SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"VẬN DỤNG KỸ THUẬT ĐẶT CÂU HỎI ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ GIỜ DẠY ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN "ĐÂY THÔN VĨ DẠ" CỦA
HÀN MẶC TỬ"
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Trong thời đại khoa học công nghệ thông tin bùng nổ, đứng trước yêu cầu về một
nguồn nhân lực năng động, sáng tạo, có kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp…nền giáo
dục của đất nước đã chú trọng đến sự đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích
cực. Nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học mới được nghiên cứu vận dụng nhằm phát
huy vai trò chủ thể của học sinh trong đó có kỹ thuật đặt câu hỏi. Đặt câu hỏi trong dạy
học (đặc biệt những câu hỏi có vấn đề - tình huống học tập) có ý nghĩa quan trọng trong
việc tổ chức, hướng dẫn quá trình nhận thức giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách
có hệ thống và tạo không khí học tập sôi nổi. Giáo viên qua câu hỏi có thể đánh giá được
năng lực của học sinh, có được thông tin phản hồi làm cơ sở cho sự điều chỉnh, bổ sung
một cách phù hợp, kịp thời những đơn vị kiến thức, kỹ năng trong giờ dạy.
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy nói chung, giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng vẫn
tồn tại tình trạng đầu tư cho việc xây dựng câu hỏi chưa thật sự thỏa đáng. Phần nhiều
câu hỏi sa vào chi tiết vụn vặt, đơn điệu, nhàm chán hoặc trong câu hỏi đã bao hàm ý trả
lời hoặc mang tính chiếu lệ (hỏi cho có hỏi, hỏi để thể hiện rằng có sử dụng phương pháp
đổi mới trong giờ dạy), thiếu những câu hỏi mang tính chất gợi mở, không có những tình
huống gay cấn buộc học sinh phải suy nghĩ, trăn trở vì thế giờ học trôi đi tẻ nhạt, học sinh
không hứng thú, học qua loa cho xong để rồi đến các kì thi, thực tế đáng buồn lại tái diễn:
các em tìm chép tài liệu, sai kiến thức cơ bản, suy diễn nội dung tác phẩm một cách thô
thiển, tách rời nội dung và nghệ thuật của tác phẩm…
Đứng trước yêu cầu của xã hội, trước thực trạng dạy học môn Ngữ văn, tôi luôn trăn
trở, suy nghĩ làm thế nào để vận dụng một cách có hiệu quả những phương pháp, kỹ thuật
dạy học tích cực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Trong quá trình giảng dạy,
cái chưa biết là cái đích cần đạt đến của điểm xuất phát là những dữ liệu đã cho.
- Đối với những câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập) còn phải bao hàm trong bản
thân nó một yếu tố tâm lí nào đó thể hiện ở tính rõ ràng, mới lạ của sự kiện, ở tính bất
thường của bài tập nhận thức ( Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào- Tr
58(1978) I.F Khaz la môp)
2.Câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học và vai trò của câu hỏi trong giờ dạy
đọc- hiểu văn bản văn học:
2.1. Câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học:
Xuất phát từ đặc thù phân môn (vừa là môn khoa học vừa là môn nghệ thuật) nên câu
hỏi trong giờ dạy đọc - hiểu tác phẩm văn chương cũng mang sắc thái riêng độc đáo thể
hiện qua hiệu quả tác động của nó: vừa phát triển tư duy khoa học, tư duy sáng tạo; vừa
kích thích được cảm xúc thẩm mĩ của người học. Vì vậy xây dựng câu hỏi trong giờ dạy
đọc hiểu văn bản văn học ngoài việc tuân thủ các quy trình, hướng đến các mục đích tìm
hiểu nội dung, nghệ thuật tác phẩm, phát triển trí tưởng tượng, sự sáng tạo, bộc lộ cảm
xúc còn phải chú ý phát hiện các mâu thuẫn: từ bản thân tác phẩm giảng dạy, từ tầm đón
nhận của học sinh, từ cách cảm nhận, lí giải, phân tích tác phẩm trái ngược nhau của ý
thức tiếp nhận đồng đại và lịch đại...
