KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY KIỂU BÀI VĂN THUYẾT MINH
KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY KIỂU BÀI VĂN
THUYẾT MINH (TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8)
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO: Trong mấy chục năm qua, khoa học kĩ thuật “bùng nổ”.
Nhiều vấn đề cần trang bị cho người lao động để đáp ứng yêu cầu phát
triển xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân. Có những tri thức
không còn thích hợp, thậm chí đã lỗi thời cần được loại bỏ. Nội dung và
phương pháp giáo dục trong nhà trường, trong đó bậc THCS cần được
xem xét, điều chỉnh. Từ năm 1997, những đổi mới đồng bộ về giáo dục
THCS và việc xây dựng lại chương trình, biên soạn lại sách giáo khoa các
môn học theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động của học sinh đã đặt ra yêu
cầu cấp thiết về đổi mới phương pháp giáo dục. Cùng với các bộ sách giáo
khoa của các khối lớp khác, sách giáo khoa Ngữ văn 8 được biên soạn theo
nguyên tắc tích hợp ba phân môn Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn theo
định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của người học. Sự tuân thủ hai
nguyên tắc trên này đã tạo nên những tiền đề thuận lợi cho việc vận dụng
định hướng đổi mới phương pháp dạy học.
Một điểm mới, dễ nhận thấy ở chương trình sách giáo khoa Ngữ
văn 8 là sự cố gắng vừa tiếp thu những nội dung ổn định, hợp lí của bộ
sách giáo khoa Văn học – Tiếng Việt – Tập làm văn có những thay đổi phù
hợp với tinh thần tích hợp và những yêu cầu mới hiện đại hoá thể hiện rõ
nhất việc tránh xu hướng hàn lâm, quá tải, nặng nề, thiếu thiết thực, tăng
cường tính ứng dụng thực hành. Theo tinh thần này, nội dung phần Tập
làm văn đã chú ý cân đối nội dung, hướng tới tính toàn diện và gắn với
thực tiễn đời sống nhằm đào tạo năng lực đọc, viết cho học sinh. Việc đưa
kiểu văn bản thuyết minh vào giảng dạy là một minh chứng. Đây là kiểu văn bản hoàn toàn mới, chưa có trong chương trình và trong
- Yêu thích môn học.
- Có ý thức vận dụng lí thuyết vào thực hành: sản sinh văn bản phù
hợp với hoạt động thực tiễn.
Nâng cao: HS biết vận dụng các kiến thức và kĩ năng từ kiểu bài
thuyết minh đem lại vào học tập và thực tiễn.
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu:
- Các tiết học về kiểu bài thuyết minh trong chương trình sách giáo
khoa Ngữ văn 8.
- Học sinh lớp 8 THCS – Trường THCS Triệu An
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu lí luận kiểu bài thuyết minh, lí luận
dạy - học kiểu bài thuyết minh.
- Nghiên cứu thực tiễn: Dự giờ đồng nghiệp để đánh giá tình hình đổi
mới phương pháp, vận dụng phương pháp mới trong giảng dạy kiểu bài
thuyết minh.
* Kế hoạch nghiên cứu: Đã nghiên cứu và vận dụng giảng dạy trong các
năm họcPHẦN II - NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN1. Vai trò của văn bản thuyết minh trong đời sống
Như trên đã đề cập, văn bản Thuyết minh là kiểu văn bản lần đầu
tiên được đưa vào chương trình Tập làm văn THCS Việt Nam, cũng là
kiểu bài lạ đối với học sinh
2. Những đặc điểm của kiểu bài* Cung cấp tri thức khách quan
Văn bản thuyết minh không sử dụng khả năng quan sát và trí
tưởng tượng phong phú để tạo dựng hình ảnh, diễn biến, cốt truyện như
trong văn bản tự sự, đồng thời cũng không phụ thuộc vào cảm xúc như
văn biểu cảm, không bày tỏ ý định, nguyện vọng hay thông báo tin tức như
trong văn bản hành chính. Với mục đích cung cấp tri thức và nâng cao
hiểu biết cho con người, văn bản thuyết minh sử dụng lối tư duy khoa học,
đòi hỏi sự chính xác, rạch ròi. Muốn làm văn bản thuyết minh thì phải tiến
hành quan sát, tìm hiểu, điều tra, nghiên cứu, tích luỹ kiến thức. Không có
sự hiểu biết để có lượng tri thức thì khó có thể trình bày, giải thích được
một cách sâu sắc, chặt chẽ, chính xác, rạch ròi đặc trưng, tính chất của sự
vật hiện tượng.
