loại
T/M HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
CHỦ TỊCH – HIỆU TRƯỞNG
Nguyễn Thị Các
Phần I: Lí lịch
-Họ tên tác giả : Nguyễn Thị Thủy
-Chức vụ : Giáo viên
- Đơn vị công tác :Trường Trung học cơ sở Liên Nghĩa
Tên kinh nghiệm : Nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản Nhật dụng.
Phần II: Nội dung bài viết
A.Phần mở đầu
I. Đặt vấn đề
1. Thực trạng của vấn đề
“Văn học là nhân học”.Văn học có vai trò quan trọng trong đời sống
và trong sự phát triển tư duy của con người.
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tầm quan
trọng trong việc giáo dục quan điểm tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Đồng
thời là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ
với các môn học khác. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn
học khácvà ngược lại các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn.
Điều đó đạt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành giảm lý thuyết, gắn học
với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của
cuộc sống.
Những đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS và việc xây dựng chương
trình biên soạn lại SGK các môn học theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động
học tập của học sinh đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương
pháp dạy học.
Đặc biệt trong chương trình Ngữ văn THCS được xây dựng theo
các em bằng hình ảnh rất hạn chế.
-Chưa xác định đúng mục tiêu đặc thù của bài học văn bản Nhật dụng.
-Chưa có ý thức sưu tầm tư liệu có liên quan đến văn bản như tranh ảnh,
văn thơ để bổ sung cho bài học thêm phong phú
- Giáo viên thuờng chú ý khai thác và bình giá trên nhiều phương diện
của sáng tạo nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật, cách kể mà chưa chú
trọng đến vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với học sinh.
-Quá nhấn mạnh yêu cầu gắn kết tri thức trong văn bản với đời sống mà
giáo viên chú ý nhiều tới liên hệ thực tế, dẫn đến việc khai thác kiến thức
cơ bản chưa đầy đủ
-GV chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như các biện
pháp tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho HS.
- Về phương tiện dạy học mới chỉ dừng lại ở việc dùng bảng phụ, tranh ảnh
minh hoạ trong khi đó có một số văn bản nếu học sinh được xem những
đoạn băng ghi hình sẽ sinh động hơn rất nhiều. Ví dụ như văn bản “Động
Phong Nha”, “ca Huế trên sông Hương” Nhưng hầu hết GV không chú ý
đến vấn đề này.
b.Với học sinh
- Hầu hết các tiết văn bản nhật dụng học sinh thường không có hứng thú vì
nó không phải là văn bản thuộc thể loại truyện ,học sinh khó nhớ và nắm
bắt nội dung văn bản .
-Kiến thức bên ngoài để phục vụ bài học còn ít ỏi
3.Phạm vi nghiên cứu của đề tài
-Áp dụng cho học sinh THCS các khối lớp 6,7,8,9
-Người thực hiện là giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn tại trường THCS
Liên Nghĩa
- Nghiên cứu các tiết văn bản nhật dụng
II.Phương pháp tiến hành
1.Cơ sở lý luận
Văn bản nhật dụng là gì? Văn bản Nhật dụng không phải là một khái
2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay học sinh có xu hướng xem nhẹ học những môn xã hội nói chung,
môn ngữ văn nói riêng. Cũng chính vì thế mà chất lượng học văn có chiều
hướng giảm sút. Học sinh không say mê, yêu thích môn học mà say mê vào
những môn mang xu hướng thời cuộc như tiếng Anh, Tin học Chính vì
thế lại càng đòi hỏi người Giáo viên đặc biệt là Giáo viên Ngữ văn phải tạo
được giờ học thu hút học sinh, làm cho học sinh mong chờ đến giờ học.
Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết với nghề nghiệp, tìm ra
được những thuận lợi - khó khăn trong giờ học để kịp thời uốn nắn, rút
kinh nghiệm cho mình.
