NỘI DUNG
1. GIỚI THIỆU 1
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2. THỰC TRẠNG 2
1.2.1. Thực trạng chung 2
1.2.2. Thuận lợi 3
1.2.3. Khó khăn 3
1.3. GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI 4
1.3.1. Mục đích 4
1.3.2. Phạm vi áp dụng 4
2. KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ MÔN TIN HỌC 5
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1. Tổng quan về kiểm tra đánh giá 5
2.1.2. Kiểm tra đánh giá bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng 9
2.1.3. Kiểm tra đánh giá theo chuẩn KTKN môn Tin học 11
2.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA CHỦ QUAN 13
2.2.1. Kiểm tra vấn đáp (kiểm tra miệng) 13
2.2.2. Kiểm tra viết 16
2.2.3. Kiểm tra thực hành 17
2.3. PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA KHÁCH QUAN 19
2.3.1. Khái niệm 19
2.3.2. Các loại câu trắc nghiệm 20
2.3.3. Ưu và nhược điểm của kiểm tra trắc nghiệm 24
2.4. QUY TRÌNH BIÊN SOẠN ĐỀ KTĐG THEO CHUẨN KTKN MÔN TIN
HỌC 25
2.4.1. Quy trình biên soạn đề KT theo chuẩn KTKN 25
2.4.2. Bảng mô tả các cấp độ tư duy 30
2.4.3. Ví dụ minh họa đề kiểm tra môn Tin học 32
2.5. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ
MÔN TIN HỌC 41
2.5.1. Phần mềm Microsoft Powerpoint 42
Hình 3c. Một slide chấm điểm thiết kế bằng MS Powerpoint 45
Hình 4. Một slide “trò chơi chiếc nón kỳ diệu” thiết kế bằng MS Powerpoint 45
Hình 5. Một slide “trò chơi ô chữ” thiết kế bằng MS Powerpoint 46
Hình 6. Một slide “trò chơi trúc xanh” thiết kế bằng MS Powerpoint 46
Hình 7a. Màn hình nhập tên HS khi bắt đầu kiểm tra trên Netop School 50
Hình 7b. Màn hình theo dõi tiến độ làm bài kiểm tra của HS trên Netop School 50
Hình 7c. Màn hình Kết quả làm bài kiểm tra của HS trên Netop School 50
Hình 7d. Màn hình kết quả làm bài của cả lớp trên Netop School 51
Hình 7e. Màn hình kết quả làm bài chi tiết của HS trên Netop School 51
Hình 8a. Màn hình thiết kế câu hỏi trắc nghiệm 1 đáp án đúng bằng Netop School 52
Hình 8b. Màn hình làm bài trắc nghiệm 1 đáp án đúng trên Netop School 52
Hình 9a. Màn hình thiết kế đề trắc nghiệm nhiều đáp án đúng trên Netop School 53
Hình 9b. Màn hình làm bài trắc nghiệm nhiều đáp án đúng trên Netop School 53
Hình 10a. Màn hình thiết kế bài tập điền khuyết có các từ gợi ý trên Netop School 54
Hình 10b. Màn hình làm bài tập điền khuyết với các từ gợi ý trên Netop School 54
Hình 11a. Màn hình thiết kế đề điền khuyết có gợi ý nhiều hơn trên Netop School 55
Hình 11b. Màn hình làm bài điền khuyết có từ gợi ý nhiều hơn trên Netop School 55
Hình 12a. Màn hình thiết kế bài tập sắp xếp thứ tự các ý trên Netop School 56
Hình 12b. Màn hình làm bài tập dạng sắp xếp thứ tự các ý trên Netop School 56
Hình 13a. Màn hình thiết kế bài tập gán nhãn hình ảnh trên Netop School 57
Hình 13b. Màn hình làm bài tập dạng gán nhãn hình ảnh trên Netop School 57
Hình 14a. Màn hình thiết kế bài tập ghép hợp có hình ảnh trên Netop School 58
Hình 14b. Màn hình làm bài tập dạng ghép hợp có hình ảnh trên Netop School 58
Hình 15a. Màn hình thiết kế bài tập điền khuyết không gợi ý trên Netop School 59
Hình 15b. Màn hình làm bài tập dạng điền khuyết không gợi ý trên Netop School 59
Hình 16a. Màn hình thiết kế bài tập tự luận trên Netop School 60
Hình 16b. Màn hình làm bài tập tự luận trên Netop School 60
Hình 17. Màn hình thiết kế câu hỏi trắc nghiệm 1 đáp án đúng bằng Violet 63
Hình 17. Màn hình thiết kế câu hỏi trắc nghiệm nhiều đáp án đúng bằng Violet 63
Hình 19. Màn hình thiết kế câu hỏi trắc nghiệm đúng-sai bằng Violet 64
Từ năm học 2006-2007, môn Tin học được chính thức đưa vào trường học, là
môn học chính khóa đối với học sinh cấp THPT, là môn học tự chọn bắt buộc đối
với học sinh cấp THCS và là môn học tự chọn không bắt buộc đối với học sinh cấp
Tiểu học.