2.2.Vai trò của câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học:
-Câu hỏi có vai trò định hướng, giúp học sinh xác định được nhiệm vụ nhận thức, buộc
các em phải huy động tri thức, vốn sống, kinh nghiệm một cách sáng tạo, chọn lọc lấy
những gì có liên quan đến vấn đề đã được biểu đạt. Giáo viên không đưa kiến thức đến
cho các em dưới dạng có sẵn, không rung cảm hộ mà với câu hỏi đưa ra giáo viên sẽ tổ
chức, hướng dẫn cho các em suy nghĩ, cắt nghĩa, thâm nhập vào tác phẩm. Các em tự
nắm bắt giọng điệu nhà văn, đối thoại với người sáng tác, hòa nhập vào khung cảnh của
tác phẩm...Từ đó các em được bồi dưỡng năng lực cảm thụ, năng lực sáng tạo thẩm mĩ ;
quá trình tư duy của các em vận động không ngừng, các em sẽ lớn lên về kiến thức, hoàn
thiện về kỹ năng. Nói cách khác, các câu hỏi sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của học
sinh thông qua sự tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập.
tiếp nhận của các em. Có nghĩa câu hỏi, tình huống học tập được xây dựng phải khai thác
cái mới từ tác phẩm, gợi liên tưởng nhiều chiều ở người học; có khả năng gõ vào sự đồng
cảm, trí tưởng tượng nhưng sau đó buộc các em nâng lên thành cấp độ cao hơn thuộc về
chiều sâu tư tưởng của tác phẩm ; câu hỏi xuất hiện đúng thời điểm, diễn đạt sao cho các
em có thể hiểu và suy nghĩ ngay vào vấn đề giáo viên đặt ra...
- Câu hỏi phong phú đa dạng, có hệ thống hoàn chỉnh: Câu hỏi được xây dựng dưới các
hình thức khác nhau để tránh sự đơn điệu nhàm chán ; câu hỏi có mối liên hệ với nhau
nhằm đảm bảo hướng đến mục đích, yêu cầu nội dung học tập...
2. Xây dựng câu hỏi, tình huống học tập trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản “Đây thôn
Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử):
2.1.Xác định mục tiêu dạy học trong giờ đọc-hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc
Tử):
-Mức độ cần đạt:
+Cảm nhận được tình yêu đời, lòng ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc qua bức tranh
phong cảnh xứ Huế.
+Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, tâm trạng của chủ thể trữ tình và bút pháp tài
hoa độc đáo của Hàn Mặc Tử.
-Trọng tâm kiến thức, kỹ năng:
+Kiến thức:
`Vẻ đẹp thơ mộng, đượm buồn của thôn Vĩ và nỗi buồn, cô đơn
trong cảnh ngộ bất hạnh của một con người tha thiết yêu thiên nhiên,
yêu sự sống.
`Phong cách thơ Hàn Mặc Tử: một hồn thơ luôn quằn quại yêu, đau;
trí tưởng tượng phong phú ; hình ảnh thơ có sự hòa quyện giữa thực
và ảo.
+Kĩ năng:
`Đọc – hiểu bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
`Cảm thụ, phân tích tác phẩm thơ.
là hiện tượng kì lạ vào bậc nhất của phong trào thơ mới:Làm thơ như một trạng thái xuất
thần. Mỗi lần làm thơ là một lần trút thần. Cảm hứng đến như một cú sốc, ý thơ nhảy cóc,
phi logic, như một thể lỏng bất định. Trong thơ ông trăng, hoa, nhạc, hương chen lẫn với
hồn, máu, yêu ma…
*1.3.Bài thơ:
- Hoàn cảnh ra đời: Hồi còn làm ở sở Đạc điền Bình Định, Hàn Mặc Tử thầm yêu Hoàng
Thị Kim Cúc là con ông chủ sở. Sau đó Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo, Kim Cúc về
Huế với cha. Khi biết tin Hàn Mặc Tử bị bệnh, Kim Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử một bức
bưu thiếp in hình cô gái đang chèo thuyền, bên dưới có cành trúc lòa xòa, phía xa là ráng
trời, đằng sau ghi vài lời hỏi thăm. Tấm thiếp đã tác động rất mạnh đến hồn thơ Hàn Mặc
Tử: ấn tượng về xứ Huế thức dậy cùng niềm yêu đời vô bờ khiến tác giả viết bài thơ.