Chương trình SGK THCS đưa vào học một số văn bản mới, đó là
văn bản Nhật dụng. Văn bản này chiếm số luợng không nhiều (chỉ chiếm
10% trong chương trình SGK THCS), nhưng trước đó lí luận dạy học chưa
từng đặt vấn đề PPDH văn bản nhật dụng. Cho nên giờ giảng dạy và học
tập văn bản nhật dụng gặp không ít khó khăn. Nhiều ý kiến cho rằng: “chất
văn” trong văn bản nhật dụng không nhiều, nếu không chú ý dễ biến giờ
Ngữ văn thành bài thuyết minh về một vấn đề lịch sử, sinh học hay pháp
luật, dẫn đến hiệu quả các tiết dạy học các loại văn bản này chưa cao.
3.Các biện pháp tiến hành và thời gian tạo giải pháp
- Các tiết dạy văn bản nhật dụng trên lớp
- Các tiết dự giờ đồng nghiệp
-các chuyên đề dạy văn bản nhật dụng do trường tổ chức.
-Sinh hoạt nhóm chuyên môn.
B.Phần nội dung
1. Mục tiêu
- Nâng các chất lượng hiệu quả các giờ dạy văn bản nhật dụng.
-Giúp học sinh có hưng thú khi học kiểu văn bản này.
- Rèn cho học sinh biết cách hành văn .
II. Mô tả giải pháp của kinh nghiệm
A. Bản chất thể loại văn bản nhật dụng
2000
- Ôn dịch, thuốc lá
- Bài toán dân số
-T ệ nạn xã hội
- Dân số
9
Ngữ văn 9
- Đấu tranh cho một thế giới hoà
bình
- Phong cách Hồ Chí Minh
- Tuyên bố thế gíơi về sự sống
còn, quyền được bảo vệ và phát
triển của trẻ em.
- Bảo vệ hoà bình, chống
chiến tranh
- Hội nhập với thế giới
và bảo vệ bản sắc văn
hoá dân tộc
- Quyền sống của con
người
Bảng thống kê trên cho thấy các văn bản nhật dụng được phân phối
dạy học đều khắp ở các khối lớp, bình quân mỗi khối lớp được học đọc –
hiểu 3 văn bản. Ý nghĩa nội dung các văn bản này đều là những vấn đề gần
gũi, quen thuộc, bức thiết đối với con người và cộng đồng xã hội hiện đại.
Cùng với sự phát triển về tâm lý và nhận thức của học sinh, các vấn đề
đựơc đề cập trong các văn bản Nhật dụng ngày một phức tạp hơn.
2/Đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản nhật dụng
Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 6.
“Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” là văn bản mở đầu cho cụm
bài văn bản Nhật dụng được dạy học ở lớp 6. Đây là bài viết giới thiệu cây
gian thiên tạo kì thú đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà
thám hiểm, khách du lịch trong và ngoài nước.
Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 7.
“Cổng trường mở ra”là bài văn ghi lại tâm trạng hồi hộp của một
người mẹ trong đêm chuẩn bị cho con khai trường để vào lớp Một. Phương
thức biểu đạt của văn bản này là biểu cảm.
Vậy ý nghĩa nhật dụng của bài văn là gì? Người mẹ đã hồi hộp trong
cái đêm trước ngày con vào lớp Một đâu chỉ vì lo lắng cho con mà còn có
niềm vui về ngôi trường thân yêu đã lưu giữ bao kỉ niệm thân thương của
đời mẹ, niềm hi vọng vào con, mái trường thân yêu sẽ mở ra ánh sáng và
tương lai cho mỗi con người. Đó là ý nghĩa cập nhật của văn bản nhật dụng
này.
“Mẹ tôi”được trình bày dưới dạng một bức thư. Từ việc phạm lỗi của
đứa con đối với mẹ mà người cha bộc lộ cảm xúc và suy tư về tình sâu
nghĩa nặng của người mẹ . Xét về thể loại thì đây là bài tuỳ bút, còn xét về
phương thức biểu đạt thì đây là văn bản biểu cảm.