Đặc trưng của Tin học vừa là một môn học, tức có đối tượng, phương pháp
nghiên cứu riêng, đồng thời vừa là một phương tiện được ứng dụng mạnh mẽ vào
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Để việc dạy và học môn Tin học đạt được kết quả tốt, ngoài yếu tố giảng dạy,
truyền đạt kiến thức, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũng là một vấn đề hết
sức quan trọng. Căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá, chúng ta sẽ thấy được hiệu
quả của việc giảng dạy.
Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là một yêu cầu cần
thiết và cấp bách, nhằm đảm bảo tính khoa học, chính xác, khách quan, giúp người
dạy và người học nhìn nhận được đúng thực chất của việc dạy học, từ đó có những
biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng dạy học.
Một trong những yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa đã và đang
thực hiện là cần tiến hành một cách đồng bộ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp
dạy học và kiểm tra - đánh giá. Nếu không đổi mới kiểm tra - đánh giá thì việc đổi
mới về phương pháp dạy học sẽ trở nên vô nghĩa.
Chính vì vậy, việc ra đề kiểm tra cần phải suy nghĩ, nghiên cứu và trao đổi kỹ
hơn để tránh những tình trạng thiên lệch, cực đoan, vội vàng, thiếu đi sự toàn diện,
khách quan và công bằng, và nhất là làm sao để việc kiểm tra, đánh giá phải góp
phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học.
Trên tinh thần đó, chuyên đề “Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Tin học cấp
THPT” được thực hiện nhằm góp một phần nhỏ vào quá trình đổi mới việc kiểm
tra đánh giá môn Tin học nói riêng và tiến tới đổi mới toàn diện trong việc dạy và
học môn Tin học trong trường phổ thông.
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 1 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn giáo viên – dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ
năng môn Tin học cấp THPT, 2010
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 2 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
quả đánh giá của mỗi GV, mỗi trường và mỗi địa phương thường khác
biệt nhau.
- Một bộ phận GV còn coi nhẹ KTĐG, do vậy trong KT bài cũ, 15 phút,
45 phút, việc ra đề KT còn qua loa. Nhiều GV ra đề KT với mục đích
làm sao để dễ chấm, chấm nhanh nên kết quả đánh giá chưa thật sự
khách quan.
1.2.2. Thuận lợi
Từ khi môn Tin học được chính thức đưa vào trường học, đã làm thúc đẩy
quá trình tìm tòi, nghiên cứu, cải tiến cả về nội dung và phương pháp dạy học,
giúp cho việc triển khai dạy-học môn học trở nên thuận tiện và hiệu quả hơn.
Ngày nay, với sự bùng nổ của Internet, khối lượng tri thức được tăng lên
đáng kể, đặc biệt là việc học hỏi, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm càng trở nên dễ
dàng hơn, giúp cho GV có cơ hội học hỏi, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn
nhau.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang từng bước triển khai một cách có hệ thống
và đại trà về chuẩn kiến thức, kỹ năng, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh
giá của môn học.
Ngày càng có rất nhiều phần mềm có thể ứng dụng vào công tác dạy học
và kiểm tra, đánh giá, giúp cho GV giảm được rất nhiều công sức trong việc
soạn bài giảng và bài kiểm tra, cũng như việc chấm bài kiểm tra sẽ nhanh chóng
và chính xác hơn.
1.2.3. Khó khăn
Tin học là một môn học còn khá mới mẻ (từ năm học 2006-2007) nên sự
chuẩn bị về mặt nhân sự (đội ngũ giáo viên) và cơ sở vật chất (máy tính, phần
mềm và mạng máy tính) của phần lớn các trường còn chưa được đảm bảo cả về
các phương pháp KTĐG thường được sử dụng, bao gồm các phương pháp chủ
quan và khách quan. Cuối cùng, đề tài giới thiệu và đề xuất một số phương
pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong KTĐG nhằm nâng cao hiệu quả và
góp phần đổi mới công tác KTĐG môn Tin học.