- Xuất xứ: in trong tập thơ Điên (1938) sau đổi thành Đau thương.Tập thơ thể hiện đặc
trưng lối thơ điên của Hàn Mặc Tử:
+Điệu cảm xúc đặc thù là đau thương
+Hình tượng chủ thể là cái tôi li hợp bất định(vừa là mình, vừa phân thân ra cùng một lúc
nhiều mình khác nữa).
+Kênh hình ảnh đặc thù là những hình ảnh kì dị, kinh dị.
+Mạch liên kết trong thơ điên là dòng tâm tư bất định với những đứt nối đầy bất ngờ,
khiến cho mạch thơ thường có vẻ đầu Ngô mình Sở.
+Lớp ngôn từ nổi bật là lớp từ cực tả (có thiên hướng biểu tả ở mức cực điểm)
->“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ trong trẻo chưa có những đặc trưng đầy đủ của lối
thơ điên nhưng dạng cảm xúc ở đây là nỗi khát khao đã nhuốm màu đau thương với
những uẩn khúc của nó, rồi mạch liên kết đầy đứt nối, cùng những ngôn từ thơ có thiên
hướng biểu tả ở mức cực điểm rải rác trong thi phẩm cho thấy không phải vô cớ tác giả
xếp nó vào Đau thương.
*2-. §äc hiÓu v¨n b¶n:
Văn bản có hình thức bề ngoài không liên kết nhưng thực chất có mạch ngầm cảm xúc
xuyên suốt ba khổ thơ.
*2.1.Sơ đồ cấu trúc văn bản:
Ai biết tình ai có đậm đà?
Hình
bóng
khách
đường xa và chốn khói
sương mông lung ->
Cảnh chìm trong mộng
ảo.
Mạch ngầm:
Diễn biến tâm trạng của thi nhân:ao ước, đắm say khi nhớ về cảnh cũ, người
xưa; tiếc nuối khi nhận ra cơ hội trở về không còn ->Buồn bã, trống trải, mặc
cảm về thân phận bị bỏ rơi; hi vọng, phấp phỏng->Mơ tưởng, băn khoăn,
hoài nghi =>Các cung bậc khác nhau của mối u hoài, cốt lõi của mối u hoài,
của tâm tư đầy uẩn khúc là niềm khát khao gắn bó khôn nguôi, yêu đời đến
thiết tha, đớn đau, khắc khoải.
*2.2.Kiến thức cơ bản:
Khæ 1:
- Câu 1: hình thức câu hỏi tu từ mang nhiều sắc thái ý nghĩa: vừa hỏi han, vừa nhắc nhớ,
vừa trách móc giận hờn mát mẻ, vừa mời mọc ngọt ngào, tha thiết đồng thời cũng là lời
tự vấn lòng mình đầy day dứt của nhà thơ. Sự phân thân và những sắc thái phức tạp đan
xen trong cùng một câu hỏi đã cho thấy nỗi ước ao trở về thôn Vĩ vừa mãnh liệt, vừa uẩn
khúc, không dễ bày tỏ.
- Câu 2- 4: Bức tranh thôn Vĩ buổi mai hiện về trong quầng sáng kí ức của thi nhân có
ánh nắng thanh khiết tinh khôi; Có khoảng xanh vườn tược đậm màu quê kiểng, tươi tắn,
tràn đầy sức sống; Có lá trúc mảnh mai điểm xuyết tô đậm thêm vẻ đẹp thanh tú của khu
cho câu hỏi mở đầu văn bản tạo nên kết cấu chặt chẽ thể hiện nhất quán tình yêu dành
cho cuộc sống của nhà thơ.
*3-Tổng kết, củng cố kiến thức:
-Bài thơ thể hiện niềm tha thiết với cuộc sống nhưng đầy uẩn khúc của thi sĩ.
-Cảnh sắc thiên nhiên là sự giao chuyển nhiều cảnh theo lối bất định không tuân thủ theo
tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian.
-Hình ảnh sáng tạo, ngôn ngữ thơ cực tả mà luôn trong sáng, thủ pháp nghệ thuật lấy
động gợi tĩnh…
=>Từ kiến thức về văn bản có thể thấy: Muốn đọc thơ Hàn Mặc Tử phải chú ý đến
mạch ngầm cảm xúc trong cõi tâm hồn của con người mang lòng yêu đời yêu cuộc
sống đến thiết tha nhưng cũng đầy đớn đau, khắc khoải.
