Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – tự do – hạnh phúc
BẢN CAM KẾT
I. TÁC GIẢ:
Họ và tên : Đoàn Thị Thuỷ
Ngày, tháng, năm sinh :
Đơn vị :Trường THCS Quyết Tiến
Điện thoại :
E- mai :[email protected]
II.SẢN PHẨM:
Tên sản phẩm : Kinh nghiệm “ nâng cao hiệu quả giờ dạy
kiểu bài văn thuyết minh” ( Trong chương trình Ngữ văn 8)
III.CAM KẾT
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân
tôi. Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn
bộ sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Sở GD & ĐT về tính trung thực của bản cam kết
này.
Quyết Tiến, ngày 2/12/2008
Người cam kết
Đoàn Thị ThuỷĐoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
1
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009
THUYẾT MINH (TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8)
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong mấy chục năm qua, khoa học kĩ thuật “bùng nổ”. Nhiều vấn đề
cần trang bị cho người lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội và nâng cao
chất lượng cuộc sống cá nhân. Có những tri thức không còn thích hợp, thậm chí
đã lỗi thời cần được loại bỏ. Nội dung và phương pháp giáo dục trong nhà
trường, trong đó bậc THCS cần được xem xét, điều chỉnh. Từ năm 1997, những
đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS và việc xây dựng lại chương trình, biên soạn
lại sách giáo khoa các môn học theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động của học sinh
đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương pháp giáo dục. Cùng với các bộ
sách giáo khoa của các khối lớp khác, sách giáo khoa Ngữ văn 8 được biên soạn
theo nguyên tắc tích hợp ba phân môn Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn theo định
hướng tích cực hoá hoạt động học tập của người học. Sự tuân thủ hai nguyên tắc
trên này đã tạo nên những tiền đề thuận lợi cho việc vận dụng định hướng đổi
mới phương pháp dạy học.
Một điểm mới, dễ nhận thấy ở chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 8
là sự cố gắng vừa tiếp thu những nội dung ổn định, hợp lí của bộ sách giáo khoa
Văn học – Tiếng Việt – Tập làm văn có những thay đổi phù hợp với tinh thần tích
hợp và những yêu cầu mới hiện đại hoá thể hiện rõ nhất việc tránh xu hướng hàn
lâm, quá tải, nặng nề, thiếu thiết thực, tăng cường tính ứng dụng thực hành. Theo
tinh thần này, nội dung phần Tập làm văn đã chú ý cân đối nội dung, hướng tới
tính toàn diện và gắn với thực tiễn đời sống nhằm đào tạo năng lực đọc, viết cho
học sinh. Việc đưa kiểu văn bản thuyết minh vào giảng dạy là một minh chứng.
Đây là kiểu văn bản hoàn toàn mới, chưa có trong chương trình và trong
sách giáo khoa Tập làm văn cũ. Tuy nhiên, mới là so với chương trình và sách Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
4
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009- Yêu thích môn học.
- Có ý thức vận dụng lí thuyết vào thực hành: sản sinh văn bản phù hợp với
hoạt động thực tiễn.
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu :
- Các tiết học về kiểu bài thuyết minh trong chương trình sách giáo khoa
Ngữ văn 8.
- Học sinh lớp 8 THCS – Trường THCS Quyết Tiến
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu lí luận kiểu bài thuyết minh, lí luận dạy -
học kiểu bài thuyết minh.
- Nghiên cứu thực tiễn: Dự giờ đồng nghiệp để đánh giá tình hình đổi mới
phương pháp, vận dụng phương pháp mới trong giảng dạy kiểu bài thuyết minh.
* Kế hoạch nghiên cứu : Đã nghiên cứu và vận dụng giảng dạy trong 2 năm.Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
5
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009PHẦN II - NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Vai trò của văn bản thuyết minh trong đời sống
sự vật, hiện tượng và sử dụng chúng vào mục đích có lợi.