Từ những lời tâm tình, khuyên nhủ của người cha đã hiện lên hình
ảnh một người mẹ cao cả và lớn lao. Người mẹ ấy đã thức suốt đêm khi
con bị ốm và đau đớn quằn quại vì lo sợ mất con. Người mẹ ấy có thể làm
tất cả, có thể chịu mọi đau khổ bất hạnh để cho con đỡ đau đớn, để cho con
sông hạnh phúc Vì thế “ ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất
mẹ, và tình cảm thiêng liêng cao quý hơn cả là tình cảm yêu thương kính
trọng đối với cha mẹ”. Đó cũng là nội dung cập nhật của văn bản này.
“Cuộc chia tay của những con búp bê” là truyện ngắn. Thành công
của văn bản này là sự kết hợp nhuần nhuyễn của phương thức biểu đạt tự
sự với miêu tả và biểu cảm. Truyện viết về nỗi đau tinh thần tuổi thơ sống
thiếu tình cảm của cha mẹ. Nhưng chính từ bi kịch ấy, những đứa trẻ vẫn
giữ được tâm hồn trong sáng vị tha, tình cảm anh em càng thêm gắn bó.
Đằng sau câu chuyện về tình anh em gắn bó trong sự tan vỡ của gia đình,
truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” toát lên vấn đề quyền sống
sánh, lời văn vẫn sử dụng các thuật ngữ khoa học nhưng dễ hiểu do được
giải thích cụ thể, kết hợp trong đó là lời bình luận mang sắc thái biểu cảm
rõ rệt. Tất cả được viết bằng tri thức và tâm huyết của của một nhà y học
nổi tiếng, và điều đó làm nên sức thuyết phục của bài văn này.
Ý nghĩa nhật dụng của văn bản này không chỉ là cảnh báo cho mỗi
người về một nạn dịch có sức tàn phá sức khoẻ cộng đồng, gây thành tệ nạn
xã hội mà còn góp phần cổ động cho chiến dịch truyền thông chống hút
thuốc lá đang diễn ra rộng khắp hiện nay.
“Bài toán dân số” từ câu chuyện vui về một bài toán cổ liên hệ sang
chuyện không vui về việc gia tăng dân số trên trái đất bằng một tính toán lô
gic sau: Một bàn cờ có 64 ô, nếu số thóc trong mỗi ô tăng theo cấp số nhân
công bội là 2 thì tổng số thóc nhiều tới mức có thể phủ kín bề mặt trái đất
=> trái đất lúc đầu chỉ có 2 người, nếu loài người cũng tăng theo cấp số
nhân ấy thì tổng dân số sẽ đạt ô thứ 30 (năm1995) và ô thứ 31 (năm 2015)
=> nếu cứ để dân số tăng như thế thì đến một ngày 64 ô của bàn cờ sẽ bị
lấp kín và khi đó mỗi người chỉ còn một chỗ ở với diện tích như một hạt
thóc trên trái đất.
Mục đích của sự tính toán này là báo động về nguy cơ bùng nổ và
gia tăng dân số của thế giới. Vì thế “Bài toán dân số” được xem là một văn
bản nhật dụng phục vụ cho chủ đề “dân số và tương lai của nhân loại”. Bài
toán này càng có ý nghĩa thời sự đối với các nước chậm phát triển, trong đó
có Việt Nam.
Về hình thức, “Bài toán dân số” là một văn bản nghị luận sử dụng
phương thức lập luận bằng hình thức luận cứ. Nhưng bài nghị luận xã hội
này dễ hiểu bởi sự đan cài rất tự nhiên của phương thức tự sự.
Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 9:
“Phong cách Hồ Chí Minh” là bài viết nhằm trình bày cho bạn đọc
hiểu và quý trọng vẻ đẹp của phong cách Bác Hồ. Bài văn có hai phần nội
dung. Phần thứ nhất nói về vẻ đẹp trong phong cách văn hoá của Bác, đó là
sự kết hợp hài hoà giữa phâm chất dân tộc và tính nhân loại trong tiếp nhận
của cộng đồng thế giới, nhưng để dễ hiểu, dễ truyền bá đến đại chúng, bản
tuyên bố đã trình bày các quân điểm dưới dạng mục và số.