Mặt khác, dù có sử dụng thao tác giải thích nhưng nó không phụ
thuộc phương thức nghị luận, bởi hình thức giải thích ở đây không phải là
dùng lí lẽ và dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề hay bày tỏ một quan niệm nào
đó. Nói cách khác người làm văn thuyết minh không cần bộc lộ những
nhận xét, đánh giá chủ quan của mình trong quá trình cung cấp tri thức,
cũng không tự hư cấu, bịa đặt, tưởng tượng…Tất cả những gì được giới
thiệu, trình bày đều phải phù hợp với quy luật khách quan, đúng như đặc
trưng bản chất của nó ; tức là đúng như hiện trạng vốn có, đúng như trình
tự đã hoặc đang diễn ra…Tóm lại, người viết văn thuyết minh phải tôn
trọng sự thật, không vì lòng yêu ghét mà thuyết minh sai sự thật, không
dùng cảm quan cá nhân để thay đổi thông tin về đối tượng được thuyết
minh.
- Các bài văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 8 ít có yếu tố
nghệ thuật nên bài dạy dễ rơi vào tình trạng rời rạc, ít hấp dẫn.
- Muốn sản sinh văn bản thuyết minh đòi hỏi học sinh cần nhiều kiến
thức thực tế, chính xác, khoa học. Thực tế giảng dạy cho thấy, học sinh có
phần lúng túng trong vấn đề này.
Vậy, làm thế nào để giảng dạy kiểu bài thuyết minh có hiệu quả
nhất ? Đây là vấn đề tôi luôn băn khoăn. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số
giải pháp với hy vọng được sự trao đổi, đóng góp ý kiến của các bạn đồng
nghiệp.
III. GIẢI PHÁP: VẬN DỤNG GIẢNG DẠY KIỂU BÀI THUYẾT MINH TRONG
CHƯƠNG TRÌNH.
Nhìn khái quát có thể nói việc dạy học làm văn bao gồm hai việc
chính : dạy lí thuyết và dạy thực hành. Khi giảng dạy, giáo viên có thể áp
dụng nhiều phương pháp khác nhau. Song phương pháp phân tích mẫu,
luyện tập theo mẫu ; phương pháp dạy thực hành ; phương pháp giao tiếp có
thể xem là phương pháp cơ bản, phổ biến trong khoa học – kĩ thuật dạy học
hiện đại. Để áp dụng các phương pháp trên vào giảng dạy kiểu bài thuyết
minh có hiệu quả, người giáo viên cần có sự đầu tư thời gian, đào sâu suy
nghĩ, tìm tòi, sáng tạo nhằm giúp các em học sinh nắm vững bản chất của
kiểu bài với những đặc trưng mang tính khu biệt với kiểu bài khác trong
chương trình, đồng thời có những kỹ năng cơ bản để có thể tạo lập được
những văn bản thuyết minh đơn giản, gần gũi.
Sau đây tôi xin trình bày 3 phương pháp cơ bản trên mà tôi đã áp
dụng trong quá trình giảng dạy.
1. Vận dụng phương pháp phân tích mẫu trong giảng dạy kiến thức lí
thuyết kiểu bài thuyết minh .
Có thể nói phương thức đi từ mẫu chuẩn là một phương thức phổ
biến trong khoa học kĩ thuật ngày nay. Phân tích mẫu để hình thành tri
thức là con đường quy nạp giúp học sinh nắm kiến thức lí thuyết. Đây là
cảm, nghị luận, điều hành được không ? Vì sao ?
Trả lời câu hỏi này sẽ giúp cho học sinh phân biệt văn bản thuyết
minh với các kiểu văn bản khác trong chương trình.
Yêu cầu :
- Nhớ, nêu lại những đặc điểm của các loại văn bản tự sự, biểu cảm, nghị
luận, miêu tả.
- Đối chiếu đặc điểm các văn bản mẫu với những đặc điểm đó xem tương
đồng hay khác biệt ( về cơ bản ).
Sau khi thảo luận, giáo viên cần giúp các em rút ra những kết luận về
sự khác biệt của những văn bản mẫu với các loại văn bản khác. Cụ thể :
- Các văn bản trên không nhằm mục đích trình bày diễn biến sự việc xoay
quanh các nhân vật từ đó thể hiện một ý nghĩa nào đó như trong văn bản
tự sự.
