nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp gốm sứ trong bối cảnh hội nhập trên địa bàn huyện gia lâm - Pdf 22

Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s qun tr kinh doanh
i
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp hà nội
*** Trần thị hạnh hiệp
Nâng cao khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp gốm sứ trong bối cảnh
hội nhập trên địa bàn huyện gia lâm Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh Chuyờn ngnh : quản trị kinh doanh
Mã số : 60.34.05

Ngi hng dn khoa hc : gs.ts. trần hữu cờng hà nội - 2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
i


Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
iiLỜI CẢM ƠN

ðể hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi ñã nhận
ñược sự hướng dẫn, giúp ñỡ và góp ý nhiệt tình của các quý thầy cô
trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn ñến quí thầy cô trường ðại
học Nông nghiệp Hà Nội, ñặc biệt là những thầy cô ñã tận tình dạy bảo
cho tôi suốt thời gian học tập tại trường. Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc
ñến GS.TS. Trần Hữu Cường ñã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết
hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn quí thầy cô trong Khoa Quản trị kinh
doanh, Viện ñào tạo sau ðại học ñã tạo rất nhiều ñiều kiện ñể tôi học tập
và hoàn thành tốt khóa học. ðồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các doanh
nghiệp, các hộ gia ñình sản xuất gốm sứ trên ñịa bàn huyện Gia Lâm ñã
tạo ñiều kiện cho tôi ñiều tra khảo sát và ñể có dữ liệu viết luận văn. Mặc
dù tôi ñã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và
năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận ñược những ñóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn.

Hà Nội, Ngày 10 tháng 11 năm 2010
HỌC VIÊN


3.2.4 Phương pháp ñánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 55
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57
4.1 Thực trạng hoạt ñộng của các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh gốm
sứ trên ñịa bàn huyện Gia Lâm 57
4.1.1 Quy trình sản xuất ñồ gốm Bát Tràng 57
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
iv4.1.2 Thực trạng số lượng hoạt ñộng của các DN sản xuất-kinh doanh
gốm sứ trên ñịa bàn huyện Gia Lâm 65
4.1.3 Thực trạng nguồn nguyên liệu sản xuất 66
4.1.4 Thực trạng lao ñộng gốm sứ 67
4.2 Thực trạng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh gốm sứ trên ñịa bàn huyện Gia Lâm 68
4.2.1 Năng lực tài chính 68
4.2.2 Năng lực quản lý và thực hiện chiến lược của doanh nghiệp 74
4.2.3 Nguồn nhân lực 77
4.2.4 Trình ñộ trang thiết bị, công nghệ 79
4.2.5 Chất lượng sản phẩm 80
4.2.6 Năng lực về thương hiệu 81
4.2.7 Khả năng phát triển thị phần 83
4.3 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng ñến khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gốm sứ trên ñịa bàn 89
4.3.1 Xu hướng phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu hóa 89
4.3.2 Môi trường kinh doanh của huyện 90
4.4 Phân tích SWOT của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gốm sứ
huyện Gia Lâm 91
4.4.1 Nhóm các Công ty cổ phần 91
4.4.2 Nhóm các Công ty Trách nhiệm hữu hạn 92


DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 22
Hình 2.2 Các yếu tố tác ñộng ñến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theo
quan ñiểm tổng thể 24
Hình 2.3 Ma trận vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp 24
Hình 4.2 Quy mô vốn của các DN gốm sứ 68
Hình 4.4 Trình ñộ giám ñốc các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gốm sứ. 74
Hình 4.5 Khả năng cạnh tranh tổng hợp của các nhóm DN sản xuất kinh
doanh gốm sứ Gia Lâm 88

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
11.MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Khả năng cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp ñược thể hiện trên
thương trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước
hết ở khả năng cạnh tranh. ðể từng bước vươn lên giành thế chủ ñộng trong
quá trình hội nhập, nâng cao khả năng cạnh tranh chính là tiêu chí phấn ñấu
của các doanh nghiệp Việt Nam. ðến nay, cả nước ñã có khoảng hơn 240.000
doanh nghiệp, gần 3 triệu hộ kinh doanh, trên 200 ngành kinh doanh với hàng
triệu doanh nhân và hàng chục triệu người lao ñộng. Các doanh nghiệp ñã
ñóng góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của ñất nước, ñã tạo ra
khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp, 26% lực lượng lao ñộng cả nước; nếu
năm 2001 trung bình gần 1.000 người dân mới có một doanh nghiệp, thì năm
2005 cứ trên 500 người dân ñã có một doanh nghiệp [24].
Tuy nhiên, nhìn từ góc ñộ doanh nghiệp – khu vực chủ ñạo và tham gia