Tóm lại, dù ngắn hay dài, dù đơn giản hay phức tạp, văn bản thuyết minh
đều đóng vai trò cung cấp thông tin để giúp người đọc, người nghe hiểu đối
tượng, sự việc. Đưa văn bản thuyết minh vào nhà trường là cung cấp cho học sinh
một kiểu văn bản thông dụng, rèn luyện kĩ năng trình bày các tri thức, nâng cao
năng lực tư duy và biểu đạt cho học sinh , giúp các em làm quen với lối làm văn
có tính khoa học, chính xác.
2. Những đặc điểm của kiểu bài
* Cung cấp tri thức khách quan
Văn bản thuyết minh không sử dụng khả năng quan sát và trí tưởng
tượng phong phú để tạo dựng hình ảnh, diễn biến, cốt truyện như trong văn bản
tự sự, đồng thời cũng không phụ thuộc vào cảm xúc như văn biểu cảm, không
bày tỏ ý định, nguyện vọng hay thông báo tin tức như trong văn bản hành chính.
Với mục đích cung cấp tri thức và nâng cao hiểu biết cho con người, văn bản
thuyết minh sử dụng lối tư duy khoa học, đòi hỏi sự chính xác, rạch ròi. Muốn
làm văn bản thuyết minh thì phải tiến hành quan sát, tìm hiểu, điều tra, nghiên
cứu, tích luỹ kiến thức. Không có sự hiểu biết để có lượng tri thức thì khó có thể
trình bày, giải thích được một cách sâu sắc, chặt chẽ, chính xác, rạch ròi đặc
trưng, tính chất của sự vật hiện tượng.
Mặt khác, dù có sử dụng thao tác giải thích nhưng nó không phụ thuộc
phương thức nghị luận, bởi hình thức giải thích ở đây không phải là dùng lí lẽ và
dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề hay bày tỏ một quan niệm nào đó. Nói cách khác
người làm văn thuyết minh không cần bộc lộ những nhận xét, đánh giá chủ quan
của mình trong quá trình cung cấp tri thức, cũng không tự hư cấu, bịa đặt, tưởng
tượng…Tất cả những gì được giới thiệu, trình bày đều phải phù hợp với quy luật
khách quan, đúng như đặc trưng bản chất của nó ; tức là đúng như hiện trạng vốn Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
7
Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
8
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009- Các bài văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 8 ít có yếu tố nghệ
thuật nên bài dạy dễ rơi vào tình trạng rời rạc, ít hấp dẫn.
- Muốn sản sinh văn bản thuyết minh đòi hỏi học sinh cần nhiều kiến thức
thực tế, chính xác, khoa học. Thực tế giảng dạy cho thấy, học sinh có phần lúng
túng trong vấn đề này.
Vậy, làm thế nào để giảng dạy kiểu bài thuyết minh có hiệu quả nhất ?
Đây là vấn đề tôi luôn băn khoăn. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp với
hy vọng được sự trao đổi, đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp.
III. GIẢI PHÁP: VẬN DỤNG GIẢNG DẠY KIỂU BÀI THUYẾT MINH TRONG CHƯƠNG
TRÌNH .
Nhìn khái quát có thể nói việc dạy học làm văn bao gồm hai việc chính :
dạy lí thuyết và dạy thực hành. Khi giảng dạy, giáo viên có thể áp dụng nhiều
phương pháp khác nhau. Song phương pháp phân tích mẫu, luyện tập theo mẫu
; phương pháp dạy thực hành ; phương pháp giao tiếp có thể xem là phương
pháp cơ bản, phổ biến trong khoa học – kĩ thuật dạy học hiện đại. Để áp dụng
các phương pháp trên vào giảng dạy kiểu bài thuyết minh có hiệu quả, người giáo
viên cần có sự đầu tư thời gian, đào sâu suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo nhằm giúp các
em học sinh nắm vững bản chất của kiểu bài với những đặc trưng mang tính khu
biệt với kiểu bài khác trong chương trình, đồng thời có những kỹ năng cơ bản để
có thể tạo lập được những văn bản thuyết minh đơn giản, gần gũi.
