Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
Mục lục:
Trang
A- Mở đầu 2
I: Lý do chọn đề tài 2
II:Lịch sử vấn đề 3
III:Mục đích của đề tài 3
IV:Nhiệm vụ nghiên cứu 4
V:Phương pháp nghiên cứu 4
B- Nội dung 5
I.Đánh giá một giờ dạy học Văn có hiệu quả 5
II:Những hạn chế của giờ dạy và học văn hiện nay – Nguyên nhân. 6
III:Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học văn. 9
IV:Kết quả nghiên cứu ứng dụng của đề tài. 24
V:Triển vọng của đề tài. 24
C. Giáo án thử nghiệm 25
D. Kết luận 35
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
1
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Căn cứ vào yêu cầu phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung
và phân môn Văn nói riêng .
- Cùng với mối quan tâm chung về chất lượng giáo dục, lâu nay dư luận
đang rất quan tâm đến vấn đề dạy văn, học văn trong nhà trường. Ai cũng muốn
giờ dạy văn phải hấp dẫn hơn cuốn hút học sinh và hiệu quả hơn.
- Đổi mới dạy học bằng đáp ứng mục tiêu,yêu cầu của đất nước trong giai
đoạn mới là yêu cầu và cũng là niềm mong mỏi của đội ngũ GV và cán bộ quản
lýgiáo dục.
cho giáo viên Ngữ văn theo tinh thần đổi mới.
- Vấn đề “Nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn” được nhiều nhà giáo,
các nhà nghiên cứu quan tâm và có nhiều bài viết có chất lượng.
Đó là những định hướng phương pháp dạy học cơ bản giúp giáo viên vận
dụng vào quá trình dạy học Ngữ văn Trung học cơ sở.
Người viết trên cơ sở kế thừa phương pháp giáo dục đã được định hướng
kết hợp với việc học hỏi đồng nghiệp, sự trải nghiệm của bản thân muốn qua đề
tài này được cùng các đồng chí và các bạn chia sẻ kinh nghiệm “ Nâng cao hiệu
quả giờ dạy và học Văn” ở trường THCS.
III. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
1. Rút ra một số nguyên nhân khiến giờ dạy và học Văn hiệu quả chưa cao.
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
3
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
2. Đề xuất một số kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Tìm hiểu tình hình dạy và học Văn ở trường THCS (chủ yếu ở lớp 9)
2. Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giờ dạy và học Văn chưa cao.
3. Rút ra một số kinh nghiệm dạy và học Văn.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu, trao đổi.
- So sánh.
- Phân tích.
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
4
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
PHẦN II : NỘI DUNG
I. ĐÁNH GIÁ MỘT GIỜ DẠY VÀ HỌC VĂN CÓ HIỆU QUẢ
Một trong những yêu cầu đổi mới của dạy học chính là “ Làm cho việc
học gắn với môi trường thực tế, gắn với kinh nghiệm sống của cá nhân người
học, tạo điều kiện cho người học có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào
những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn cuộc sống”.
( Đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS – Nguyễn Quang Minh, Nguyễn
Thuý Hồng).
Từ “ Ca Huế trên sông Hương”, học sinh thêm yêu những khúc dân ca
quê mình, trân trọng giữ gìn bản sắc văn hoá có từ bao đời. Từ lời người cha
“Nói với con”, các em tìm thấy ở đó lời nói với chính mình về tình cảm gia đình,
tình yêu quê hương, ý thức gắn bó cội nguồn, ý chí vươn lên trong cuộc sống…
Nhưng môn Văn không phải là những lời giáo huấn khô khan, gượng ép,
hô hào… mà lay động tâm hồn con người rất tự nhiên, rất ám ảnh, rất tinh tế…
và tràn đầy cảm xúc. Tự các em thấy mình phải như thế, nên như thế, ước ao
được như thế… Không cần lúc nào phải nói ra mà tự nhủ trong lòng. Đó là sự
thành công của giờ học Văn.