Long không những nổi tiếng trong nước mà còn bay cao bay xa trên trường
quốc tế. Một trong những làng nghề cổ truyền nổi tiếng ấy là làng gốm ven
sông, làng gốm Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm. ðây là làng gốm lâu ñời và
lừng danh nhất Việt Nam ngày nay vẫn còn hoạt ñộng và phát triển [4].
Thông thường, trong nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ của nước ta thì
người dân làm nghề ít nhiều vẫn còn “dính dáng” ñến sản xuất nông nghiệp –
nghĩa là họ vừa sản xuất ñồ thủ công vừa tranh thủ cấy hái khi ñến ngày mùa.
Nhưng, sự kết hợp này lâu nay không còn tồn tại ở làng gốm sứ Bát Tràng.
Bởi, xã Bát Tràng dù nằm ở giữa vùng ñồng bằng châu thổ sông Hồng, có
diện tích 164 ha, nhưng không còn lấy một tấc ñất ñể cấy lúa. Thế nên, toàn
xã này có 1800 hộ dân thì có tới trên 1000 gia ñình và 118 doanh nghiệp tham
gia sản xuất mặt hàng gốm sứ, cho tổng thu nhập trung bình hàng năm của
toàn xã là trên 300 tỉ [16]. Từ ñặc thù và những số liệu trên ñây cho thấy, sản
xuất kinh doanh gốm sứ ñóng vai trò “sống còn” ñối với người dân Bát Tràng.
Bởi sản xuất gốm sứ ở ñây vừa là nghề truyền thống mà người dân trong làng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
3ñã quen ñến mức thành thục tất cả các công ñoạn làm ra sản phẩm, vừa giải
quyết công ăn việc làm và ñem lại thu nhập cao cho họ.
Tầm quan trọng của nghề sản xuất gốm sứ ở ñây là vậy, nhưng, qua
cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, 2009, Bát Tràng bộc lộ một số yếu ñiểm
buộc người ta phải nghi ngờ về tính bền vững của làng nghề này. ðó là:
“Nhìn chung trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2009, các doanh
nghiệp ở ñây mất từ 70 – 90% ñơn ñặt hàng của bạn hàng nước ngoài”[16].
Vì vậy, còn có nhiều câu hỏi ñặt ra cho các doanh nghiệp gốm sứ Bát
Tràng cần ñược nghiên cứu và trả lời như: Nguyên nhân nào dẫn ñến khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp gốm sứ Bát Tràng thấp? Hệ thống giải
pháp nào ñể nâng cao khả năng cạnh tranh ở các loại doanh nghiệp này là gì ở

của các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh gốm sứ về các phương diện: năng
lực tài chính, năng lực công nghệ, năng lực quản lý, nguồn nhân lực, năng lực
thương hiệu, năng lực phát triển thị phần.
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thu thập ñược chủ yếu từ năm 2007-
2009.
Thời gian nghiên cứu ñề tài: từ tháng 6/2009 ñến tháng 8/2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
52. CƠ SỬ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý thuyết về cạnh tranh
2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Các học thuyết kinh tế thị trường dù ở trường phái nào cũng ñều thừa
nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi
mà cung – cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường, là
ñặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường, cạnh tranh là linh hồn sống của thị
trường. ðây là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác
nhau nên có các quan ñiểm khác nhau về cạnh tranh.
Theo C.Mác “cạnh tranh là sự phấn ñấu ganh ñua gay gắt giữa các nhà tư
bản nhằm giành giật những ñiều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu
thụ ñể ñạt ñược những lợi nhuận siêu ngạch” [13],
Một số các quan niệm khác lại cho rằng “cạnh tranh là sự phấn ñấu về
chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các
doanh nghiệp khác” (Theo nhóm tác giả cuốn “nâng cao năng lực cạnh tranh
và bảo hộ sản xuất trong nước”).
Theo nhà kinh tế học ở Mỹ P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus: “cạnh
tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các ñối thủ nhằm giành lấy thị trường,
khách hàng cho doanh nghiệp mình”. Các tác giả này cho rằng cạnh tranh

sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng ñặc tính và chất lượng sản
phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ
sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt…
Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh
tranh là quan hệ kinh tế mà ở ñó các chủ thể kinh tế ganh ñua tìm mọi biện
pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ ñoạn ñể ñạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường
là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các ñiều kiện sản xuất,
thị trường có lợi nhất. Mục ñích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
7trình cạnh tranh là tối ña hóa lợi ích. ðối với người sản xuất kinh doanh là lợi
nhuận, ñối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi [23].
2.1.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước ñây phạm trù cạnh tranh hầu
như không tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời ñiểm này các doanh nghiệp
hầu như ñã ñược nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt
ñộng, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc
về nhà nước. Vì vậy, vô hình chung nhà nước ñã tạo ra một lối mòn trong
kinh doanh, một thói quen trì trệ và ỷ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm
kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm ñến doanh nghiệp. Chính ñiều
ñó ñã không tạo ñược ñộng lực cho doanh nghiệp phát triển. Sau khi kết thúc
ðại hội ðảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nước ta ñã chuyển sang một giai
ñoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế thị trường ñược hình thành thì vấn
ñề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò ñặc biệt quan trọng không chỉ ñối với
doanh nghiệp mà còn ñối với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc dân
nói chung.
ðối với nền kinh tế quốc dân
ðối với nền kinh tế cạnh trang không chỉ là môi trường và ñộng lực của