Sau đây tôi xin trình bày 3 phương pháp cơ bản trên mà tôi đã áp dụng
trong quá trình giảng dạy.
1. Vận dụng phương pháp phân tích mẫu trong giảng dạy kiến thức lí thuyết
- Văn bản 2 “ Tại sao lá cây có màu xanh lục” : Giải thích về tác dụng của
chất diệp lục làm cho người ta thấy lá cây có màu xanh.
- Văn bản 3 “ Huế” : Giới thiệu Huế như một trung tâm văn hoá nghệ thuật
lớn của Việt Nam với những đặc điểm tiêu biểu và riêng biệt.
Các loại văn bản này rất phổ biến trong đời sống nhất là trong lĩnh vực giáo
khoa, khoa học, nhật dụng.
Để học sinh hiểu đúng tính chất, đặc điểm của văn bản thuyết minh, giáo
viên tiếp tục hướng dẫn học sinh phân tích mẫu bằng câu hỏi thảo luận nhóm :Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
10
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009( ? ) : Các văn bản trên có thể xem là văn bản tự sự hoặc miêu tả, biểu cảm,
nghị luận, điều hành được không ? Vì sao ?
Trả lời câu hỏi này sẽ giúp cho học sinh phân biệt văn bản thuyết minh với
các kiểu văn bản khác trong chương trình.
Yêu cầu :
- Nhớ, nêu lại những đặc điểm của các loại văn bản tự sự, biểu cảm, nghị
luận, miêu tả.
- Đối chiếu đặc điểm các văn bản mẫu với những đặc điểm đó xem tương
đồng hay khác biệt ( về cơ bản ).
Sau khi thảo luận, giáo viên cần giúp các em rút ra những kết luận về sự
khác biệt của những văn bản mẫu với các loại văn bản khác. Cụ thể :
- Các văn bản trên không nhằm mục đích trình bày diễn biến sự việc xoay
quanh các nhân vật từ đó thể hiện một ý nghĩa nào đó như trong văn bản tự sự.
- Nếu văn bản miêu tả nhằm tái hiện chi tiết, cụ thể về đối tượng giúp người
đọc, người nghe cảm tháy hình ảnh, chân dung về đối tượng thì các văn bản trên
Để tiếp tục tìm hiểu đặc điểm, tính chất của kiểu bài thuyết minh, giáo viên
cho học sinh phân tích mẫu bằng câu hỏi :
( ? ) : Các văn bản trên chủ yếu thuyết minh về đối tượng bằng những
phương thức nào ? Ngôn ngữ, cách diễn đạt của cả 3 văn bản có những đặc điểm
gì ?
-> Phương thức thuyết minh : Giới thiệu, trình bày, giải thích ( cần lưu ý cho
học sinh về bản chất của hai chữ “ giải thích” trong văn bản thuyết minh. Giải
thích trong nội dung đã học là một thao tác trong văn nghị luận, thực chất là trình
bày cách hiểu của cá nhân về một vấn đề nghị luận. Cách giải thích trong văn
nghị luận có thể theo suy luận chủ quan nhằm phát biểu quan điểm. Còn “ giải
thích” trong thuyết minh là trình bày lai lịch, cấu tạo, hoạt động hay tác dụng để
người đọc, người nghe có được hiểu biết về sự vật, hiện tượng một cách đúng đắn Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
12
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009và biết cách sử dụng chúng vào mục đích có lợi. Như vậy, thuyết minh là một
kiểu văn bản còn giải thích trong văn nghị luận chỉ là một phép lập luận ).
-> Ngôn ngữ trong văn bản thuyết minh ( thể hiện ở 3 văn bản mẫu ) : chính
xác, gãy gọn, mạch lạc.