5. Một điều rất quan trọng đó là từ một giờ Văn cụ thể, học sinh hiểu
thêm cách học Văn để dần dần các em có thể tự đọc – hiểu tác phẩm văn học
một cách khoa học, đúng đắn.
“Hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học
nhiều hơn” ( A. Kômenxki)
Tên gọi “Đọc – Hiểu văn bản” đã lưu ý giáo viên về mặt phương pháp,
không chỉ giúp học sinh nắm những kiến thức cụ thể về nội dung cũng như nghệ
thuật của một văn bản nhất định mà còn giúp học sinh nắm được đặc điểm của
kiểu văn bản để từ đó cách đọc – hiểu thích hợp với kiểu văn bản.
II. NHỮNG ĐIỂM HẠN CHẾ CỦA GIỜ DẠY VÀ HỌC VĂN HIỆN NAY –
NGUYÊN NHÂN
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
6
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
7
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
có sức thuyết phục. Vì vậy, việc phủ nhận những ý nghĩa phù hợp với văn bản
do học sinh phát hiện ra sẽ làm mất đi hứng thú sáng tạo, phát hiện của các em.
4. Thảo luận còn mang tính hình thức
+ Một giờ học Văn đưa ra quá nhiều câu hỏi thảo luận. Cảm thụ văn bản
( nhất là văn bản nghệ thuật) thuộc về khả năng của mỗi cá thể học sinh. Do vậy
hoạt động cá nhân tự bộc lộ phải là hình thức dạy học thường xuyên hàng đầu.
+ Câu hỏi thảo luận không có sức thu hút học sinh: quá đơn điệu, quá dễ
hoặc quá khó với khả năng học sinh.
- Ví dụ : Nhận xét về logic diễn biến tâm trạng của người anh?
(Bức tranh của em gái tôi – Ngữ Văn 6)
Câu thơ :
Ánh trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường
(Ánh trăng – Ngữ văn 9)
Sử dụng biện pháp tu từ gì ?
+ Cuộc thảo luận tẻ nhạt, chỉ tập trung vào học sinh khá, giỏi, những học
sinh khác vì tự ti không đưa ý kiến gì.
5. Các phương pháp và hình thức dạy học chưa phong phú lôi cuốn. Hoạt
động chủ yếu là hỏi, trả lời, vài lần thảo luận nhóm.
6. Người thày chưa chú ý đến giọng điệu văn chương. Giọng điệu đều đều,
hoặc quá nhỏ hoặc quá to ( nhất là khi học sinh ồn ào) hoặc quá nhanh… Sự
thành công của giờ dạy Văn có phần không nhỏ của giọng điệu người thày.
7. Về phía học sinh :
- Không đọc kĩ trước văn bản. Chuẩn bị bài ở nhà còn mang tính đối phó
( Chép ở sách giải bài tập, “ Để học tốt”), bản thân chưa suy nghĩ trước những
câu hỏi phần “ Đọc – Hiểu văn bản”.
- Thể hiện những kiến thức để đọc – hiểu văn bản còn thiếu hụt ( Tiếng
Việt, Văn học, Lịch sử…)
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
9
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
+ Với kiểu văn bản thơ trữ tình: Yếu tố quan trọng về nội dung là cảm xúc
của nhân vật trữ tình. Yếu tố quan trọng về nghệ thuật là từ ngữ, hình ảnh, nhịp
điệu, vần điệu câu thơ, các biện pháp tu từ.
+ Với kiểu văn bản tự sự : Yếu tố quan trọng là các sự kiện, nhân vật, các
tính cách, là ngôn ngữ tự sự, tình huống, kịch tính…
+ Với kiểu văn bản nghị luận : là trình tự lập luận mối quan hệ giữa các lập
luận.