2.4. Mã hóa nội dung kiến thức thành câu hỏi, tình huống học tập trong giờ dạy đọc hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử):
Công đoạn xây dựng câu hỏi, tình huống học tập đòi hỏi giáo viên phải chú ý đến nhiều
yếu tố (đặc trưng tài liệu giảng dạy, đối tượng giảng dạy, tâm lí học sinh trước đơn vị
kiến thức cần tìm hiểu…) để có cơ cơ sở định hướng cho việc hình thành câu hỏi, tình
huống học tập đáp ứng yêu cầu.
2.4.1. Một điều hết sức quan trọng đối với việc vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi trong giờ
dạy “Đây thôn Vĩ Dạ” là: Giáo viên phải xây dựng được tình huống học tập trung tâm
trên cơ sở phát hiện mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù của văn bản (mâu thuẫn thuộc cấp độ
hình thức, tập trung làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của tác phẩm). Tình huống học tập
trung tâm này sẽ là điểm tựa để giáo viên phát triển thêm các tình huống, câu hỏi hướng
dẫn học sinh tiếp cận văn bản đúng hướng, có trọng tâm.
Với “Đây thôn Vĩ Dạ”, tình huống học tập trung tâm được tôi xác định là :Bài thơ
được tạo nên từ ba khổ thơ, mỗi khổ thơ đề cập đến một hình ảnh không có sự gắn bó.
Phải chăng “Đây thôn Vĩ Dạ” là sự chắp nối vụng về, rời rạc giữa ba đoạn ? Có dòng
chảy nào xuyên suốt các khổ thơ? (Tình huống xuất hiện cuối giờ học).
Tình huống học tập trên được xây dựng từ việc phát hiện mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù
của “Đây thôn Vĩ Dạ”: sự vận động lạc hướng của tiến trình sự kiện với những xác định
có thể tạo tình huống bằng lời nhận xét: Giả sử ý kiến của anh(chị ) là đúng, ta cùng
nhìn lại văn bản, đọc một số câu thơ “nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”, “Có chở
trăng về kịp tối nay?”…anh(chị ) thấy cách hiểu của mình như thế đã hợp lí chưa?
Ở đây giáo viên phải dẫn dắt, phân tích để học sinh đi đến phủ định hai cách hiểu về
văn bản nói trên: Thi phẩm không đơn thuần tả cảnh vì nhức nhối , ám ảnh trong chúng ta
là những câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”, “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó /
Có chở trăng về kịp tối nay?”, “Ai biết tình ai có đậm đà?”; hơn nữa cách hiểu này đã bỏ
qua phong cách thơ Hàn Mặc Tử “luôn có khuynh hướng quay vào nội tâm, rất ít tả, ít kể
theo cái nhìn của con mắt” (Vũ Quần Phương). Nếu cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ
viết về tình yêu đơn phương thì người đọc mới chỉ dựa vào hoàn cảnh sáng tác mà bỏ qua
căn cứ quan trọng là văn bản ngôn từ.
Tiếp đến, giáo viên phải định hướng cho các em : Đằng sau bức tranh thiên nhiên thơ
mộng, đằng sau mối tình thầm kín của nhà thơ với Hoàng Cúc còn có một nỗi niềm gì
đó sâu xa, kín đáo, khó tiếp cận. Lời định hướng thực chất là sự hé mở cho các em thấy
tầng sâu của bài thơ là thế giới tâm trạng của thi nhân – “cái mạch trữ tình vừa thắm
đượm hồn người vừa thể hiện bằng một thiên bẩm tài hoa” (Giáo viên nhân dân- số đặc
biệt, tháng 11/1989). Đối với học sinh có năng lực nhạy bén, lời định hướng của giáo
viên lại trở thành dữ kiện để các em khắc phục tình huống xuất hiện cuối giờ “Có dòng
chảy nào xuyên suốt các khổ thơ?