Từ những phân tích trên, giáo viên hướng dẫn cho học sinh rút ra
những kết luận chung trong nội dung phần ghi nhớ ( sách giáo khoa Ngữ văn 8
tập 1 / 117 ) và vận dụng vào làm các bài tập phần luyện tập.
b. Bên cạnh những kiến thức manh tính lý thuyết cơ bản về kiểu văn bản,
chương trình còn bố trí một số tiết cung cấp cho học sinh những hiểu biết về một
số dạng bài thuyết minh cơ bản. Như : Thuyết minh về một thứ đồ dùng ; Thuyết
minh về một thể loại văn học, Thuyết minh về một phương pháp ( cách làm ) ;
- Thân bài :
+ Trình bày những đặc điểm hình thức của thể loại ( Thơ : thể thơ, vần,
nhịp, thanh điệu, cấu trúc…Truyện : thể loại, dung lượng, cốt truyện, tình huống,
nhân vât…Tác phẩm chính luận : bố cục, luận điểm, phương pháp lập luận…)
+ Tác dụng của thể loại trong việc thể hiện chủ đề.
- Kết bài : Vai trò của thể loại trong nền văn học.
Giáo viên lưu ý mở rộng cho học sinh, dạng bài này có thể gồm cả thuyết
minh về một tác giả, một tác phẩm.
-> Phương pháp chủ yếu : định nghĩa, giải thích, nêu ví dụ, phân tích.
*. Dạng bài : Thuyết minh về một phương pháp ( cách làm ) :
Đối tượng thuyết minh của dạng bài này không phải là sự vật, hiện tượng
mà là quá trình hoạt động đề làm ra một sản phẩm hoặc đạt một kết quả nào đó
nên bố cục bài viết khá linh hoạt. Song bài cũng cần theo một trình tự :
- Mở bài : Giới thiệu sản phẩm.
- Thân bài : Giới thiệu lần lượt : Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
14
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009+ Điều kiện ( nguyên vật liệu, dụng cụ ),
+ Cách thức, qui trình thao tác ( có thể kèm theo hình vẽ ).
- Kết bài : Yêu cầu thành phẩm ( Hình thức và chất lượng ).
-> Phương pháp chủ yếu là định nghĩa, giải thích, phân tích.
*. Dạng bài : Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh .
Để làm được kiểu bài này, cần quan sát ( tham quan ), tra cứu sách vở, học
hỏi để có những tri thức đáng tin cậy. Bố cục chung của dạng bài này là :
- Mở bài : Giới thiệu danh lam thắng cảnh.
* Thuyết minh về một vật dụng ( chiếc nón lá, đôi dép lốp, chiếc áo dài…) :
Cần trình bày nguồn gốc, chất liệu, kiểu dáng, màu sắc, quá trình tồn tại, vai trò,
tác dụng, ưu việt, giá trị thẩm mĩ của vật dụng đối với đời sống, sinh hoạt con
người.
* Thuyết minh về một loài cây, một loài vật nuôi : Cần trình bày được tên,
nguồn gốc, các đặc điểm nổi bật ( hình dáng, màu sắc, hương vị, tập tính, thói
quen…), quá trình sinh trưởng và phát triển, cách chăm sóc, nuôi dưỡng…Vai
trò, quan hệ của cây ( con vật ) đối với đời sống con người.
Dạy Tập làm văn cũng như dạy kiểu văn bản thuyết minh rất cần thiết
việc hình thành lý luận một các có hệ thống. Nhưng lý thuyết chỉ thực sự được
củng cố và tiêu hoá thông qua hệ thống bài tập. Rèn luyện bền bỉ, tỉ mỉ từng
bước, thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chặt chẽ từng thao tác một cho
học sinh là một yêu cầu có tính nguyên tắc, phù hợp đặc thù của giảng dạy Tập
làm văn. Thông qua luyện tập thực hành, lý thuyết làm văn mới được định hình
và đạt đến trình độ thông hiểu thực sự.
2. Vận dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu vào giảng dạy nội dung thực
hành.
