kế toán trên cơ sở tiền mặt và cơ sở tiền mặt có điều chỉnh trong kế toán công quốc tế - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Tiểu luận môn học
KẾ TOÁN CÔNG
CƠ SỞ KẾ TOÁN TIỀN MẶT VÀ TIỀN
MẶT CÓ ĐIỀU CHỈNH TRONG KẾ
TOÁN CÔNG QUỐC TẾ
GVHD : NCS.Phạm Quang Huy
Thực hiện : Lê Thị Mộng Loan
Lớp : KTKT_Ngày
Khoá : 20
  
Tháng 11 - 2012
1
LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi kế toán nhà nước một mặt phải
thừa nhận các nguyên tắc, thông lệ phổ biến của quốc tế, đồng thời, phải có mô
hình quản lý phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. Vì
vậy, đòi hỏi những người soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam phải có nhận
thức về sự khác biệt của kế toán nhà nước với kế toán công quốc tế để hài hoà
giữa kế toán Nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế
Trong kế toán có hai cơ sở thường được sử dụng phổ biến: cơ sở tiền mặt và cơ sở
dồn tích. Ngoài ra, còn có phương pháp hỗn hợp của hai cơ sở trên.
Tại Việt Nam, cơ sở dồn tích thường được các doanh nghiệp sử dụng. Trong khi,
kế toán cơ sở tiền mặt thường được sử dụng trong lĩnh vực công. Tuy nhiên, trên
thế giới kế toán trong lĩnh vực công trước đây sử dụng kế toán tiền mặt thì nay họ
chuyển sang xu hướng kế toán tiền mặt có điều chỉnh. Ưu điểm của phương pháp
kế toán tiền mặt là đơn giản nhưng nó lại không phản ánh đầy đủ các giao dịch đã
phát sinh, vì ghi chép dựa trên thực thu - thực chi. Do đó, kế toán công quốc tế co
ban hành việc sử dụng cơ sở tiền mặt nhưng có điều chỉnh. Vậy sự khác nhau giữa

a. Thuận lợi
 Cơ sở tiền mặt: Những lợi ích liên quan tới cơ sở tiền liên
quan đến loại hình doanh nghiệp hoạt động. Ví dụ: nếu đơn vị kinh doanh
không có kiểm kê hàng tồn kho, hoạt động dựa trên cơ sở tiền, không có trả
lại hàng tồn kho thì cơ sở tiền mặt rất được ưa chuộng. Lý do tiết kiệm chi
3
phí, sổ sách đơn giản và chủ sở hữu dễ dàng xác định được hiệu quả hoạt
động.
 Cơ sở dồn tích: Những nguyên tắc chung được thừa nhận
yêu cầu sử dụng cơ sở dồn tích vì họ sợ có những rủi ro tiềm ẩn có thể bị bóp
méo khi sử dụng cơ sở tiền mặt. Hệ thống cơ sở dồn tích tạo ra những tài
khoản riêng biệt như hàng tồn kho, khoản phải thu và khoản phải trả, chi phí
nhân công trực tiếp và gián tiếp, doanh thu phân bổ và chi phí trả trước. Do
tạo ra những tài khoản tách biệt như vậy mà nhà quản trị có thể xác định hay
dự đoán công ty có lợi nhuận hay không, hoặc đánh giá công ty đã hoạt động
hiệu quả như thế nào.
b. Khó khăn
 Cơ sở tiền mặt: sự bất lợi chính là sự bóp méo các giao dịch
kinh tế xảy ra trong suốt kỳ kế toán mà các giao dịch này thật sự tác động đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ, một công ty báo cáo doanh
thu cao trong hai tháng 11 và 12, thì số doanh thu này trình bày kết quả hoạt
động thật sự không chính xác, bởi vì có một lượng lớn hàng tồn kho đã bán
vào tháng này. Vì vậy, mặc dù hai tháng 11 và 12 cho thấy công ty kinh
doanh có lãi nhưng thật sự là mức lãi này cao hơn thực tế đạt được.
 Cơ sở dồn tích: bất lợi của kế toán cơ sở dồn tích là một số
lượng lớn tài khoản yêu cầu sử dụng. Cơ sở này yêu cầu duy trì một bộ phận
kế toán đồ sộ để tính toán, theo dõi doanh thu và chi phí. Vì vậy, bất lợi lớn
nhất mà hệ thống kế toán cơ sở dồn tích phải đối mặt đó là chi phí cao để duy
trì hệ thống. Vì vậy, doanh thu trong kỳ được dựa trên những dự đoán về
doanh thu thực tế.