*Câu hỏi, tình huống học tập hướng dẫn học sinh đọc- hiểu khổ thơ thứ nhất:
Dựa trên cơ sở sự phát hiện về hình thức độc đáo của câu thơ “Sao anh không về chơi
thôn Vĩ?”, tôi xây dựng một câu hỏi chứa đựng tình huống học tập có hình thức hấp dẫn
dưới dạng một câu đố vừa quen vừa lạ khiến học sinh thích thú từ đó kích thích sự tìm
tòi, khám phá của các em: Nhan đề bài thơ giống như một lời giới thiệu, mời chào :
Đây tôi sẽ tả cho các bạn xem thôn Vĩ và nhà thơ bắt đầu. Nhưng lẽ ra phải bắt đầu
bằng một câu tả như thường lệ thì Hàn Mặc Tử lại bắt đầu bằng câu hỏi . Tại sao
vậy? Câu hỏi ở đây có ý nghĩa gì? Tình huống được nêu có mối liên hệ chặt chẽ với tình
huống cuối giờ học góp phần triển khai mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù của tác phẩm . Tuy
nắng tinh khôi, thuần khiết và thanh thoát mà chỉ hàng cau vào lúc ban mai mới có. Ánh
nắng trinh nguyên của buổi mai như rải những vệt sáng lấp lóa trên những tàu cau còn
ướt sương đêm. Ta như cảm được hương thơm của nắng tỏa xuống không gian, thứ
hương rất nhẹ của hoa cau mới nở. Sắc nắng, vị nắng trộn hòa vào cảnh vật vừa vút lên
trong cái tầm thanh thoát của hàng cau xứ Huế lại vừa chợt ùa xuống, tỏa rộng, tràn lên
tất cả.
+Vườn thôn Vĩ: Thuộc về chủ thể phiếm chỉ “ai”. Hai tính từ chỉ cùng một gam màu
nhưng sắc thái khác nhau “mướt”, “xanh” cùng phép so sánh cụ thể hóa đặc điểm của
khung cảnh, giúp người đọc hình dung khoảng xanh vườn tược với vẻ đẹp mượt mà, mỡ
màng, tràn đầy sức sống ; vẻ đẹp trong sáng, tao nhã, quý phái…giống như một viên
ngọc rời rợi sắc xanh và đang tỏa vào ban mai cả những ánh xanh. Thiếu đi cái ánh sắc
ấy, mảnh vườn đơn sơ bình dị khó lòng có được vẻ thanh tú, cao sang. Từ chỉ mức độ
“quá” chứa đựng cảm nhận về vẻ đẹp ở mức tột bậc và cả niềm thiết tha ở mức đau
thương khiến câu thơ cứ như là buột miệng, như không kìm nổi lòng mình phải reo lên,
phải thốt lên sự ngạc nhiên đến thẫn thờ.
+Lá trúc: mảnh mai, thon dài như nét điểm xuyết làm tôn lên vẻ thanh tú của khung cảnh
thiên nhiên.
+Con người: xuất hiện thấp thoáng sau lá trúc với gương mặt “chữ điền”(có thể là
gương mặt của người phụ nữ mang vẻ đẹp phúc hậu, kín đáo, duyên dáng; có thể là
gương mặt của người đàn ông( trở về thôn Vĩ) đang say ngắm cảnh vật).Ở đây hình ảnh
thơ được miêu tả theo hướng cách điệu hóa gợi lên vẻ đẹp của con người chứ không cụ
thể hóa.
-> cảnh sắc thôn Vĩ qua lăng kính của con người mang mặc cảm chia lìa nên mang đặc
trưng đơn sơ nhưng tươi sáng, trong trẻo, gợi cảm, tràn đầy sức sống và vô cùng lộng
lẫy.
Tôi định hướng cho học sinh đọc - hiểu cảm xúc của thi nhân qua câu hỏi tình huống:
Đặt bức tranh thôn Vĩ buổi mai trong nỗi niềm của con người tha thiết hướng về xứ
Huế nhưng cơ hội trở về không còn, anh (chị) hình dung tâm trạng của nhà thơ như
mây”. Cách lặp từ “gió”, “mây” khiến khoảng cách giữa hai sự vật vốn dĩ không thể
chia lìa mỗi lúc càng như nới rộng thêm. Nhịp thơ 4/3 cắt đôi câu thơ làm nổi bật sự chia
phôi ngang trái như rạch vào nỗi đau thân phận của kẻ bị chia lìa.