Khi vận dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu, giáo viên hướng dẫn học
sinh tiến hành phân tích và sản sinh văn bản ( nói, viết ) theo mẫu. Qua việc tìm Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
16
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009hiểu các ngữ liệu, học sinh đi đến những kết luận về lí thuyết ( như phần trên đã
đề cập ) rồi vận dụng linh hoạt những kiến thức này vào hoạt động luyện tập và
tạo lập sáng tạo văn bản theo những yêu cầu của từng bài tập. Với hoạt động tạo
lập sáng tạo theo mẫu không thể không đặt học sinh vào những tình huống giao
truyện ngắn về dung lượng, cốt truyện, kết cấu, vai trò, tác dụng để tạo lập một
dàn ý hợp lý.
3. Vận dụng phương pháp giao tiếp vào giảng dạy nội dung thực hành.
Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh rèn luyện theo mẫu thì việc đưa các
em vào những tình huống giao tiếp để sản sinh văn bản cũng là một việc làm
quan trọng. Điều này thể hiện ở việc giáo viên đưa ra các câu hỏi.
* Ví dụ : Một bạn học sinh trình bày bài thuyết minh về chiếc bàn là điện
( theo dàn ý đã chuẩn bị ). Giáo viên hỏi các học sinh khác :
( ? ) : Theo em, bạn đã trình bày đầy đủ và hợp lý về một đồ dùng bàn là
điện chưa ? Vì sao ? Nếu là em, em sẽ trình bày bài này như thế nào ?
Hoặc : ( ? ) : Nếu có một du khách nước ngoài muốn tìm hiểu về những
danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở quê hương em, em sẽ giới thiệu thắng cảnh
nào ? Và giới thiệu như thế nào ?
Việc đặt ra những câu hỏi để đưa học sinh vào tình huống giao tiếp như
trên chủ yếu vận dụng trong tiết dạy thực hành “ Luyện nói”.
a.Trong chương trình Ngữ văn nói chung, Ngữ văn 8 nói riêng, ngoài
mục luyện tập chiếm một nửa thời lượng mỗi tiết làm văn, còn khá nhiều số giờ
thực hành luyện tập riêng, đặc biệt là số giờ luyện nói. Giờ học này rất quan
trọng. Bởi vì nó không chỉ củng cố lý thuyết mà còn góp phần rèn luyện kĩ năng,
hình thành kĩ xảo. Để giờ làm văn miệng thực sự có hiệu quả, tránh cho các em
cảm giác nhàm chán, đơn điệu, tẻ nhạt, người giáo viên cần ý thức được tầm quan
trọng của tiết học. Giáo viên cần chuẩn bị, xây dựng kế hoạch giảng dạy thật kĩ
lưỡng, tạo được những tình huống sư phạm để phát huy hiệu quả đào tạo học sinh
về nhiều mặt.Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
18
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009
19
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009- Bước 2 : Học sinh thảo luận theo nhóm ( 4 nhóm ), bổ sung ý kiến để hoàn
chỉnh dàn ý trên cơ sở đã chuẩn bị ở nhà ( 10 phút ).
- Bước 3 : Tổ chức thi giữa các nhóm, đại diện các nhóm lên trình bày, các
nhóm khác chấm điểm theo tiêu chí nhất định. ( Mỗi nhóm tổ cử ra một đại dịên
là Ban giám khảo ).
Tiêu chí chấm điểm :
+ Bài nói đúng lý thuyết thuyết minh, đảm bảo các yêu cầu cơ bản khi giới
thiệu một đồ dùng. ( 5 điểm )
+ Ngôn ngữ rõ ràng, tác phong bình tĩnh tự tin, tự nhiên, trình bày mạch lạc,
chặt chẽ. ( 5 điểm )
- Bước 4 : Giáo viên công bố kết quả trên cơ sở tập hợp điểm của Ban giám
khảo, tuyên dương, động viên, khuyến khích. Sửa chữa, bổ sung, uốn nắn những
thiếu sót ở học sinh .
- Bước 5 : Củng cố kiến thức những yêu cầu cụ thể đối với kiểu bài thuyết
minh về một thứ đồ dùng để chuẩn bị cho bài viết đầu tiên về văn thuyết minh.