1.3.2. Phạm vi áp dụng
Các phương pháp KTĐG được giới thiệu trong đề tài có thể áp dụng trước
hết là cho bộ môn Tin học trong các trường THPT, kế đến là môn Tin học trong
các trường THCS. Các môn học khác cũng có thể bước đầu áp dụng một số
phương pháp cho phù hợp với bộ môn.
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 4 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
2. KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ MÔN TIN HỌC
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1. Tổng quan về kiểm tra đánh giá
2
a) Khái niệm:
Kiểm tra và đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình
dạy học. Kiểm tra - đánh giá có mối liên hệ khăng khít với nhau, trong
đó kiểm tra là phương tiện còn đánh giá là mục đích. Không thể đánh giá
mà không dựa vào kiểm tra. Thi là một hình thức kiểm tra có tầm quan
trọng đặc biệt và cho điểm là dạng đánh giá phổ biến xác định bằng định
lượng trình độ của HS.
Kiểm tra là công cụ để đo lường trình độ kiến thức kỹ năng, kỹ
xảo của HS. Đánh giá là xác định mức độ của trình độ kiến thức kỹ
năng, kỹ xảo của HS.
Kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học, nó
mang tầm quan trọng rất lớn vì không có kiểm tra và đánh giá thì quá
trình dạy học không hoàn tất.
b) Chức năng của kiểm tra đánh giá
gia đình chặt chẽ hơn.
d) Các tiêu chuẩn của một bài kiểm tra
• Có giá trị:
Là khái niệm cho biết mức độ mà một bài kiểm tra đo được
đúng cái mà nó định đo. Một bài kiểm tra có giá trị là phải thực
sự đo lường đúng với đối tượng cần đo. Đó chính là nội dung bài
kiểm tra.
Một bài liểm tra có quá trị được xác định 3 điểm sau: Nội
dung kiểm tra, sự nhất trí nội tại của bài kiểm tra và sự so sánh
các tiêu chuẩn ngoại lai:
Tính chất hữu hiệu về nội dung kiểm tra: Cho biết bài kiểm
tra có phù họp với sách giáo khoa, giáo trình hay bài giảng của
GV hay không? Nói khác đi bài kiểm tra phải bao gồm các phần
quan trọng của giáo khoa, giáo trình.
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 6 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
Tính chất hữu hiệu về sự nhất trí nội tại của bài kiểm tra:
Nói lên mối quan hệ nhất quán của các câu hỏi trong toàn bài
kiểm tra. Câu hỏi có giá trị phải phân biệt được HS có điểm cao
và HS có điểm thấp.
Tính hữu hiệu trong sự so sánh các tiêu chuẩn ngoại lai:
Cho thấy kết quả kiểm tra có sự phù hợp với các kết quả đánh
giá khác có đối tượng tương tự. Ví dụ: Kiểm tra thường xuyên
HS A đạt khá, nếu kiểm tra học kỳ đạt giỏi thì có thể kết luận
bài kiểm tra đó thỏa mãn tính hữu hiệu trong sự so sánh các tiêu
chuẩn ngoại lai. Hoặc so sánh kết quả kiểm tra của nhiều môn học
ở một HS.
• Đáng tin cậy:
Là khái niệm cho biết bài kiểm tra đo bất cứ cái gì mà nó đo
Đánh giá không những chỉ chú trọng vào kiến thức của HS
mà cần cả về mọi mặt từ tư tưởng chính trị, tác phong, thái độ đến
kiến thức khoa học, kỹ thuật.
• Đánh giá phải thường xuyên và có kế hoạch:
Kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như mọi hoạt động của con
người đều có quá trình vận động và phát triển không ngừng, cho
nên kết quả đánh giá chỉ có giá trị thực sự ngay trong thời điểm
đánh giá. Do đó đánh giá chính xác, phải thực hiện thường xuyên
và có kế hoạch trong quá trình dạy học.
• Đánh giá phải nhằm cải tiến phương pháp giảng dạy, hoàn
chỉnh chương trình:
Qua các kỳ kiểm tra cũng như thi, GV cũng như các cơ quan
giáo dục tìm hiểu những tác nhân đưa đến kết quả vạch ra những
ưu điểm để phát huy, phát hiện những nhược điểm để sửa chữa,
cải tiến phương pháp giảng dạy, sửa đổi chương trình học cho
thích hợp với mục tiêu đào tạo.