+Dòng nước : ngưng đọng, buồn lặng, quạnh quẽ chất chứa nỗi niềm sâu kín khó bề giải
tỏa. Nghệ thuật nhân hóa biến dòng nước vô tri thành sinh thể có linh hồn “dòng nước
buồn thiu”- buồn thiu vì mang sẵn trong lòng tâm trạng buồn hay sự li tán, chia phôi từ
mây, gió đã bỏ buồn cho dòng nước?
+Hoa bắp: màu xám tẻ nhạt, ảm đạm như màu khói khẽ “lay” trong nỗi buồn xa vắng.
“Động thái “lay” tự nó không vui, không buồn. Sao trong cảnh này lại buồn đến vậy? Nó
là nét buồn phụ họa với gió, mây, sông nước hay nỗi buồn sông nước đã lây nhiễm, xâm
chiếm vào hồn hoa bắp phất phơ này? Hàn Mặc Tử nhìn hoa bắp lay” nhận ra sự phiêu
tán, sự ra đi. Cả mây gió, cả dòng nước cứ lìa bỏ nhau và đều lìa bỏ chốn này mà đi hết
cả. Chỉ riêng hoa bắp là tĩnh tại, không thể nhấc mình lên mà lưu chuyển. Bị bỏ rơi lại
bên bờ, động thái “lay” kia có phải là một níu giữ vu vơ, một lưu luyến vô vọng của kẻ bị
chia lìa? Nhà thơ dường như thấy hoa bắp côi cút bên sông như vận vào mình. Mặc cảm
chia lìa đã khiến thi nhân nhìn ra cái thân phận bị bỏ rơi bên trời quên lãng của mình
trong dáng lay sầu tủi của hoa bắp.” (Chu Văn Sơn)
Trên cơ sở phân tích các tín hiệu nghệ thuật, các em đi đến đơn vị kiến thức cần
chiếm lĩnh: ngoại cảnh cũng chính là tâm cảnh, đằng sau bức tranh thiên nhiên kia
chính là hình bóng của con người cô đơn, sầu tủi mang nỗi đau thân phận, mặc cảm của
kẻ bị chia lìa, bị bỏ rơi dưới trời quên lãng.
Tri thức được các em chiếm lĩnh giúp tôi có cơ sở để dẫn dắt đến một tình huống học
tập mới. Tình huống nảy sinh từ nội dung đối lập giữa hai câu thơ: một câu , gửi gắm
niềm hi vọng chứa chan – con thuyền đang sẵn đậu ở bến bờ hạnh phúc ; một câu , khắc
khoải sự ngóng đợi, phấp phỏng lo âu – liệu con thuyền chở trăng có kịp về trong thời
gian gấp vội “tối nay”?: Mang nỗi đau thân phận của kẻ bị chia lìa, niềm yêu sống thôi
thúc nhà thơ nuôi dưỡng niềm mong ước “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở
trăng về kịp tối nay?”. Nhưng vì sao nói : nghe kĩ hai câu thơ dường như chất chứa
trong niềm mong ước là biết bao uẩn khúc, bi kịch?
Để hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập trên, tôi xây dựng các tình huống
thuyền chở trăng sẽ kịp về với mình – một thân phận mang mặc cảm chia lìa. Qua giọng
điệu khắc khoải và chữ “kịp”, người đọc cảm giác nếu con thuyền chở trăng không về
kịp trong khoảng thời gian gấp gáp thì nhà thơ sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng, vĩnh
viễn đau thương. Cảm biết quỹ thời gian đang vơi đi từng khắc, cuộc chia lìa vĩnh viễn
đã sát gần, thi nhân cố gắng tận dụng khoảng thời gian còn lại để giãi bày ước nguyện
hòa nhập, gắn bó với cuộc đời song vẫn không tránh khỏi niềm lo âu khắc khoải- ước
mong tối thiểu (được sống không thôi cũng hạnh phúc lắm rồi) cũng không thành hiện
thực. Vì thế có thể nói trong niềm ước vọng của nhà thơ ẩn chứa nhiều uẩn khúc, bi kịch.