ñầu từ việc nghiên cứu thị trường ñể quyết ñịnh sản xuất cái gì? sản xuất như
thế nào? và sản xuất cho ai?. Nghiên cứu thị trường ñể doanh nghiệp xác ñịnh
ñược nhu cầu thị trường và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ
không sản xuất những gì mà doanh nghiệp có. Cạnh tranh buộc các doanh
nghiệp phải ñưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người
tiêu dùng hơn. Muốn vậy các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu
khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác
quản lý, nâng cao trình ñộ tay nghề cho công nhân, cử các cán bộ ñi học ñể
nâng cao trình ñộ chuyên môn. Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo cho doanh nghiệp
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
9một vị trí xứng ñáng trên thị trường tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp. Trên
cơ sở ñó sẽ có ñiều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã hội, tạo
ñà phát triển mạnh cho nền kinh tế.
ðối với ngành
Hiện nay ñối với nền kinh tế nói chung và ñối với ngành gốm sứ nói
riêng, cạnh tranh ñóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nâng cao
chất lượng sản phẩm. Cạnh tranh bình ñẳng và lành mạnh sẽ tạo bước ñà
vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển. ðặc biệt, ñối vơí ngành gốm sứ - là
một ngành có tiềm năng phát triển to lớn. Cạnh tranh sẽ tạo bước ñà và ñộng
lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và ñiểm mạnh của ngành
ñó là thu hút ñược một nguồn lao ñộng dồi dào và có thể khai thác tối ña
nguồn lực ñó.
Như vậy, trong bất cứ một hoạt ñộng kinh doanh nào dù là có quy mô
hoạt ñộng lớn hay quy mô hoạt ñộng nhỏ, dù là hoạt ñộng ñó ñứng ở tầm vĩ
mô hay vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh.
ðối với sản phẩm
Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng ñược nâng cao về

ra hoạt ñộng bán ñấu giá một loại hàng hoá nào ñó.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: ðây là cuộc cạnh tranh
gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn
sức cầu rất nhiều, khách hàng ñược coi là thượng ñế của người bán, là nhân tố
có vai trò quan trọng quyết ñịnh sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do
vậy các doanh nghiệp phải luôn ganh ñua, loại trừ nhau ñể giành những ưu
thế và lợi thế cho mình.
Căn cứ theo tính chất và mức ñộ cạnh tranh
Theo tiêu thức này cạnh tranh ñược chia thành bốn loại:
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
11 - Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức ñơn
giản của cấu trúc thị trường trong ñó người mua và người bán ñều không ñủ
lớn ñể tác ñộng ñên giá cả thị trường. Nhóm người mua tham gia trên thị
trường này chỉ có cách thích ứng với mức giá ñưa ra vì cung cầu trên thị
trường ñược tự do hình thành, giá cả do thị trường quyết ñịnh.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: ðây là hình thức cạnh tranh phổ biến
trên thị trường mà ở ñó doanh nghiệp nào có ñủ sức mạnh có thể chi phối
ñược giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại các
dịch vụ trong và sau khi bán hàng. Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh
mà phần lớn các sản phẩm không ñồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm
mang nhãn hiệu và ñặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sự khác
biệt giữa các sản phẩm là không ñáng kể nhưng mức giá mặc ñịnh cao hơn rất
nhiều. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại:
+ Cạnh tranh ñộc quyền: Là cạnh tranh mà ở ñó một hoặc một số chủ
thể có ảnh hưởng lớn, có thể ép các ñối tác của mình phải bán hoặc mua sản
phẩm của mình với giá rất cao và những người này có thể làm thay ñổi giá cả
thị trường. Có hai loại cạnh tranh ñộc quyền ñó là ñộc quyền bán và ñộc