- 2 - 2
International 1 1**** 3 5
Total 7 26 13 46
Nguồn: .)
* includes two responses from one jurisdiction (cash basis) and two jurisdictions
(modified cash).
** includes one response which signals an intention and significant progress on full
adoption.
*** includes some responses which note an intention to adopt the Cash Basis IPSAS in
the future.
**** notes experience with modified cash basis, but does not identify the jurisdiction(s).
5
Qua bảng khảo sát trên, ta thấy rằng hầu hết các quốc gia đang chọn cơ sở tiền
mặt có điều chỉnh để ghi nhận các nghiệp vụ trong kế toán công.
2. Cơ sở tiền mặt trong chuẩn mực kế toán quốc tế.
Theo lộ trình, kế toán công sẽ đi dần từng bước từ kế toán trên cơ sở tiền mặt
sau đó sẽ chuyển dần sang kế toán trên cơ sở dồn tích. Cơ sở tiền mặt trong kế
toán công phát hành lần đầu tiên năm 2003. Cơ sở tiền mặt bao gồm có hai
phần và gồm các yêu cầu: công bố thông tin và mở rộng các ví dụ minh họa
IPSASB nhận thức rằng, chính phủ các nước đang có khuynh hướng di
chuyển cơ sở tiền mặt và trong khi tuân thủ những yêu cầu của cơ sở tiền mặt
sẽ đảm bảo tăng cường trách nhiệm giải trình và tính hữu ích của thông tin thì
IPSASB cũng không mong muốn phát triển một khuynh hướng đi ngược lại
với kế toán cơ sở dồn tích. Thông qua các nghiên cứu gần đây, thì IPSASB kết
luận rằng, trước khi chuyển hẳn sang sử dụng kế toán cơ sở dồn tích thì kế
toán lĩnh vực công vẫn nên sử dụng kế toán tiền mặt, bước kế tiếp sẽ sử dụng
kế toán tiền mặt có điều chỉnh.
3. Cơ sở tiền mặt có điều chỉnh(modified cash basic)
6
Ngân sách dòng tiền

cơ sở tiền mặt có điều chỉnh được cung cấp trong ô ở cuối bài viết này. Định nghĩa
này thu hút càng nhiều so với các định nghĩa hiện có trong IPSAS để đảm bảo
tính nhất quán với tất cả các tiêu chuẩn khác. Một cơ sở tiền mặt có điều chỉnh có
thể được coi là:
(i) giai đoạn trung gian trong quá trình chuyển giao dồn tích đầy đủ, hoặc (ii) giai
đoạn không có ý định di chuyển đến dồn tích đầy đủ. Các báo cáo tài chính theo
cơ sở tiền mặt có điều chỉnh theo quy định tại IPSAS 1: (a) Báo cáo Tình hình tài
chính [cân đối kế toán chỉ hiển thị các tài sản tài chính và nợ phải trả], (b) Báo cáo
hoạt động tài chính, (c) Bản Tuyên Bố về Thay đổi trong giá trị tài sản ròng / Vốn
chủ sở hữu, (d) Một dòng tiền mặt Báo cáo [tuy nhiên, một định dạng có thể được
đưa ra để kết hợp các báo cáo dòng tiền mặt với báo cáo của hoạt động tài chính
như là sẽ có sự khác biệt chỉ giới hạn], (e) Khi một tổ chức làm cho công bố công
7
khai ngân sách được phê duyệt, một so sánh của ngân sách và thực tế số tiền, hoặc
như là một tuyên bố riêng tài chính bổ sung hoặc như là một cột ngân sách trên
các báo cáo tài chính, và (f) thuyết minh, bao gồm một bản tóm tắt các chính sách
kế toán chủ yếu cùng các thuyết minh. Cơ sở tiền mặt có điều chỉnh có một số
điểm tham quan: Nó là rộng rãi phù hợp với phương pháp tiếp cận hiện đang áp
dụng bởi hầu hết các chính phủ có ghi lại dòng tiền không chỉ, mà còn các khoản
vay trong nước và nước ngoài (thường là biên bản ghi nhớ hồ sơ hơn là một phần
của cấu trúc kế toán) . Tuy nhiên, cơ sở tiền mặt có điều chỉnh mở rộng thực tế
phổ biến cũng xác định và công bố các hóa đơn chưa thanh toán, ví dụ như hóa
đơn tiện ích, một vấn đề đối với nhiều quốc gia và không bị bắt theo kế toán chính
phủ truyền thống. Hơn nữa, nó cung cấp một đối số cho kết hợp tất cả các thông
tin này trong hệ thống kế toán riêng của mình và do đó cải thiện kiểm soát. Ngân
sách thường được chuẩn bị bằng cách sử dụng cơ sở tiền mặt có điều chỉnh (mặc
dù không thực sự rõ bất kỳ cơ sở), cả hai dòng tiền và dòng chảy tài chính là một
phần của ngân sách.
Phối hợp giữa ngân sách và outturn như yêu cầu của IPSAS 24 là đơn giản. Cơ sở
tiền mặt có điều chỉnh có chứa thông tin quan trọng không có trong cơ sở tiền mặt.