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 8 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
2.1.2. Kiểm tra đánh giá bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng
3
a) Định hướng đổi mới KTĐG
o KTĐG phải sát, đúng đảm bảo khách quan, chính xác, công bằng và
hướng dẫn HS biết tự đánh giá kết quả học tập, phân biệt được đúng
sai, tìm ra nguyên nhân để tự khắc phục, rèn luyện kỹ năng tư duy
độc lập.
o Đảm bảo sự cân đối giữa KT kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái
độ đối với HS. Kết hợp hợp lý hình thức tự luận với trắc nghiệm; vận
dụng các kiểu câu hỏi trắc nghiệm phù hợp (đúng-sai, điền khuyết,
trả lời ngắn, ghép hợp, nhiều lựa chọn, …) với nhiều phiên bản.
b) Yêu cầu đổi mới công tác KTĐG theo chuẩn KTKN
o Căn cứ vào chuẩn KTKN của từng lớp, các yêu cầu cơ bản, tối thiểu
cần đạt về KTKN của HS sau mỗi giai đoạn, mỗi lớp, mỗi cấp học.
o Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy,
học tập của các nhà trường; tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh
giá thường xuyên, định kỳ; phối hợp giữa đánh giá của GV và tự
đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia
đình, cộng đồng.
o Đảm bảo chất lượng KTĐG thường xuyên, định kỳ phải chính xác,
khách quan, công bằng, không hình thức đối phó, nhưng cũng không
gấy áp lực nặng nề.
o Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của
học sinh, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót.
o Cần chú ý đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của HS, quan tâm tới
mức độ hoạt động tích cực, chủ động của HS trong từng tiết học, ôn
luyện cũng như thực hành, thí nghiệm.
o Đánh giá cả quá trình dạy học của GV nhằm cải tiến, nâng cao hiệu
quả giảng dạy. Lấy thông tin phản hồi từ HS để đánh giá quá trình
dạy học.
o Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính
tương đương của các đề kiểm tra, thi.
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 10 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
o Kết hợp có khoa học và hợp lý các hình thức kiểm tra, thi vấn đáp, tự
luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học vẹt, ghi nhớ máy
móc, phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức.
2.1.3. Kiểm tra đánh giá theo chuẩn KTKN môn Tin học
4
a) Mục tiêu
o Đánh giá theo kết quả đầu ra
o Đánh giá quá trình
f) Một số hình thức KTĐG
o KTĐG qua các bài kiểm tra, qua theo dõi quan sát giờ học, giờ thực
hành.
o Trắc nghiệm, tự luận.
o Trên giấy, thực hành trên máy.
o Cá nhân, theo nhóm.
o Cá nhân tự nhận xét, tập thể nhận xét, …
g) Khung đề KTĐG
o Mục tiêu
o Yêu cầu của đề
o Ma trận đề
Mức độ
Nội dung
Biết Hiểu Vận dụng
Nội dung 1
Nội dung 2
Nội dung 3
…
o Đề bài
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 12 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
o Hướng dẫn chấm
2.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA CHỦ QUAN
5
Kiểm tra kết quả học tập được thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình dạy
học. Do đó các phương pháp kiểm tra, đánh giá cũng là những phương pháp dạy
học nhưng chúng được sử dụng ở giai đoạn giảng dạy khi GV có đầy đủ căn cứ để
Cuối bài học: cũng cố tài liệu đã học hay trước khi thực hành thí
nghiệm.
Kiểm tra định kỳ hay cuối học kỳ.
b) Phân loại kiểm tra vấn đáp
KT cá nhân: là hình thức kiểm tra mà từng HS có nội dung riêng.
KT đồng loạt: là hình thức đặt câu hỏi chung và tất cả HS đều có
thể tham gia trả lời được.
KT phối hợp: là hình thức tiến hành kiểm tra cá nhân và kiểm tra
đồng loạt.
c) Ưu điểm của kiểm tra vấn đáp
Kiểm tra vấn đáp giúp cho GV dễ dàng nắm được tư tưởng và cách
suy luận của HS để kịp thời uốn nắn những sai sót trong lời nói đồng thời
giúp HS sử dụng đúng những thuật ngữ và diễn đạt ý một cách logíc.
HS hiểu rõ bài hơn và nhớ lâu tài liệu nhờ trình bày qua ngôn ngữ
của chính mình.