ngạch. Kết quả là trình ñộ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệp
không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có thể bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế
khác nhau nhằm ñạt ñược lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp hay ñồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác. Như
vậy giữa các ngành kinh tế do ñiều kiện kỹ thuật và các ñiều kiện khác khác
nhau như môi trường kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu có
tính chất khác nhau nên cùng một lượng vốn ñầu tư vào ngành này có thể
mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác. ðiều ñó dẫn ñến tình
trạng nhiều người sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận
thấp có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
13nhuận cao hơn, ñó chính là biện pháp ñể thực hiện cạnh tranh giữa các ngành.
Kết quả là những ngành trước kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các
nguồn lực, quy mô sản xuất tăng. Do ñó cung vượt quá cầu làm cho giá cả
hàng hoá có xu hướng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận. Ngược lại
những ngành trước ñây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà ñầu tư
rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này
giảm, dẫn ñến cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hoá tăng và làm tăng tỷ
suất lợi nhuận.
Căn cứ vào thủ ñoạn sử dụng trong cạnh tranh
Cạnh tranh ñược chia thành hai loại:
- Cạnh tranh lành mạnh: là cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật
cho phép, phù hợp với chuẩn mực xã hội và ñược xã hội thừa nhận; nó thường
diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai.
- Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa vào kẽ hở của
pháp luật, trái pháp luật, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án (như

thu nhập của mình. ðiều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có nhu
cầu mua hay bán là ñảm bảo ñược hài hoà giữa chất lượng và giá cả.
ðể sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở
hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là ñiều cần thiết.
Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay ñổi chất liệu sản phẩm hoặc thay
ñổi công nghệ chế tạo ñảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu
dùng và sau khi tiêu dùng. Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm
là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn.
ðiều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu ñược ngày càng
tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang nghiệp. Làm tăng lòng tin
và sự trung thành của khách hàng ñối với doanh nghiệp.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
15Chất lượng sản phẩm ñược coi là một vấn ñề sống còn ñối với doanh
nghiệp nhất là ñối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải ñương ñầu ñối
với các ñối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam. Một khi chất lượng
hàng hoá dịch vụ không ñược bảo ñảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ ñến với
doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường
dẫn tới sự suy yếu trong hoạt ñộng kinh doanh. Mặt khác chất lượng thể hiện
tính quyết ñịnh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất
lượng sẽ làm tăng tốc ñộ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra,
kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm. Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng
uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp. Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan
trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ ñều phải sử
dụng nó.
Cạnh tranh bằng giá cả.
Giá cả ñược hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung

ñầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội ñể
so sánh, xác ñịnh mức giá của loại sản phẩm này là ñắt hay rẻ chính là ñánh
vào tâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất
lượng cao hơn các hàng hoá khác. Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách
này khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt ñộng
trong thị trường ñộc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp
ít có sự nhạy cảm về giá.
Như vậy, ñể quyết ñịnh sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và
thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ
lưỡng xem mình ñang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là
nghiên cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần phải
xem xét các chiến lược các chính sách giá mà ñối thủ ñang sử dụng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
17Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.
Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh ñắc
lực bởi nó hạn chế ñược tình trạng ứ ñọng hàng hoá hoặc thiếu hàng. ðể hoạt
ñộng tiêu thụ của doanh nghiệp ñược diễn ra thông suốt, thường xuyên và ñầy
ñủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các ñặc
trưng của thị trường, của khách hàng. Từ ñó có các chính sách phân phối sản
phẩm hợp lý, hiệu quả, ñáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chính sách phân
phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc ñẩy tiêu thụ,
tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thông thường kênh phân phối
của doanh nghiệp ñược chia thành 5 loại:
+ Kênh ngắn: Người sản xuất => Người bán lẻ => Người tiêu dùng
+ Kênh cực ngắn: Người sản xuất => Người tiêu dùng
+ Kênh dài: Người sản xuất =>Người buôn bán =>Người bán lẻ
=>Người tiêu dùng

Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay ñổi, thay thế những
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng
các doanh nghiệp hoạt ñộng có hiệu quả, nhằm ñáp ứng tốt hơn nhu cầu của
xã hội, thúc ñẩy nền kinh tế ñất nước phát triển. Tuy nhiên ñể cạnh tranh
ñược và cạnh tranh một cách lành mạnh không phải là dễ bởi nó phụ thuộc
vào tiềm năng, lợi thế và nhiều yếu tố khác của doanh nghiệp hay một quốc
gia, ñó chính là khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, hay một ngành, một
công ty xí nghiệp.
2.1.2.1 Khái niệm khả năng cạnh tranh
Thuật ngữ “khả năng cạnh tranh” ñược sử dụng rộng rãi trên các phương
tiện thông tin ñại chúng, trong sách báo, trong giao tiếp hàng ngày của các
chuyên gia kinh tế, các chính sách của các nhà kinh doanh. Nhưng cho ñến

Trích đoạn Trình ựộ trang thiết bị, công nghệ Khả năng phát triển thị phần Xu hướng phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu hóa Nhóm các Công ty cổ phần Nhóm các Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status