có thể là lý do cho các chính phủ trong dài hạn cho một cơ sở dồn tích đầy đủ. Tuy
nhiên, sự tranh cãi của bài viết này là cơ sở tiền mặt có điều chỉnh: Có thể được
xác định với độ chính xác đủ. Cung cấp thông tin quan trọng cho việc quản lý tài
chính. Các cơ sở tiền mặt có điều chỉnh một tiến bộ đáng kể trên cơ sở tiền mặt
tinh khiết nhưng vẫn còn khả thi đối với hầu hết các quốc gia để thực hiện. Trong
khi hầu hết các nước đã hoạt động một hình thức cơ sở đổi tiền mặt một định
nghĩa rõ ràng cho phép các cơ sở được áp dụng nhất quán trong và giữa các nước -
nó sẽ là tốt hơn nếu cơ sở tiền mặt đổi được chính thức công nhận theo IPSAS.
Đề xuất định nghĩa của Cơ sở tiền mặt có điều chỉnh Kế toán Cơ sở tiền mặt có
điều chỉnh kế toán sẽ nhận ra các giao dịch tiền mặt, tài sản tài chính hoặc nợ phải
trả được thanh toán hoặc nhận được. Báo cáo Tình hình tài chính (Balance Sheet)
sẽ bao gồm các tài sản tài chính và công nợ tài chính. Đối với mục đích của định
9
nghĩa này: Một tài sản tài chính là bất kỳ tài sản đó là: (a) Tiền Tiền (i) bao gồm
tiền mặt tại quỹ, tiền gửi không kỳ hạn và các khoản tương đương tiền (ii) Các
khoản tương đương tiền là ngắn hạn, các khoản đầu tư có tính thanh khoản cao
được dễ dàng chuyển đổi một lượng tiền mặt và chịu rủi ro về thay đổi giá trị (b)
Một dụng cụ vốn chủ sở hữu của thực thể khác; Một dụng cụ vốn chủ sở hữu là
bất cứ hợp đồng mà bằng chứng một sự quan tâm còn lại trong tài sản của một
thực thể sau khi trừ tất cả các trách nhiệm của nó (c) quyền bằng hợp đồng: (i)
nhận tiền mặt hoặc tài sản tài chính khác từ thực thể khác, hoặc (ii) Trao đổi các
tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với các thực thể khác trong điều kiện có
khả năng thuận lợi để các thực thể (d) hợp đồng mà sẽ hoặc có thể được giải quyết
trong các công cụ vốn chủ sở hữu của riêng của đơn vị và là: (i) Một không-phái
sinh cho mà thực thể là hoặc có thể được nghĩa vụ nhận được một số biến của
công cụ vốn chủ sở hữu của riêng của đơn vị; hoặc (ii) Một phái sinh sẽ hoặc có
thể được giải quyết khác hơn là trao đổi của một số tiền cố định của tiền mặt hoặc
tài sản tài chính khác đối với một số cố định của các công cụ vốn chủ sở hữu của
riêng của thực thể. Cho mục đích này của tổ chức cụ vốn chủ sở hữu của riêng nào
không bao gồm cụ puttable tài chính được phân loại như là công cụ vốn theo quy

các bước sau:
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính
công và kế toán nhà nước phù hợp với CMKT công quốc tế.
- Cần đánh giá thực trạng kế toán nhà nước Việt Nam, từ đó, chỉ ra những vấn đề
sửa đổi cơ chế tài chính công và những vướng mắc, bất hợp lý so với CMKT công
quốc tế.
- Tổ chức biên dịch, nghiên cứu CMKT công quốc tế.
- Xác định hướng và lộ trình áp dụng CMKT công quốc tế để xây dựng hệ thống
CMKT nhà nước Việt Nam.
- Sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính công phù hợp với CMKT công quốc tế .
Kế toán nhà nước của Việt Nam chịu sự chi phối bởi Luật Ngân sách và các văn
bản qui định cơ chế tài chính cho các đơn vị thuộc lĩnh vực công . Còn đỉêm khác
11
bịêt giữa các qui định của Luật Ngân sách với các qui định của CM công. Vì vậy ,
để có thể vận dụng được chuẩn mực công quốc tế đòi hỏi phải có sửa đổi , bổ
sung.
- Nghiên cứu, xây dựng hệ thống CMKT công của Việt Nam.
- Triển khai áp dụng các CMKT công của Việt Nam.
Căn cứ vào hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc gia, cần có các qui định cụ thể
cho các đơn vị trong lĩnh vực công thực hiện. Cần tiến hành các bước :
+ Xây dựng hoàn chỉnh CĐKT nhà nước.
+ Xây dựng quy trình nghiệp vụ phù hợp với định hướng phát triển.
+ Kiểm tra, triển khai thực hiện.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A proposed definition of the modified cash basis- Tạp chí Governmental
Financial Management 97.
2. Review of the Cash Basis IPSAS, “Financial Reporting Under the Cash Basis of
Accounting” Report of The Task Force, 29 May 2
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status