Các nội dung được thảo trong bản tuyên bố đã toát lên điểm tích cực
và nhân đạo của cộng đồng quốc tế (trong đó có Việt Nam) về sự sống còn,
quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. Đó là ý nghĩa cập nhật cũng
như ý nghĩa lâu dài của văn bản này.
B. Vận dụng các phương pháp nâng cao chất lượng giờ dạy văn bản
nhật dụng
Tôi đã áp dụng những biện pháp trên thông qua bài dạy thực nghiệm
có sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp sau khi dự giờ:
Văn bản: CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG (Ngữ văn 7- tập 2)
A. Mục tiêu cần đạt:
HS hiểu từ văn bản Ca Huế trên sông Hương:
- Ca Huế với sự phong phú về nội dung, giàu có về lần điệu, tinh tế
trong biểu diễn và thưởng thức một nét đẹp của văn hoá cố đô Huế cần
được giữ gìn và phát triển.
- Từ đó mở rộng vốn hiểu biết về văn hoá Huế và âm nhạc dân gian
các vùng miền, bồi đắp tình yêu đối với xứ Huế và các giá trị văn hoá dân
tộc.
- Văn bản nhật dụng có thể sử dụng phương thức thuyết minh, kết
hợp với nghị luận, miêu tả và bộc lộ cảm xúc.
B.Chuẩn bị:
1. Giáo viên:
- Nắm chắc ý nghĩa nhật dụng của văn bản để có định hướng đúng
khi khai thác nội dung bài học.
- Sưu tầm tư liệu: Đĩa CD gồm cá bài hát dân ca Huế và dân ca các
vùng miền khác, tranh ảnh về xứ Huế, về cảnh thưởng thức ca Huế (trên
máy chiếu).
2. Học sinh:
- Chia đoạn và trả lời trước câu hỏi trong SGK
I/Tác giả ,tác phẩm
1.Tác giả:
2Xuất xứ
3.Đọc- tìm hiểu chú
thích
.Thể loại: Bút kí
II/ Phân tích:
1/ Huế-cái nôi dân ca.
- Điệu hò: hò giã gạo, ru
-Chm, truyn cm
?/.Chỳ thớch trong SGK cho em hiu gỡ v ca
Hu?
? .Ngoi ra, em cũn bit gỡ v x Hu?
?/Ca Hu trờn sụng Hng l mt vn bn
nht dng.Vỡ sao cú th khng nh nh vy?
? Nhn xột v phng thc biu t?
?/Vn bn ny thuc th loi gỡ?
?/X Hu vn ni ting v nhiu th nhng
õy tỏc gi chỳ ý n s ni ting ca dõn ca
Hu. Vỡ sao tỏc gi li quan tõm n dõn ca
Hu?
Trong vn bn ny nhng c im no v
hỡnh thc v ni dung ca ca Hu c gii
thiu?
?/Em cú nhn xột gỡ v li vn trong phn vn
bn ny?
?/Qua ú tỏc gi ó chng minh c nhng
em, đa linh
- Điệu lí: lí hoài nam, lí
hoài xuân
thnh ca dõn ca Hu? Qua ú tớnh cht ni
bt no ca ca Hu c xỏc nhn?
GV chiu trờn mn hỡnh cnh biu din v
thng thc ca Hu.
?/ Cú gỡ c sc trong cỏch biu din ca Hu?
T ú nột p no ca Hu c nhn mnh?
?/ Nột c ỏo trong cỏch thng thc ca Hu
c gii thiu nh th no? T ú cho thy
ca Hu ni bt vi v p no?
- Cách biểu diễn:thanh
lịch ,tế nhị.
- Cách thởng thức: dân
dã ,sang trọng giữa một
thiên nhiên và lòng ngời
xao động.
=> Quyến rũ và lầm say
đắm tâm hồn con ngời
=> Nghe ca Huế là thú
vui tao nhã.