Ví dụ 1 :
Sau khi học bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, cần khắc sâu cho học sinh chú ý
khai thác cảm xúc của nhân vật trữ tình với các cung bậc cảm xúc. Ban đầu sự
tác động vào xúc cảm nhân vật thường là những gì gần gũi nhất, dễ tác động vào
các giác quan con người. Sau đó cảm xúc được mở rộng mênh mang, bay bổng
và cuối cùng trở về lắng đọng trong tâm tư, nỗi niềm nhân vật trữ tình.
Cụ thể : khổ thơ đầu đi từ cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên với dòng
sông, bông hoa, tiếng chim hót rồi những khổ tiếp theo mở rộng thành cảm xúc
trước mùa xuân của đất nước. Những khổ cuối trở về với mùa xuân trong tâm
hồn nhà thơ.
Học sinh sẽ không còn bỡ ngỡ khi tìm hiểu những bài thơ tiếp :
- Bài “Viếng lăng Bác”: từ cảm xúc trước hàng tre bên lăng Bác tới mùa
xuân về cuộc đời Bác và tình cảm của nhân dân dành cho Bác rồi khổ cuối lắng
đọng những tình cảm, ước nguyện thiết tha của nhà thơ.
- Bài “Sang thu” : cảm xúc được khơi lên từ hương ổi gần gũi quen thuộc
trong một ngõ nhỏ rồi mở rộng trong không gian bao la (dòng sông, cánh chim,
đám mây…) và khép lại bằng những suy ngẫm của nhân vật trữ tình.
Ví dụ 2 : Đọc văn bản “Làng” – Kim Lân
Sau khi xác định thể loại : Truyện ngắn
oan
(Thắt nút,
kịch tính)
Tự minh
oan bằng
cái chết
(nút thắt
đỉnh điểm)
Nỗi oan
sáng tỏ
bằng cái
bóng
(mở nút)
Cuộc sống
dưới thuỷ
cung, khát
vọng giải
oan
(Yếu tố kì
ảo)
Oan tình
được giải,
Vũ Nương
vẫn không
trở về
(Tính bi
kịch yếu tố
kì ảo)
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
Dựa trên hệ thống các ý, giáo viên phác thảo hệ thống câu hỏi. Như vậy hệ
xử như vậy? Em có nhận xét gì về cách miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả?
?3. Em có suy nghĩ gì về cách tự minh oan của Vũ Nương? (Nó có mang
tính tích cực không? Nàng có cách giải oạn, thanh minh nào khác không?)
?4. Hình tượng cái bóng đem lại giá trị gì cho câu chuyện ?
?5. Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho nàng. Oan tình đã được giải, phải
chăng nỗi đau không còn, nàng sẽ được sống trong bình yên?
?6. Hãy chỉ ra những chi tiết kì ảo của truyện truyền kì trong truyện? Tác
dụng của những chi tiết đó.
?6. Ta thử đặt ra 2 cách kết thúc : một kết thúc như truyện (Vũ Nương
không trở về), một kết thúc là Vũ Nương được về với Trương Sinh và con. Em
nghĩ xem kết thúc nào hay hơn, làm cho ý nghĩa câu chuyện sâu sắc hơn? Vì sao?
?7. Theo em, những nguyên nhân nào gây nên cái chết oan nghiệt cho Vũ
Nương? Đâu là nguyên nhân sâu xa?
Từ việc đọc – tìm hiểu văn bản bằng trả lời các câu hỏi học sinh sẽ giải mã
được ý nghĩa của văn bản. Đó là :
1. Nghệ thuật dựng truyện (Tạo tình huống truyện) hấp dẫn.
2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
- Trương Sinh xử sự hồ đồ, độc đoán, vũ phu.
- Xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông
trong gia đình.
3. Vũ Nương dùng cái chết để tự minh oan, đó là sự đầu hàng số phận,
chưa thực sự đấu tranh để chống lại số phận, giành lại hạnh phúc cho mình.
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
13
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
Nhưng nàng không có cách nào khác vì luật lệ xã hội phong kiến, không bênh
vực cho người phụ nữ.
4. Hình tượng cái bóng là tình tiết để dẫn đến truyện (nỗi oan), đẩy truyện
lên tới điểm đỉnh (bị mắng nhiếc, đánh đuổi, dẫn đến cái chết oan nghiệt) và
Giáo viên gợi :
- Cảm nghĩ gì về số phận “Người con gái Nam Xương”?
- Cái giá phải trả của Trương Sinh?
- Tình cảm tác giả dành cho nhân vật?
3. Vận dụng các phương pháp dạy học hợp lí
Có nhiều phương pháp dạy học văn, trong đề tài này, tôi chỉ xin đề cập đến
một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học văn để học sinh tích cực
hứng thú học tập.
3.1. Phương pháp vấn đáp gợi tìm
Bản chất của phương pháp này là sử dụng một hệ thống câu hỏi để gợi học
sinh tìm tòi suy nghĩ nhằm đạt được những mục tiêu của bài học. Giáo viên
không trực tiếp đưa ra kiến thức mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bước để tự
hoàn thành kiến thức.
Các bước tiến hành : Ví dụ khi tìm hiểu khổ cuối bài thơ “Bếp lửa” của
Bằng Việt:
* Bước 1 : Xác định yêu cầu cần đạt sau khi vấn đáp
VD : Tình cảm của cháu dành cho bà, rộng hơn là tình yêu đất nước, tình
cảm cội nguồn.
* Bước 2 : Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với việc tìm hiểu nội dung
đó.
Ví dụ :
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
15
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
?1. Cháu đã đi xa là cháu ở nơi nào? cuộc sống nơi đó có gì khác nơi quê
nhà ? (câu hỏi tái hiện, so sánh)
?2. Câu hỏi ở cuối bài thơ có tác dụng gì ? (câu hỏi phân tích giá trị nghệ
thuật)
- Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa bề mặt câu chữ, thày nên gợi cho học sinh ý
Giảng giải để làm rõ hoặc mở rộng kiến thức khó trong văn bản.
Bình khi cần thể hiện sự cảm thụ sâu sắc, tinh tế của người đọc có kinh
nghiệm về tác phẩm.
- Nếu bình, giảng được phát huy đúng lúc, đúng chỗ sẽ có tác dụng hỗ trợ,
gây lòng tin và hứng thú thẩm mĩ cho người học. Thậm chí lời bình hay còn góp
phần rèn kĩ năng cảm thụ văn chương, kĩ năng biết nghe những lời hay ý đẹp, từ
đó làm nảy sinh nhu cầu viết hay của người học trong những bài tự luận văn học.
- Nhưng lời bình giảng ấy không mang tính áp đặt mà chỉ với tư cách làm
một người bạn cùng tham gia đọc - hiểu, tranh luận với học sinh, qua đó giúp các
em lĩnh hội được giá trị đa chiều của tác phẩm ( hướng dẫn chứ không làm thay,
cảm thụ thay).
- Ở đây, tôi muốn nói đến việc khuyến khích học sinh có những lời bình
(bộc lộ sự rung động,say mê, sự cảm kích, cảm phục của mình trước các bình
diện nào đó của áng văn, bài thơ, trước tâm hồn và tài hoa của tác giả ). Trong
các giờ văn, lời bình hầu như chỉ xuất hiện ở phía giáo viên (thày nói cái hay mà
trò cảm nhận được cho học sinh nghe). Học sinh chưa được chú ý, phát huy khả
năng này.
Để học sinh được phát huy năng lực cảm thụ cùng hứng thú với tác phẩm,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự biết bình các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật có
giá trị. Điều này rất cần thiết giúp cho học sinh viết văn tốt hơn.
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
17
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
* Ví dụ : Hướng dẫn học sinh bình về lẽ sống “lặng lẽ dâng cho đời” trong
bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.
Gợi :
- Nhà thơ Thanh Hải sắp từ giã cõi đời nhưng vẫn không ngừng khát khao
cống hiến cho cuộc đời. Em có cảm nghĩ gì về lẽ sống ấy, hãy nói cho các bạn
cùng nghe?
Sau khi tự đọc, tự tìm hiểu văn bản ở nhà, học sinh vẽ theo ý tưởng của
mình, minh hoạ một hình ảnh nào đó mình tâm đắc (nên cho một tổ vẽ một
tranh). Học sinh tự cử một bạn viết lời thuyết minh cho tranh vẽ của tổ. Qua thực
tế vận dụng, học sinh rất thích hình thức hoạt động này.
* Ví dụ :
+ Tổ 1 : Vẽ cảnh Trịnh Hâm du Vân Tiên xuống vời.
+ Tổ 2 : Vẽ cảnh ông Ngư cõng Vân Tiên.
+ Tổ 3 và tổ 4 : Vẽ hình ảnh ông Ngư trong cuộc sống:
“ Rày roi mai vịnh vui vầy
Ngày kia hứng gió đêm nầy chơi trăng”
(Các tranh vẽ minh hoạ cho tiết học “Lục Vân Tiên gặp nạn”)
4.2. Kể một câu chuyện nhỏ về tác giả, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm,
đọc đoạn thơ, đoạn văn mình thích nhất.(giáo viên và học sinh cùng tham gia)
Đây là những hình thức hoạt động khiến học sinh hào hứng và nhiệt tình
tham gia. Giáo viên có thể cho điểm để khuyến khích các em.
Để có những câu chuyện hay về tác giả và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm,
giáo viên cần tích cực sưu tầm.
Ví dụ : Câu chuyện về tác giả Thanh Hải – người sáng tác “ Mùa xuân nho
nhỏ”
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
19
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
Được tập kết ra Bắc năm 1959 (tuổi 20) nhưng Thanh Hải vẫn xin ở lại
miền Nam chiến đấu. Ông sống cùng đồng bào Tà ôi, Vân Kiều ăn củ nâu, củ
chuối thay cơm. Cuộc đời bao gian khổ nhưng ông vẫn kiên cường. Khi vào tuổi
50 ( tóc bạc), ông lâm bệnh nặng, phải chống chọi với nỗi đau đớn của căn bệnh
ung thư gan hiểm nghèo, sự sống chỉ tính bằng giờ, bằng phút. Nhạc sĩ Trần
Hoàn, người bạn thân thiết của ông khuyên ông hãy nghỉ ngơi, đừng viết nữa
nhưng ông vẫn viết, viết hối hả vì sợ mình không còn viết được nữa, chỉ một
dâng cho đời” …
Lời sẻ chia với nhân vật Vũ Nương (Trích trong bài làm của em Nguyễn
Thị Thuý – lớp 9A1)
“ Có thể nói với em và nhiều độc giả khác thì chị là một cô gái rất hoàn
hảo, rất xứng đáng để được hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Nhưng xót xa thay lại
không phải như vậy. Tại sao lại thế chị ơi? Chỉ vì một “cái bóng”, một cái bóng
nhỏ bé của người mẹ hiền mượn để an ủi vỗ về con nhỏ đã làm cho gia đình hạnh
phúc mà chị gìn giữ vun đắp bao lâu phải tan vỡ. Bị chồng đánh đập, mắng
nhiếc, đuổi ra khỏi nhà vô lí, biết mình bị oan mà không được thanh minh, em
biết chị tủi nhục và uất ức lắm! …Chị không quay về! Em hiểu bởi sẽ chẳng còn
hạnh phúc nào cho chị trong cái xã hội bất công đó cả. Cuộc sống dưới thủy cung
tuy chỉ là ảo ảnh nhưng cũng phần nào làm nguôi ngoai sự đau đớn, tiếc thương
cho độc giả như em… Em cầu chúc cho chị sống nơi ấy có một cuộc sống bình
yên, mong chị quên đi những nỗi đau khi xưa để tâm hồn được thanh thản. Nếu
có kiếp sau, em mong chị được sống ở một xã hội công bằng và lấy được người
chồng xứng đáng…”
5. Nghệ thuật sư phạm khi người thày đóng vai trò hướng dẫn học
sinh
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
21
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
Người dạy văn không chỉ là nhà khoa học, nhà sư phạm mà còn là nghệ sĩ
trên bục giảng.