Để có hiệu qủa thực sự trong giờ luyện làm văn, giáo viên cần đối chiếu yêu
cầu thực hành của bài học theo những vấn đề lí thuyết của nó, quan tâm tới phạm
vi kiến
thức sẽ được học sinh huy động vào làm bài, tạo được nhu cầu thể hiện, cần
bộc lộ ở học sinh cũng như sự lắng nghe, sự quan tâm của giáo viên với những gì
học sinh sẽ bộc lộ.
b. Trong chương trình Ngữ văn còn có tiết “ Trả bài”. Đây cũng là tiết
thực hành và vận dụng tập trung phương pháp giao tiếp trong giảng dạy. Đối với
kiểu bài thuyết minh – kiểu bài lần đầu tiên xuất hiện trong chương trình Ngữ văn
thì tiết trả bài càng cần phải có sự chuẩn bị công phu đúng với ý nghĩa cần và vốn
có của nó. Giáo viên căn cứ vào dữ kiện của đề bài, tình hình làm văn của học
21
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN.
Qua việc vận dụng các phương pháp mang tính đặc thù và đổi mới
phương pháp trong giảng dạy kiểu bài thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 8,
tôi đã đạt được những kết quả ban đầu :
- Học sinh qua các bài học không chỉ thông hiểu mà nắm vững vàng những
đặc trưng cơ bản của kiểu bài. Việc nắm vững các phương pháp, các mô hình về
các kiểu bài thuyết minh đã giúp các em có cơ sở đề tạo lập được các văn bản
thuyết minh đơn giản, gần gũi.
- Vận dụng phương pháp thực hành qua việc hướng dẫn học sinh luyện tập
theo mẫu, tổ chức tốt các tiết học luyện nói, tiết trả bài, giáo viên không chỉ giúp
các em củng cố lý thuyết mà còn hình thành được kĩ năng làm bài. Điều này thể
hiện rõ qua bài viết của các em.
Sau đây là một số đoạn văn tiêu biểu :
“ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bây giờ đã trở thành một điểm thu hút
khách du lịch trong và ngoài nước. Ai cũng muốn được vào thăm để tận mắt nhìn
thấy vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Lăng mở cửa đón khách vào tất cả
các ngày trong tuần trừ thứ 2 và thứ 6. Lăng là công trình lịch sử của Thủ đô Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
22
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009cũng như của cả nước thể hiện lòng kính trọng, biết ơn của dân tộc đối với vị Cha
già kính yêu”.
Các biện pháp trên cùng với kết quả mà tôi đã trình bày khẳng định
được phương pháp giảng dạy kiểu bài thuyết minh như trên là có hiệu quả.
2. Khuyến nghị
Đây là một kiểu bài hoàn toàn mới trong chương trình. Để giảng dạy có
hiệu quả kiểu bài này không phải là chuyện dễ dàng mà đòi hỏi giáo viên phải
đầu tư thời gian, tìm hiểu, tích luỹ kiến thức và làm việc với tinh thần trách
nhiệm cao. Với chút kinh nghiệm nhỏ bé của mình, tôi xin được mạnh dạn đưa ra
ý kiến về việc “ Nâng cao hiệu quả giờ dạy kiểu bài thuyết minh” để cùng được
trao đổi với các đồng nghiệp, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong được Ban giám khảo và các bạn đồng nghiệp nhận xét, giúp đỡ, đóng góp ý
kiến bổ sung.Đoàn Thị Thuỷ Trường THCS Quyết Tiến
24
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2008 – 2009
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Quyết Tiến ngày 1 tháng 1 năm 2008
Người thực hiện
Đoàn Thị Thuỷ
PHẦN IV- TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 8” – NXB Hà Nội 2004 (TS Nguyễn
Văn Đường chủ biên)
2.Sách “Nâng cao Ngữ văn 8” – NXB Hà Nội 2005 (Tạ đức Hiền – TS Lê
Thuận An – TS Nguyễn VIệt Nga- TS PHạm Minh Tú )
3.Sách giáo viên Ngữ văn 8 – NXB Giáo dục Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