*Câu hỏi, tình huống học tập hướng dẫn học sinh đọc- hiểu khổ thơ thứ ba:
Nhận biết thế giới hiện thực đang tuột khỏi tầm tay, nhà thơ hướng hẳn vào cõi mộng
gửi gắm niềm mơ tưởng. Trong giấc mơ mông lung thi nhân dành mối quan tâm đặc
biệt cho đối tượng nào? Cảm nhận của anh (chị) về đối tượng ấy?
Từ sự so sánh với hai khổ thơ đầu, học sinh dễ phát hiện được: đối tượng trung tâm
trong khổ 3 là hình ảnh con người xuất hiện trong niềm mơ tưởng được định danh bằng
cụm danh từ “khách đường xa”- hình bóng đến rồi đi bất chợt, cách trở, xa xôi, chập
chờn, hư ảo khiến lòng người đa cảm thêm khắc khoải, bồn chồn.
Ngoài đặc điểm cách trở, xa xôi, hình ảnh con người còn được cảm nhận với đặc điểm
“Áo em trắng quá nhìn không ra”. Có cách hiểu khác nhau về câu thơ: do áo lẫn vào
sương khói nên nhìn không rõ (1) ; ca tụng sắc áo trắng đến lạ lùng (2). Ý kiến của
anh (chị)?
Ở tình huống học tập này, tôi hướng học sinh căn cứ vào đặc điểm hồn thơ Hàn Mặc Tử
và các em phân tích, đưa được ý kiến:
- Cách hiểu thứ nhất không thật phù hợp vì chỉ dựa vào những căn cứ bề ngoài (như
bị ám ảnh và ngộ nhận vì màn sương khói – trắng quá nhìn không ra chứ đâu phải mờ
quá nhìn không ra, hay chỉ dựa thuần túy vào nghĩa sơ khai của cụm từ “nhìn không ra”),
nên khó nhìn thỏa đáng được hình ảnh thơ trong mối liên hệ với những khía cạnh sâu xa
thuộc về phong cách ngôn ngữ, cấu trúc hình tượng trong văn bản và tư tưởng của Hàn
Mặc Tử.
trung tâm đã được xác định: Như vậy, bài thơ được tạo nên từ ba khổ thơ, mỗi khổ thơ
đề cập đến một hình ảnh không có sự gắn bó. Phải chăng “Đây thôn Vĩ Dạ”là sự chắp
nối vụng về, rời rạc giữa ba đoạn? Có dòng chảy nào xuyên suốt các khổ thơ?. Đến
đây, với kiến thức đã có khi đọc –hiểu 3 khổ thơ, những học sinh có năng lực tư duy logic
phát hiện được: 3 khổ thơ, 3 bức tranh cảnh vật với đặc điểm khác nhau (cảnh thực trong
trẻo, tươi sáng, tràn đầy sức sống-> cảnh ảm đạm, buồn bã, nét thực ảo chập chờn
chuyển hóa -> cảnh chìm vào mộng ảo) chỉ là dấu hiệu trên bề mặt ngôn từ, còn lớp trầm
tích chính là dòng chảy liên tục của tâm trạng (ước ao, đắm say, mãnh liệt ->dự cảm
chia lìa, mong ngóng, phấp phỏng -> mơ tưởng, hoài nghi) nảy sinh từ hồn thơ yêu đời,
yêu cuộc sống đến đớn đau, khắc khoải.
Mạch ngầm văn bản được các em phát hiện chính là vấn đề cốt lõi mà tôi khắc sâu trong
phần củng cố kiến thức bài học đồng thời cũng là cơ sở quan trọng để tôi dẫn dắt các em
quay trở lại với tình huống học tập: Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ từng có nhiều cách
cảm nhận khác nhau. Có người cho đây là bài thơ tả cảnh, người lại cho bài thơ nói
về tình yêu thầm kín của Hàn Mặc Tử và Hoàng Cúc.Theo anh(chị) cách hiểu ấy có
thỏa đáng không? để các em tự mình kiểm nghiệm lại ý kiến của bản thân, sau đó đi đến
khẳng định : Với cách khắc họa các hình ảnh độc đáo, ngôn ngữ thơ cực tả mà luôn
trong sáng và súc tích, bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên với sự giao chuyển nhiều
cảnh theo lối bất định, ẩn sau đó là những cung bậc tâm trạng của Hàn Mặc Tử - một
con người mang tình yêu tha thiết với cuộc sống nhưng cũng đầy uẩn khúc .