III/ Tổng kết
1. Nghệ thuật
2. Nội dung
IV/Luyện tập
?/ Khi viết lời cuối văn bản : “Không gian như
lắng đọng.Thời gian như ngừng lại.Con gái
Huế nội tâm thật phong phú và âm thầm kín
đáo,sâu thẳm”,tác giả muốn bạn đọc cùng
cảm nhận tác động huyền diệu nào của ca Huế
trên sông Hương?
?/Tại sao tác giả cho rằng nghe ca Huế là một
dùng trực quan sống động đã kích thích hứng thú học tập của học sinh,
đồng thời giúp cho bài giảng của giáo viên trở nên sâu sắc, sống động.
- GV sử dụng phơng pháp đàm thoại kết hợp với hình thức thảo luận
nhóm khá hiệu quả.
- HS hiểu bài và học khá sôi nổi, hoạt động tích cực.
- HS không chỉ hiểu đợc nét đẹp của văn hoá Huế mà còn hiểu đợc
âm nhạc dân gian của các vùng miền khác. Giáo dục cho học sinh thái độ
trân trọng, gìn giữ nét đẹp của văn hoá dân tộc.
2. Nhợc điểm:
- Sự kết hợp giữa lời giảng và trình bày máy chiếu cha thật nhuần
nhuyễn.
=> Nh vậy, qua bài thực nghiệm giảng dạy trên tôi nhận thấy rằng
những giải pháp tôi đa ra trong đề tài hoàn toàn có thể thực hiện đợc đối với
học sinh trờng THCS Thị Trấn Tiên Yên. Kết quả thực nghiệm cho thấy học
sinh rất hào hứng với giờ học, gắn bài học với thực tiễn rất nhanh và hiệu
quả. Giờ học trở nên sôi nổi hơn, tạo tâm lý nhẹ nhàng thoải mái cho học
sinh ở những tiết học sau.
C.Hiu qu
1/ Xỏc nh mc tiờu c thự ca bi hc vn bn nht dng
Nhn mnh vo hai khớa cnh chớnh: Trang b kin thc v trau di
t tng , tỡnh cm thỏi cho hc sinh. Ngha l qua vn bn, cung cp v
m rng hiu bit cho hc sinh v nhng vn gn gi, bc thit ang
din ra trong i sng xó hi hin i, t ú tng cng ý thc cụng dõn
i vi cng ng.
VD: Vi vn bn Ca Hu trờn sụng Hng, mc tiờu bi hc c
xỏc nh nh sau:
HS hiu t vn bn Ca Hu trờn sụng Hng:
- Ca Hu vi s phong phỳ v ni dung, giu cú v ln iu, tinh t
trong biểu diễn và thưởng thức là một nét đẹp của văn hoá cố đô Huế, cần
được giữ gìn và phát triển.
họ).
=> Có thể nói khi dạy học văn bản nhật dụng, GV có nhiều cơ hội
hơn cho đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, nhờ đó mà
các bài học văn bản Nhật dụng sẽ khắc phục được tính thông tin tẻ nhạt
đơn điệu. Từ đó, hiệu quả dạy học văn bản nhật dụng sẽ tăng lên.
2/Phương pháp dạy học
Dạy học phù hợp với phương thức biểu đạt của mỗi văn bản
Trong dạy học văn bản ,không thể hiểu nội dung tư tưởng văn bản
nếu không đọc từ các dấu hiệu hình thức của chúng. Nên dạy học văn bản
nhật dụng cũng phải theo nguyên tắc đi từ dấu hiệu hình thức tới khám phá
mục đích giao tiếp trong hình thức ấy.
- VD: Văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” được tạo theo
phương thức biểu đạt tự sự thì hoạt động dạy học sẽ được tiến hành theo
các yếu tố tự sự đặc trưng như: sự việc, nhân vật, lời văn, ngôi kể; từ đó
hiểu chủ đề nhật dụng đặt ra trong văn bản này là vấn đề quyền trẻ em
trong cuộc sống của gia đình thời hiện đại .