5.1. Khi đặt câu hỏi
Giáo viên phải thể hiện được sự băn khoăn thực sự trước một vấn đề đặt ra
từ tác phẩm. Thể hiện được sự băn khoăn thực sự trước một vấn đề đặt ra từ tác
phẩm và khao khát nhận được câu trả lời từ các em. Từ giọng hỏi, cử chỉ, điệu
bộ, ánh mắt… đều phải thể hiện được điều đó.
5.2. Khi nghe học sinh trả lời
- Người đồng mình sống mạnh mẽ như sông như suối vượt qua mọi ghềnh
thác.
- Người đồng mình sống như sông như suối chảy về biển, chỉ biết cho,
không biết nhận.
- Người đồng mình tâm hồn trong trẻo, vô tư hồn nhiên như sông như suối,
không ngại gì gian khó.
Giáo viên nhận xét : những cách hiểu của các em đều đúng vì các em đã
cảm nhận được qua hình ảnh so sánh đó một tâm hồn, cách sống của người miền
Núi thật đẹp, phong phú, khoáng đạt, tràn đầy niềm tin…
5.3. Giải quyết những tình huống
Ví dụ : Khi học sinh đưa ra những câu hỏi bất ngờ:
* Có học sinh trách Vũ Nương : tại sao Vũ Nương không bỏ đi đến một
nơi nào đó tự kiếm sống nuôi thân, chả lẽ cứ phải rời nhà của Trương Sinh nàng
không sống được hay sao ?
- Giáo viên có thể hỏi lại học sinh :
? Điều gì khiến Vũ Nương đau khổ đến mức phải tự vẫn ?
HS : Danh dự bị bôi nhọ.
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
23
Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn
GV: Như các em đã biết, Vũ Nương hết lời phân trần, hàng xóm thanh
minh cho nàng đều không được, không thể minh oan được trong một xã hội phụ
nữ bị coi thường, nàng có thể bỏ đi một nơi nào đó kiếm sống nhưng nàng không
muốn sống khi bị nhục nhã như vậy. Nghĩa là nàng chết không phải vì không có
cách nào kiếm sống mà chết vì không thể minh oan. Chính cái chết của nàng là
sự tố cáo xã hội ham quyền đầy bất công.
* Sau khi học xong đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” (Truyện Kiều –
Nguyễn Du; Ngữ văn 9 – Tập I ), học sinh có liên hệ đến Tác phẩm “Tắt đèn”
( Ngô Tất Tố; Ngữ văn 8 – Tập I) :
- Phần giới thiệu bài, giới thiệu tác giả, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm.
- Từ lời dẫn dắt chuyển ý (chiếc cầu nối uyển chuyển giữa các phần của
bài).
- Từ việc khai thác tìm hiểu văn bản, cách hỏi học sinh.
- Giọng điệu của người thày.
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài trên đã được chúng tôi nghiên cứu và vận dụng trong các giờ dạy và
học Văn. Các em học sinh hứng thú hơn với giờ học, yêu thích những tác phẩm
văn học hơn. Bản thân người dạy thấy nhẹ nhàng hơn trong việc tổ chức lớp học
đọc – hiểu văn bản.
V. TRIỂN VỌNG CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài này sẽ tiếp tục được nghiên cứu với hướng cụ thể hơn :
- Dạy tác phẩm tự sự hiện đại.
- Dạy tác phẩm thơ trữ tình.
Trần Thị Khánh Vân – Trường THCS Hương
Gián – Yên Dũng
25