Với cách làm này, giáo viên không áp đặt các đơn vị kiến thức mà trao quyền chủ động
chiếm lĩnh tri thức cho học sinh sau khi các em được thâm nhập vào tác phẩm và trải qua
quá trình tư duy sâu sắc.
Cuối cùng từ quá trình đọc – hiểu “Đây thôn Vĩ Dạ”, tôi yêu cầu những học sinh khá,
giỏi: Chỉ ra dấu hiệu phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử và cách đọc - hiểu tác
phẩm của nhà thơ? Với câu hỏi này, giáo viên vừa kiểm tra được mức độ nắm bắt, tổng
hợp kiến thức trong giờ học (thơ Hàn Mặc Tử thường có những bước nhảy về ý, ý nọ
cách ý kia một khoảng lớn. Nhưng đó chỉ là hình thức còn thực chất ở tầng sâu văn bản
thứ nhất? Ý nghĩa câu thơ mở đầu? Cảm nhận về các câu thơ tiếp theo? Phân tích làm
rõ?...) khiến giờ học trôi đi đơn điệu, tẻ nhạt hoặc sôi nổi hình thức ( học sinh cũng phát
biểu ý kiến song kiến thức không đọng lại vì trong các em là những kiến thức vụn vặt,
cảm xúc hỗn độn …). Tôi chú trọng xây dựng các câu hỏi với hình thức đa dạng (câu hỏi
tạo không khí, dẫn dắt nhằm tác động vào tâm lí học sinh để các em phải băn khoăn, thắc
mắc, chuẩn bị tâm thế huy động kiến thức để giải quyết vấn đề được nêu ; Câu hỏi cảm
xúc ; Câu hỏi phát triển trí tưởng tượng…). Đặc biệt tôi coi trọng việc xây dựng câu hỏi
có vấn đề ( tình huống học tập ) và lưu tâm xây dựng tình huống học tập trung tâm nhờ
vậy không khí giờ học sôi nổi, phát huy được vai trò chủ thể của học sinh. Các em chẳng
những được trải nghiệm cảm giác băn khoăn, ngạc nhiên, thích thú mà còn xác định được
cốt lõi vấn đề cần nắm vững trong tiết học, có được cái nhìn bao quát về hướng đi, cái
đích phải hướng tới của một giờ học ; Các em được làm chủ kiến thức, được chiếm lĩnh
tác phẩm văn chương trong tính chỉnh thể toàn vẹn của một cấu trúc nghệ thuật tinh vi, đa
tầng chứ không phải sự cảm nhận đơn lẻ từng yếu tố, từng chi tiết. Đó là cơ sở để các em
có hứng thú tiếp tục tự mình khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm một cách sâu sắc hơn bởi
khi “vấn đề cốt lõi” của tác phẩm được giải mã các em sẽ nhận ra rằng : còn nhiều yếu tố
quy tụ xung quanh nó còn chưa được khám phá, các em sẽ chưa thỏa mãn với tầm hiểu
biết của mình và tiếp tục bước vào cuộc hành trình khám phá thế giới cái hay, cái đẹp của
văn bản khi giờ học đã kết thúc.
Qua các câu hỏi kiểm tra nhanh, bài kiểm tra tự luận trên lớp hầu hết học sinh nắm
được kiến thức cơ bản của giờ học, biết vận dụng kiến thức để giải quyết các đề bài kiểm
tra liên quan đến tác phẩm, nhiều học sinh có cách lí giải vấn đề thấu đáo, lập luận chặt
chẽ, hành văn có cảm xúc…
Cụ thể: Ở các năm học (2009-2010, 2011-2012) vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi vào giờ
dạy đọc –hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” khi tiến hành cho học sinh các lớp làm bài kiểm
tra tự luận ( đề bài giống nhau) tôi thu được kết quả như sau:
Lớp
Sĩ số
6
16,2 10
27
18
48,7
3
8,1
27
54
9
18
0
0
28
So với kết quả cách dạy chủ yếu là truyền thụ một chiều và có sử dụng một số câu hỏi
18,1 30
68,2 6
13,6
35,7 20
47,6 2
4,8
11B2 44
Lớp đại trà
11A5 42
Lớp khối C 5
11,9 15
SL
%
SL
%