- Còn khi văn bản được tạo lập bằng phương thức thuyết minh như
“Ôn dịch, thuốc lá” thì hoạt động dạy học tương ứng sẽ là tổ chức cho học
sinh tìm hiểu nội dung văn bản từ các dấu hiệu hình thức của bài thuyết
minh khoa học như: tiêu đề bài văn (Em hiểu như thế nào về đầu đề “Ôn
dịch ,thuốc lá”? Có thể sửa nhan đề này thành “Ôn dịch thuốc lá” hoặc
“Thuốc lá là một loại ôn dịch” được không? Vì sao?); vai trò của tác giả
trong văn bản thuýêt minh( Theo em,tác giả có vai trò gì trong văn bản
này); đặc điểm của lời văn thuyết minh (Đoạn văn nào nói về tác hại của
thuốc lá đến sức khoẻ con người? Tác hại này được phân tích trên những
chứng cớ nào?Các chứng cớ được nêu có đặc điểm gì? Từ đó cho thấy
mức độ tác hại như thế nào của thuốc lá đến sức khoẻ con người? ở đây tri
thức nào về tác hại của thuốc lá hoàn toàn mới lạ đối với em?)
- Mặc dù các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản nhật dụng là
thuyết minh và nghị luận nhưng các văn bản này thường đan xen các yếu
- Thông điệp về một cuộc sống đã từng tồn tại trên trái đất và về
những kẻ đã xoá bỏ cuộc sống trên trái đất này bằng vũ khí hạt nhân.
- Tác giả là người yêu chuộng hoà bình, quan tâm sâu sắc đến vũ khí
hạt nhân với niềm lo lắng và công phẫn cao độ.
3/ Vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc trưng của phân môn văn
học như: phương pháp đàm thoại, đọc diễn cảm, giảng bình. Trong đó chú
trọng nhất phương pháp đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt theo mức
độ từ dễ đến khó rồi liên hệ với đời sống.
VD: trong bài “Ca Huế trên sông Hương”(có thể đặt các câu hỏi:
Cách biểu diễn thưởng thức ca Huế có gì giống và khác so với dân ca
quan họ miền Bắc? Từ tác động của ca Huế, em nghĩ gì về sức mạnh của
dân ca nói chung đối với tâm hồn con người?)
Khi dạy văn bản nhật dụng, GV không nên quá coi trọng phương
pháp giảng bình. Bởi bình văn là tỏ lời hay ý đẹp về những điểm sáng thẩm
mĩ trong văn chương, đối tượng bình phải là những tác phẩm mang vẻ đẹp
văn chương. Theo tôi, một số văn bản giàu chất văn chương (như: Mẹ tôi,
Cổng trường mở ra, Ca Huế trên sông Hương, Cuộc chia tay của những
con búp bê) giáo viên có thể sử dụng lời bình giảng nhưng không nên đi
quá sâu. Còn đối với những văn bản nhật dụng không nhằm cảm thụ văn
chương thẩm mĩ (như Bài toán dân số, Thông tin về ngày trái đất năm
2000; Ôn dịch, thuốc lá) thì GV không thể bình phẩm đựơc những vẻ đẹp
hình thức nào cũng như những nội dung sâu kín nào trong đó.Do vậy, khi
dạy GV cần chú ý điều này để tránh sa vào tình trạng khai thác kĩ lưỡng
văn bản mà giảm đi tính chất thực tiễn, gần gũi và cập nhật của văn bản
Nhật dụng.
Mục đích của việc dạy văn bản nhật dụng là giúp học sinh hoà nhập
hơn nữa với đời sống xã hội nên GV phải tạo ra không khí giờ học dân
chủ, sôi nổi,kích thích sự hào hứng của học sinh.
VD :khi dạy bài Ca Huế trên sông Hương GV có thể cho học sinh nghe
một làn điệu dân ca Huế, cuối giờ có thể tổ chức cho học sinh thi hát các