Giúp GV có thể nhận định được ngay và xác định đúng trình độ
của HS nhờ hỏi thêm những câu phụ và các chi tiết hỏi bổ sung.
Kiểm tra vấn đáp là phương tiện giúp HS mạnh dạn phát biểu ý
kiến, luyện tập khả năng đối đáp, diễn đạt ý tưởng được chính xác và
tập cho HS quan sát, suy nghĩ phán đoán được nhanh chóng.
d) Nhược điểm của kiểm tra vấn đáp
Kết quả trả lời của một số HS không thể xem là đại diện cho cả
lớp. Điểm số của vài HS không giúp cho GV đánh giá đúng mức trình
độ chung cho cả lớp.
Áp dụng kiểm tra vấn đáp cho cả lớp mất nhiều thời gian.
Các câu hỏi phân phối cho các HS có độ khó không đồng đều nhau.
Những yếu tố ngoại lai có thể dẫn đến sự chủ quan của GV.
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 14 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
- GV có thể chuẩn bị đồ dùng dạy học cần thiết để HS sử
dụng khi trả lời câu hỏi.
2.2.2. Kiểm tra viết
a) Các trường hợp sử dụng kiểm tra viết
Thường hạn chế sử dụng vì đòi hỏi phải có thời gian;
Có thể sử dụng ngay trong lúc giảng nhưng trong thời gian ngắn,
vì vậy có ý nghĩa khảo sát tính chuyên cần của HS.
Kiểm tra định kỳ sau khi học xong một chương trình hay một phần,
thời gian kiểm tra là một tiết hay hơn.
Kiểm tra cuối học kỳ, thời gian 2 tiết.
b) Phân loại kiểm tra viết
Loại luận đề: thời gian kiểm tra dài, đầu đề là câu hỏi về một vấn đề
lớn, HS trình bày phải có nhập vấn đề, kết luận và cấu trúc.
Loại câu hỏi ngắn: mỗi câu trả lời khoảng 15 - 20 phút, Chỉ yêu cầu
HS trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm không cần viết dài dòng nhập đề, kết
luận, để rõ ràng, các ý chính được gạch đầu dòng.
c) Ưu điểm của kiểm tra viết
Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra toàn thể HS trong lớp về
một số nội dung nhất định.
HS có đủ thời gian suy nghĩ, vận dụng kiến thức và trình bày đầy
đủ hiểu biết của mình, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo.
Qua bài kiểm tra viết GV nắm được tình hình trình độ chung của cả
lớp và của từng HS, giúp GV hoàn thiện nội dung bài giảng, phương
pháp dạy học để từ đó có kế hoạch bồi dưỡng HS khá và phụ đạo HS yếu
kém.
d) Nhược điểm của kiểm tra viết
Nội dung kiểm tra dù rộng nhưng cũng không bao trùm hết
toàn chương trình ấn định mà thường tập trung vào một số nội dung
trước. Các tiêu chuẩn kỹ thuật bao gồm các yêu cầu về: hình dáng, kích
thước, phẩm chất, thời gian thực hiện, số lượng, những sai số cho phép
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 17 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
Kiểm tra thao tác thực hành: Trong thời gian kiểm tra GV phải theo
dõi quan sát HS thực hành từ đầu đến cuối. Trong việc kiểm tra thao tác
thực hành, GV căn cứ vào tiêu chuẩn sau để đánh giá:
- Tiêu chuẩn thao tác: có tiến hành đúng trình tự các bước không;
- Tiêu chuẩn kỹ thuật: sử dụng dụng cụ lao động có thích hợp
không;
- Tiêu chuẩn nội quy: có áp dụng đúng các nội quy ấn định không,
thói quen, thái độ tổ chức trong khi thực hiện công tác
c) Ưu điểm của kiểm tra thực hành
Đây là phương pháp kiểm tra hữu hiệu nhất và không loại kiểm
tra nào có thể thay thế được để đánh giá kỹ năng, kỹ xảo tay nghề.
d) Nhược điểm của kiểm tra thực hành
Đòi hỏi thời gian phải thực hiện và đòi hỏi GV phải theo dõi suốt
quá trình.
Vì phải theo dõi cùng một lúc nhiều HS nên GV không thể theo
dõi một cách cẩn thận. Để hạn chế điểm này nên tổ chức thực hành từ
2 - 6 người cùng một lúc.