- Nếu văn bản miêu tả nhằm tái hiện chi tiết, cụ thể về đối tượng giúp
người đọc, người nghe cảm tháy hình ảnh, chân dung về đối tượng thì các
văn bản trên chủ yếu làm cho người ta hiểu về đối tượng.
- Nếu văn bản nghị luận trình bày ý kiến, luận điểm ( trình bày cách hiểu
thể hiện quan điểm tư tưởng của cá nhân về vấn đề theo suy luận chủ quan
) thì các văn bản mẫu không nhằm mục đích trên mà cung cấp những hiểu
biết về đối tượng dựa trên những tri thức và dữ liệu khách quan, khoa học.
- Khi trình bày tri thức về đối tượng đối với các văn bản trên không phụ
thuộc vào cảm xúc chủ quan của cá nhân như trong văn bản biểu cảm, mà
đúng như đặc trưng bản chất của nó ( tức là đúng sự thật ). Và cũng không
nhằm bày tỏ ý định, nguyện vọng, hay thông báo tin tức như trong văn
bản điều hành….
Từ những lí do trên có thể khẳng định đây là kiểu văn bản khác mà
các văn bản tự sự, miêu tả, nghị luận, biểu cảm không thay thế được.
Thấy được sự khác biệt trên, giáo viên hướng dẫn tìm ra đặc trưng
khu biệt của các văn bản trên với các văn bản khác bằng câu hỏi :
( ? ) : Các văn bản trên có những đặc điểm chung nào làm chúng trở
bản, chương trình còn bố trí một số tiết cung cấp cho học sinh những hiểu
biết về một số dạng bài thuyết minh cơ bản. Như : Thuyết minh về một thứ
đồ dùng ; Thuyết minh về một thể loại văn học, Thuyết minh về một
phương pháp ( cách làm ) ; Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh.
Các mẫu được chọn là văn bản : “Chiếc xe đạp”, “ Vào nhà ngục
Quảng Đông cảm tác”, “ Đập đá ở Côn Lôn”, “ Cách làm đồ chơi em bé đá
bóng bằng quả khô”, “ Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn”.
Qua tiết học “ Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh”,
giáo viên đã giúp học sinh rút ra bố cục chung của một bài văn thuyết
minh là :
- Mở bài : Giới thiệu về đối tượng thuyết minh.
- Thân bài : Trình bày, giới thiệu về đối tượng thuyết minh.
- Kết bài : Bày tỏ thái độ với đối tượng thuyết minh.
Đến đây, giáo viên cần tiến hành cho học sinh quan sát văn bản mẫu,
tìm ra đặc điểm và cách làm của từng dạng bài cụ thể.
*Dạng bài : Thuyết minh về một thứ đồ dùng.
Cần quan sát, tìm hiểu kĩ cấu tạo, cơ chế hoạt động, tính năng, tác
dụng của đồ dùng đó. Bố cục chung của dạng bài này là :
- Mở bài : Giới thiệu đồ dùng.
- Thân bài : Trình bày đặc điểm cấu tạo, cơ chế hoạt động, tính năng,
tác dụng, cách sử dụng, bảo quản đồ dùng.
- Kết bài : ích lợi của đồ dùng trong cuộc sống.
-> Phương pháp chủ yếu : Định nghĩa, giải thích, nêu ví dụ, sử dụng
số liệu.
*. Dạng bài : Thuyết minh về một thể loại văn học.
Cần quan sát, nhận xét, sau đó khái quát thành những đặc điểm ( tiêu
biểu và quan trọng ). Bố cục chung của bài văn này là :
- Mở bài : Giới thiệu khái quát về thể loại.
- Thân bài :
+ Trình bày những đặc điểm hình thức của thể loại ( Thơ : thể thơ,
+ Vai trò, tầm quan trọng của di tích, thắng cảnh ( về lịch sử, văn
hoá, du lịch…) đối với đời sống con người.
-Kết bài : ý nghĩa giáo dục của thắng cảnh đối với hiện tại và tương
lai
Cần chú ý : Bên cạnh cơ sở kiến thức đáng tin cậy thì việc sử dụng lời
giới thiệu kèm miêu tả, bình luận, sử dụng một số biện pháp nghệ thuật
một cách hợp lý thì bài văn sẽ hấp dẫn hơn.
c. Qua việc nắm được đặc điểm của kiểu bài, ta dễ dàng nhận thấy đối
tượng thuyết minh là vô cùng phong phú nên giáo viên có thể cung cấp cho
học sinh một số mẫu, định hướng cho các em yêu cầu cơ bản khi thuyết
minh một số đối tượng khác. Cụ thể là :
* Thuyết minh về một cuốn sách, một tập truyện : Cần giới thiệu được
tác giả, thể loại, nhà xuất bản, năm xuất bản, dung lượng, những đặc sắc
về nội dung, nghệ thuật, những đóng góp ảnh hưởng tích cức của cuốn
sách ( truyện…) với người đọc, xã hội.
* Đối tượng thuyết minh là người ( một tác giả, danh nhân, một gương
mặt tiêu biểu…) : Cần giới thiệu tên, tuổi, quê quán gia đình, ngành nghề,
môi trường sinh hoạt làm việc, biểu hiện tư chất, năng khiếu, quá trình
học tập, rèn luyện, thành tích nổi bật và ý nghĩa của những thành tích của
nhân vật được thuyết minh.
* Thuyết minh về một vật dụng ( chiếc nón lá, đôi dép lốp, chiếc áo
dài…) : Cần trình bày nguồn gốc, chất liệu, kiểu dáng, màu sắc, quá trình
tồn tại, vai trò, tác dụng, ưu việt, giá trị thẩm mĩ của vật dụng đối với đời
sống, sinh hoạt con người.
* Thuyết minh về một loài cây, một loài vật nuôi : Cần trình bày được
tên, nguồn gốc, các đặc điểm nổi bật ( hình dáng, màu sắc, hương vị, tập
tính, thói quen…), quá trình sinh trưởng và phát triển, cách chăm sóc,
nuôi dưỡng…Vai trò, quan hệ của cây ( con vật ) đối với đời sống con
người.
Dạy Tập làm văn cũng như dạy kiểu văn bản thuyết minh rất cần
nêu ví dụ ) ; từ đó lập dàn ý cho đề bài ( trên tinh thần thảo luận, thống
nhất nhóm ).
* Ví dụ 2 : Để củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng về kiểu bài
thuyết minh một thể loại văn học, ngoài các bài tập nhận diện, giáo viên có
thể cho các em luyện tập bằng bài tập sau :
Lập dàn ý cho đề bài : “ Thuyết minh về về thể loại truyện ngắn
dựa trên cơ sở các tác phẩm truyện ngắn đã học”.
Căn cứ vào những kết luận về lý thuyết kiểu bài vừa tìm được từ
việc thuyết minh về thể thơ Thất ngôn bát cú đường luật, kết hợp với việc
quan sát tìm hiểu các truyện ngắn trong phần đọc hiểu văn bản, để tìm ra
những đặc điểm của truyện ngắn về dung lượng, cốt truyện, kết cấu, vai
trò, tác dụng để tạo lập một dàn ý hợp lý.
3. Vận dụng phương pháp giao tiếp vào giảng dạy nội dung thực hành.
Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh rèn luyện theo mẫu thì việc đưa
các em vào những tình huống giao tiếp để sản sinh văn bản cũng là một
việc làm quan trọng. Điều này thể hiện ở việc giáo viên đưa ra các câu hỏi.
* Ví dụ : Một bạn học sinh trình bày bài thuyết minh về chiếc bàn là
điện ( theo dàn ý đã chuẩn bị ). Giáo viên hỏi các học sinh khác :
( ? ) : Theo em, bạn đã trình bày đầy đủ và hợp lý về một đồ dùng bàn
là điện chưa ? Vì sao ? Nếu là em, em sẽ trình bày bài này như thế nào ?
Hoặc : ( ? ) : Nếu có một du khách nước ngoài muốn tìm hiểu về
những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở quê hương em, em sẽ giới
thiệu thắng cảnh nào ? Và giới thiệu như thế nào ?
Việc đặt ra những câu hỏi để đưa học sinh vào tình huống giao tiếp
như trên chủ yếu vận dụng trong tiết dạy thực hành “ Luyện nói”.
a.Trong chương trình Ngữ văn nói chung, Ngữ văn 8 nói riêng,
ngoài mục luyện tập chiếm một nửa thời lượng mỗi tiết làm văn, còn khá
nhiều số giờ thực hành luyện tập riêng, đặc biệt là số giờ luyện nói. Giờ
học này rất quan trọng. Bởi vì nó không chỉ củng cố lý thuyết mà còn góp
phần rèn luyện kĩ năng, hình thành kĩ xảo. Để giờ làm văn miệng thực sự
được một bài nói thuyết minh về đối tượng ( chiếc phích ).
-Bước 2 : Học sinh thảo luận theo nhóm ( 4 nhóm ), bổ sung ý kiến để
hoàn chỉnh dàn ý trên cơ sở đã chuẩn bị ở nhà ( 10 phút ).
-Bước 3 : Tổ chức thi giữa các nhóm, đại diện các nhóm lên trình bày,
các nhóm khác chấm điểm theo tiêu chí nhất định. ( Mỗi nhóm tổ cử ra
một đại dịên là Ban giám khảo ).
Tiêu chí chấm điểm :
+ Bài nói đúng lý thuyết thuyết minh, đảm bảo các yêu cầu cơ bản khi
giới thiệu một đồ dùng. ( 5 điểm )
+ Ngôn ngữ rõ ràng, tác phong bình tĩnh tự tin, tự nhiên, trình bày
mạch lạc, chặt chẽ. ( 5 điểm )
-Bước 4 : Giáo viên công bố kết quả trên cơ sở tập hợp điểm của Ban
giám khảo, tuyên dương, động viên, khuyến khích. Sửa chữa, bổ sung, uốn
nắn những thiếu sót ở học sinh .
-Bước 5 : Củng cố kiến thức những yêu cầu cụ thể đối với kiểu bài
thuyết minh về một thứ đồ dùng để chuẩn bị cho bài viết đầu tiên về văn
thuyết minh.
Để có hiệu qủa thực sự trong giờ luyện làm văn, giáo viên cần đối
chiếu yêu cầu thực hành của bài học theo những vấn đề lí thuyết của nó,
quan tâm tới phạm vi kiến
thức sẽ được học sinh huy động vào làm bài, tạo được nhu cầu thể
hiện, cần bộc lộ ở học sinh cũng như sự lắng nghe, sự quan tâm của giáo
viên với những gì học sinh sẽ bộc lộ.
b. Trong chương trình Ngữ văn còn có tiết “ Trả bài”. Đây cũng là
tiết thực hành và vận dụng tập trung phương pháp giao tiếp trong giảng
dạy. Đối với kiểu bài thuyết minh – kiểu bài lần đầu tiên xuất hiện trong
chương trình Ngữ văn thì tiết trả bài càng cần phải có sự chuẩn bị công
phu đúng với ý nghĩa cần và vốn có của nó. Giáo viên căn cứ vào dữ kiện
của đề bài, tình hình làm văn của học sinh đề xác định yêu cầu của tiết dạy
về các mặt tư tưởng, kĩ năng, phương pháp. Giờ trả bài cần tiến hành theo
những đặc trưng cơ bản của kiểu bài. Việc nắm vững các phương pháp,
các mô hình về các kiểu bài thuyết minh đã giúp các em có cơ sở đề tạo lập
được các văn bản thuyết minh đơn giản, gần gũi.
-Vận dụng phương pháp thực hành qua việc hướng dẫn học sinh
luyện tập theo mẫu, tổ chức tốt các tiết học luyện nói, tiết trả bài, giáo viên
không chỉ giúp các em củng cố lý thuyết mà còn hình thành được kĩ năng
làm bài. Điều này thể hiện rõ qua bài viết của các em.
Sau đây là một số đoạn văn tiêu biểu :
“ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bây giờ đã trở thành một điểm thu
hút khách du lịch trong và ngoài nước. Ai cũng muốn được vào thăm để
tận mắt nhìn thấy vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Lăng mở cửa
đón khách vào tất cả các ngày trong tuần trừ thứ 2 và thứ 6. Lăng là công
trình lịch sử của Thủ đô cũng như của cả nước thể hiện lòng kính trọng,
biết ơn của dân tộc đối với vị Cha già kính yêu”. ( Đoạn văn của em Hoàng Thị Lan– lớp 8C).
“ Từ sau năm 1975, chiếc áo dài Việt Nam thực sự lên ngôi. Nó
chiếm vị trí độc tôn trong các dịp lễ hội, giao dịch quốc tế. Nó xuất hiện
trên các diễn đàn, các sân vận động trong và ngoài nước, trong các buổi
biểu diễn nghệ thuật thời trang, thi hoa hậu. Chiếc áo dài đã như câu quan
họ bay đi khắp thế giới, ở đâu nó cũng có một vị trí xứng đáng. Nó được
cải tiến thêm và mang sắc thái riêng từng miền trong những chi tiết nhỏ để
đáp ứng được sở thích và yêu cầu thẩm mĩ của thời đại”. ( Đoạn văn của em Lê Thị Nhi – lớp 8D )PHẦN III - KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