Điểm kiểm tra đánh giá kỹ năng, kỹ xảo của HS được khách quan,
đầy đủ, việc tổ chức thực hành phải có đầy đủ các phương tiện, dụng cụ
trang thiết bị, máy móc.
Không phải trường hợp nào cũng có đầy đủ phương tiện cho công
tác thực hành
e) Cách thức vận dụng kiểm tra thực hành
o Chỉ được kiểm tra thực hành sau một thời gian HS đã luyện tập
kỹ năng, kỹ xảo. Khi đó kiểm tra mới chính xác;
mục đích nhằm đo lường trình độ tiếp thu khối lượng kiến thức của
học sinh về một môn học thì những điểm số từ bài trắc nghiệm của HS
phải phản ánh đúng khả năng lĩnh hội của HS về môn học ấy. Tùy mục
đích khảo sát khác nhau mà có những loại giá trị khác nhau của trắc
nghiệm: giá trị nội dung, giá trị chương trình, giá trị mục tiêu và giá trị
tiên đoán.
6
Nguyễn Văn Tuấn, Bài giảng Lý luận dạy học, Lưu hành nội bộ - Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.
HCM, 2009
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 19 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
2.3.2. Các loại câu trắc nghiệm
a) Trắc nghiêm đúng – sai
o Hình thức trắc nghiệm Đúng - Sai là một câu khẳng định gồm
một hoặc nhiều mệnh đề, HS đánh giá nội dung của câu ấy đúng
hay sai. HS trả lời bằng cách đánh dấu chéo “X” vào phiếu trả
lời ở câu thích hợp với chữ Đ (đúng) hoặc S (sai).
o Đối với câu đúng, mọi chi tiết của nội dung trong câu trắc
nghiệm phải phù hợp với tri thức khoa học. Còn đối với câu sai
chỉ cần một chi tiết không phù hợp với tri thức khoa học thì toàn
bộ câu trắc nghiệm đó được đánh giá là sai.
o Ưu điểm:
- Trắc nghiệm Đúng - Sai được dùng nhiều vì hình thức đơn
giản có thể soạn nhiều câu trắc nghiệm cho từng bài học, khảo
sát bất kỳ nội dung nào nên HS không thể học “tủ”được;
- Hình thức trắc nghiệm gọn gàng, ít tốn giấy, ngoại trừ hình vẽ;
- Thời gian trả lời của HS khá nhanh. Một phút có thể trả lới 3 -4
câu trắc nghiệm.
o Nhược điểm:
nhiên, không theo một quy luật nào;
- Độ khó của câu trắc nghiệm phù hợp với trình độ của HS.
b) Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
o Hình thức: trắc nghiệm nhiều lựa chọn gồm 2 phần: phần tiên đề
còn gọi là phần gốc và phần giải đáp hay phần lựa chọn. Phần
gốc là câu hỏi, tiếp theo là phần lựa chọn gồm một số kết quả
trả lời trong đó có một câu trả lời đúng.
o Phần gốc dù là câu trả lời hay câu lửng phải là điểm tựa cho
cho việc lựa chọn kết quả trả lời. Các giải đáp trong phần lựa
chọn có sức hấp dẫn tương đương đòi hỏi HS suy luận.
o Trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể đặt dưới dạng hình vẽ.
o Ưu điểm:
- Là dạng trắc nghiệm khách quan được ưa chuộng nhất;
Đổi mới kiểm tra đánh giá Trang 21 Thực hiện: Vũ Đăng Khôi
Môn Tin học cấp THPT
Sở GD & ĐT Đồng Nai Chuyên đề bộ môn Tin học – 2011
- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn có xác suất may rủi thấp hơn so
với trắc nghiệm Đúng - Sai. Nếu câu trắc nghiệm là 4 lựa chọn
thì tỉ lệ may rủi là 25%, nếu có 5 lựa chọn thì tỷ lệ may rủi là
20%;
- Phân biệt được một cách khá chính xác HS giỏi và HS kém;
- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn là cơ sở để soạn thảo nội dung
dạy học chương trình theo kiểu phân nhánh.
o Nhược điểm:
- Đòi hỏi tốn nhiều công soạn thảo, vì phải tìm những yếu tố
trả lời có sức hấp dẫn tương đương;
- Tốn giấy và mất nhiều thời gian trả lời so với trắc nghiệm
Đúng - Sai;
- Kết quả trắc nghiệm nằm sẵn ở phần trả lời HS có thể nhận ra;
- HS nào có óc sáng kiến có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn