áp dụng thủ tục phân tích vào quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của công ty kiểm toán deloitte - Pdf 22

Khóa luận tốt nghiệp Trang 1
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Kiểm toán là lĩnh vực đang dần được khẳng định và chiếm vị trí quan trọng trong
nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù mới ra đời và phát triển trong hơn 15 năm nhưng
số lượng các công ty kiểm toán ngày càng gia tăng. Thực tế đó đã chứng tỏ nhu
cầu đối với lĩnh vực này ngày càng cao. Một trong những loại hình dịch vụ chủ
yếu mà các công ty kiểm toán cung cấp cho khách hàng là kiểm toán Báo cáo tài
chính (BCTC) và chiếm một tỷ trọng lớn trong doanh thu của các công ty kiểm
toán hiện nay. Trước xu thế phát triển mạnh mẽ ngày nay, các công ty kiểm toán
độc lập phải luôn đặt ra yêu cầu không những không ngừng nâng cao chất lượng
dịch vụ của mình để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và đủ sức để cạnh
tranh với các công ty kiểm toán khác mà còn phải giảm thiểu rủi ro trong quá
trình kiểm toán BCTC ở mức thấp nhất. Ngoài ra vấn đề giữa chi phí và chất
lượng dịch vụ cung ứng cũng là vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Để giải quyết
vấn đề này các công ty kiểm toán phải không ngừng xây dựng và hoàn thiện
phương pháp kiểm toán. Một trong những phương pháp kỹ thuật tiên tiến được
đánh giá cao về tính hiệu quả đó là thủ tục phân tích. Cho đến nay Bộ tài chính
đã ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán đối với kiểm toán BCTC, trong đó chuẩn
mực số 520 " Quy trình phân tích " (Analytical procedures) là một trong những
phương pháp kiểm toán quan trọng và mang tính chất quyết định đối với chất
lượng của cuộc kiểm toán. Với mong muốn tìm hiểu sâu sắc và vận dụng thủ tục
phân tích vào kiểm toán BCTC, tôi đã chọn đề tài " Áp dụng thủ tục phân tích
vào quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty kiểm toán Deloitte " .
2. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp Trang 2
Từ ý nghĩa quan trọng của thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC, thông qua
quá trình thực tập tại công ty kiểm toán Deloitte, tôi muốn tìm hiểu sâu sắc hơn
về những thủ tục phân tích được áp dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán,
giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán. Thông
qua quá trình được tiếp cận thực tế, tôi sẽ cố gắng để tiếp thu được nhiều kinh

Thành lập tập đoàn Deloitte Touche Tohmatsu như ngày nay chính là công lao
của William Wetch Deloitte, George Touche và Nobuzo Tohmatsu. Đây là ba
nhà sáng lập đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nên công ty và vì vậy cái
tên Deloitte Touche Tohmatsu được gọi như là một sự tưởng nhớ đến công lao
của các ông.
Năm 1845, ông William Wetch Deloitte thành lập văn phòng kiểm toán đầu tiên
ở Luôn Đôn và đến năm 2000 Deloitte Touche Tohmatsu đã trở thành một công
ty đa quốc gia với nguồn lực xấp xỉ 150.000 nhân viên trên toàn thế giới, cung
cấp dịch vụ trong 4 lĩnh vực kiểm toán, thuế, tư vấn tài chính, dịch vụ đào tạo và
quản lý nguồn nhân lực cho hơn 50% các công ty lớn trên toàn cầu.
Ở Đông Nam Á, DTT có 7 công ty thành viên hoạt động ở các nước gồm :
Guam, Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Deloitte Việt Nam: Xuất phát từ nhu cầu thực tế của nền kinh tế thị trường, cũng
như theo yêu cầu hội nhập quốc tế, vào ngày 13 tháng 5 năm 1991, Công ty kiểm
Khóa luận tốt nghiệp Trang 4
toán Việt Nam (“VACO”) nay là Deloitte Việt Nam được thành lập trực thuộc
Bộ tài chính. Đây là công ty kiểm toán và tư vấn tài chính đầu tiên tại Việt Nam.
Ngay từ những năm đầu VACO đã tiến hành hợp tác với DTT, Arthur Andersen
(AA), Price Waterhouse Cooper (PWC), KPMG,… trong việc đào tạo và nâng
cao trình độ cho nhân viên.
Tháng 4 năm 1994, VACO tiến hành thành lập liên doanh với DTT. Ngày 01
tháng 10 năm 1997, một bộ phận của VACO - Phòng dịch vụ quốc tế - ISD
( International Service Department) được DTT công nhận là thành viên chính
thức, hợp pháp tại Việt Nam, mở ra một thời kỳ phát triển vượt bậc về chuyên
môn nghề nghiệp, có thể so sánh với các hãng kiểm toán lớn trên thế giới.
Ngày 7/5/2007 VACO đã hoàn thành việc chuyển đổi sở hữu trở thành Deloitte
Việt Nam và là thành viên của Deloitte Đông Nam Á.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức.
Ngoài trụ sở chính ở Hà Nội, Deloitte có chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh
với đội ngũ gần 400 nhân viên hoạt động trong các lĩnh vực : kiểm toán, tư vấn

1.1.4. Những dịch vụ cung cấp.
 Dịch vụ kiểm toán : “ Chất lượng, khách quan và độc lập “
• Kiểm toán độc lập
• Dịch vụ kiểm soát rủi ro của doanh nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp Trang 6
 Dịch vụ tư vấn thuế : “Trợ giúp khách hàng tạo dựng giá trị thông qua giải
pháp thuế toàn diện và hiệu quả “. Một số dịch vụ thuế như :
• Hoạch định chiến lược thuế
• Cơ cấu kinh doanh có hiệu quả cho mục đích thuế
• Soát xét tính tuân thủ luật thuế của doanh nghiệp
• Lập kế hoạch, tính toán và kê khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu
nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
 Dịch vụ tư vấn và giải pháp doanh nghiệp
• Dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp
• Dịch vụ tư vấn giải pháp quản lý
• Dịch vụ hỗ trợ dự án
• Dịch vụ kế toán
 Dịch vụ đào tạo và quản lý nguồn nhân lực
• Tổ chức đào tạo và hội thảo.
• Quản lý nguồn nhân lực.
1.1.5. Đôi nét về phần mềm Audit System/2 – AS/2
Phần mềm AS/2 giúp kiểm toán viên đơn giản hóa công việc, cải thiện tính hiệu
quả của cuộc kiểm toán. Đây là hệ thống kiểm toán tiên tiến được áp dụng thống
nhất cho mọi thành viên của Deloitte Touche Tohmatsu trên toàn cầu, đảm bảo
cho các cuộc kiểm toán đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, vì đặc thù riêng, hệ
thống phần mềm thông minh này đã được chỉnh sửa để phù hợp với môi trường
và pháp luật Việt Nam. Đến nay AS/2 đã trở thành một công cụ hết sức hữu hiệu
Khóa luận tốt nghiệp Trang 7
trong hoạt động kiểm toán của công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam. Có thể nói
rằng AS/2 là niềm tự hào của các nhân viên Deloitte.

tài khoản thuộc phần công nợ ( Nợ phải thu, nợ phải trả…)
 7000 : Kiểm tra chi tiết nguồn vốn.
 8000 : Kiểm tra chi tiết các tài khoản có liên quan đến thu nhập, chi phí
( doanh thu, giá vốn hàng bán…)
1.2. CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỦ TỤC PHÂN TÍCH .
1.2.1. Khái niệm, nội dung và vai trò của thủ tục phân tích.
1.2.1.1. Khái niệm thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích : là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan
trọng, thông qua việc so sánh và nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài
chính với nhau, giữa các thông tin tài chính với các thông tin phi tài chính, để
qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu
thuẫn với các thông tin có liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá
trị đã dự kiến, từ đó kiểm toán viên có cở sở để xác định nội dung, lịch trình và
phạm vi của các thử nghiệm chi tiết cần thực hiện thêm.
Thủ tục phân tích chủ yếu được kiểm toán viên lập trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng thể. Thủ tục phân tích cũng được thực hiện
ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình kiểm toán.
Khóa luận tốt nghiệp Trang 9
Trong kiểm toán, việc phân tích được xem xét dưới góc độ và phạm vi khác nhau
nhằm phục vụ cho những mục tiêu nhất định trong từng giai đoạn của quy trình
kiểm toán như : đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp, khả năng hoạt
động liên tục trong giai đoạn lập kế hoạch cũng như hạn chế những rủi ro phát
hiện trong giai đoạn thực hiện kiểm toán và đưa ra những kết luận cuối cùng khi
hoàn thành kiểm toán.
1.2.1.2. Nội dung các thủ tục phân tích
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 “ Quy trình phân tích “ ( ban hành
theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài
Chính ) thì nội dung của quy trình phân tích bao gồm :
a. Quy trình phân tích bao gồm việc so sánh các thông tin tài chính, như :
- So sánh các thông tin tương ứng trong kỳ này với kỳ khác;

Quy trình phân tích áp dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán được dựa
trên các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính ( Ví dụ : Mối quan hệ giữa
doanh thu với số lượng hàng bán hoặc số lượng sản phẩm sản xuất ), bên cạnh
đó, dựa vào các thông tin tài chính, kiểm toán viên sẽ tính toán các tỷ số tài
chính thích hợp để đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp:
Khóa luận tốt nghiệp Trang 11
- Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán ( Ví dụ : Tỷ số thanh toán hiện hành, Tỷ
số thanh toán ngắn hạn, …).
- Nhóm tỷ số đòn bẩy ( Ví dụ : Tỷ số nợ, Tỷ số đầu tư…).
- Nhóm tỷ số về hoạt động ( Ví dụ : Vòng quay hàng tồn kho, vòng quay nợ
phải thu khách hàng, vòng quay tài sản…).
- Nhóm tỷ số về sinh lời ( Ví dụ : Tỷ lệ lãi gộp, Lợi nhuận trên tài sản…).
• Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Thủ tục phân tích được thực hiện trong giai đoạn này như là một thử nghiệm cơ
bản giúp cung cấp bằng chứng về sự hợp lý của những khoản mục trên báo cáo
tài chính.
Thủ tục phân tích giúp giảm bớt các thử nghiệm chi tiết, giúp cho kiểm toán viên
không sa nhiều vào các nghiệp vụ cụ thể. Kiểm toán viên sẽ thực hiện các ước
tính của mình và sau đó so sánh với số liệu sổ sách của khách hàng cung cấp.
Nếu mà số liệu ước tính của kiểm toán viên và số liệu sổ sách khách hàng không
có sự chênh lệch vượt quá ngưỡng sai sót cho phép thì trong trường hợp đó, thủ
tục phân tích có thể là bằng chứng để chứng minh cho sự trình bày trung thực
của số dư tài khoản liên quan, giảm bớt thử nghiệm chi tiết và ngược lai.
• Trong giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán
Dựa vào số liệu đã được kiểm toán trong giai đoạn thực hiện cuộc kiểm toán thì
trong giai đoạn này, thủ tục phân tích giúp cho kiểm toán viên có kết luận tổng
quát về sự phù hợp trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính với những
hiểu biết của mình về tình hình kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, giúp
kiểm toán viên khẳng định lại những kết luận có được trong suốt quá trình kiểm
tra các khoản mục trên báo cáo tài chính. Trên cơ sở đó, giúp kiểm toán viên

Số tương đối ; T = (Y
1
– Y
0
)/Y
0
* 100%
Y
1
: Giá trị của chỉ tiêu kỳ kiểm toán .
Y
0
: Giá trị của chỉ tiêu kỳ gốc .
Ví dụ : Nghiên cứu phân tích xu hướng có thể cho thấy sự gia tăng ổn định hoặc
sự bất ổn trong tình hình doanh thu của đơn vị trong một khoảng thời gian chẳng
hạn giữa các tháng trong năm hiện hành so với năm trước…
Ngoài ra, qua phân tích biến động của số dư một khoản mục qua các kỳ kế toán
trước, kiểm toán viên có thể đưa ra dự kiến về kỳ kế toán hiện hành của khách
hàng.
Ví dụ : So sánh lợi nhuận kinh doanh của đơn vị qua các năm, kiểm toán viên có
thể dự tính được lợi nhuận hoạt động kinh doanh cho năm hiện hành.
Cần lưu ý là nếu xu hướng kỳ trước không liên quan đến kỳ này thì việc tập
trung xem xét biến động theo thời gian sẽ đưa đến những nhận định không đúng.
Do đó, để tránh nhận định sai lầm, chỉ nên sử dụng phương pháp phân tích xu
hướng khi xu hướng biến động giữa các kỳ có liên quan với nhau.
Ví dụ : Kiểm toán viên thường so sánh xu hướng biến động doanh thu qua các
tháng bởi vì doanh thu thường có tính thời vụ trong nhiều ngành sản xuất,
thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, nếu kiểm toán viên cũng áp dụng phương
pháp này với khoản chi để mua sắm tài sản cố định thì có thể dẫn đến kết luận
không đúng vì các khoản chi này không có xu hướng biến động qua các tháng

Khóa luận tốt nghiệp Trang 15
- Tỷ số đầu tư = Tài sản dài hạn / Tổng tài sản
 Nhóm tỷ số về hoạt động : phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực phục
vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị. Việc so sánh tỷ số tính
toán được với tỷ số bình quân ngành hay số năm trước sẽ giúp kiểm toán
viên ghi nhận những biến động bất thường, do đó có thể là dấu hiệu của các
sai lệch trọng yếu hoặc một tình trạng cần lưu ý ( khả năng thu hồi nợ phải
thu, ứ đọng hàng tồn kho…)
- Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân
- Số ngày hàng tồn kho = 365 / Vòng quay hàng tồn kho
- Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần / Nợ phải thu
- Số ngày thu tiền bình quân = 365 / Vòng quay khoản phải thu
 Nhóm tỷ số sinh lời : phản ánh hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo ra lợi
nhuận của đơn vị. Việc phân tích các tỷ số này trong giai đoạn lập kế hoạch
giúp kiểm toán viên xác định được những vùng rủi ro tiềm ẩn và xác định
thời gian, nội dung và phạm vi các thủ tục kiểm toán cho các khoản mục
doanh thu và chi phí trong giai đoạn thực hiện kiểm toán. Gồm có :
- Tỷ lệ lãi gộp = Lợi nhuận gộp / Doanh thu thuần
- Lợi nhuận trên tài sản = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản
- Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu
Ví dụ:
Khi kiểm toán hàng tồn kho của một doanh nghiệp, kiểm toán viên tiến hành tính
các tỷ số sau :
Khách hàng Ngành
20X1 20X0 20X1 20X0
Vòng quay hàng tồn kho 3.4 4.1 3.1 3.6
Tỷ lệ lãi gộp 26.3% 22.4% 23% 26.2%
Khóa luận tốt nghiệp Trang 16
Từ bảng số liệu trên, trong năm 20X0 thì vòng quay hàng tồn kho của đơn vị cao
hơn so với số liệu của ngành, điều này có thể có nguyên nhân là do tỷ lệ lãi gộp

x
n
Trong đó : Y : Chỉ tiêu cần phân tích
a : Hệ số hồi quy
x : Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích.
Khóa luận tốt nghiệp Trang 17
Đây là phương pháp khó thực hiện, phức tạp và tốn kém về chi phí nhưng nó
cung cấp nhiều thông tin hữu ích, chính xác và đáng tin cậy hơn so với các loại
hình phân tích khác.
Ví dụ : Giá thành sản phẩm chịu tác động của chi phí nguyên vật liệu, mức tiêu
hao nguyên vật liệu, trình độ tay nghề của công nhân…
1.2.2.5. Phân tích theo chiều dọc :
Trong phân tích theo chiều dọc (hay còn gọi là phân tích theo quy mô chung), tỷ
lệ phần trăm được sử dụng để chỉ mối quan hệ của các bộ phận khác nhau so với
tổng thể trong một Báo cáo tài chính. Con số tổng cộng của một báo cáo sẽ quy
ước là 100% và từng phần của báo cáo sẽ được tính tỷ lệ phần trăm so với báo
cáo đó.
Phân tích theo chiều dọc có ích trong việc so sánh tầm quan trọng của các thành
phần nào đó trong hoạt động kinh doanh.
Ví dụ :
Nguồn vốn
VND %
A – Nợ phải trả 4.237.423 51,73
I. Nợ ngắn hạn 3.546.416 43,29
II. Nợ dài hạn 691.007 8,44
B – Vốn chủ sở hữu 3.953.962 48,27
I. Vốn chủ sở hữu 3.953.962 48,27
II. Nguồn kinh phí và quỹ khác
Tổng cộng nguồn vốn 8.191.385 100
Qua bảng tính toán trên, nguồn vốn của đơn vị gồm có nợ phải trả (51,73%) và

thực hiện thủ tục phân tích.
Ví dụ : Tiền là một khoản mục quan trọng, phản ánh khả năng thanh toán của
doanh nghiệp. Do đó, rủi ro tiềm tàng đối với khoản mục này là rất cao, vì vậy,
thủ tục phân tích ít được sử dụng trong trường hợp này. Ngược lại khoản mục nợ
phải thu được coi là không trọng yếu thì có thể chỉ căn cứ vào thủ tục phân tích
kiểm toán viên sẽ đưa ra kết luận.
1.2.3.3. Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh.
Trong quá trình thực hiện thủ tục phân tích, kiểm toán viên cần chú ý đến những
khoản mục có mối quan hệ với nhau.
Ví dụ : Quan hệ giữa tài khoản tài sản cố định hữu hình và chi phí khấu hao tài
sản cố định, mối quan hệ giữa khoản mục hàng tồn kho và giá vốn hàng bán.
1.2.3.4. Tính độc lập với các thủ tục khác
Kiểm toán viên có thể sử dụng nhiều thủ tục kiểm toán cho cùng một khoản mục.
Có nhiều trường hợp kết quả của những thủ tục khác phủ nhận kết quả của thủ
tục phân tích.
Ví dụ : Khi kiểm toán khoản mục doanh thu, lúc đầu kiểm toán viên thực hiện
thủ tục phân tích cho khoản mục này, kiểm toán viên kết luận rằng khoản mục
này có rất nhiều rủi ro và bất thường. Nhưng khi kiểm toán viên thực hiện thử
nghiệp chi tiết kiểm tra các hóa đơn, chứng từ thì lại không phát hiện được gì.
Do đó, trong trường hợp này thì thử nghiệm chi tiết sẽ phủ nhận thủ tục phân
tích.
Khóa luận tốt nghiệp Trang 20
Tuy nhiên, việc áp dụng nhiều thủ tục kiểm toán không cần thiết đôi khi còn gây
nhiễu thông tin do những kết quả thu được khác nhau và làm cho kiểm toán viên
mất nhiều thời gian giải thích cho những chênh lệch để đảm bảo một sự hợp lý
thống nhất. Do đó, một khi đã có những bằng chứng đáng tin cậy của thủ tục
phân tích cho kết luận của mình, kiểm toán viên không cần phải thực hiện thêm
các thủ tục kiểm toán khác để tránh sự trùng lắp, không cần thiết.
1.2.4. Trình tự chung thực hiện thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích được các kiểm toán viên thực hiện trong giai đoạn lập kế

- So sánh giữa các thông tin tài chính trong kỳ này với thông tin tài chính trong
kỳ trước. Kiểm toán viên có thể so sánh số dư, số phát sinh của các tài khoản
giữa các kỳ để phát hiện các tài khoản biến động bất thường. Ví dụ : Một sự
gia tăng của khoản phải thu khách hàng cuối kỳ có thể là do sự thay đổi chính
sách bán chịu của đơn vị…
- So sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán. Việc điều tra sai
lệch lớn giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch có thể cho thấy những sai
lệch trong Báo cáo tài chính, hoặc biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Nghiên cứu mối quan hệ của những thông tin tài chính và phi tài chính. Giữa
các thông tin tài chính và phi tài chính có những mối quan hệ nhất định, nên
kiểm toán viên có thể phát hiện sai sót nhờ mối quan hệ hợp lý giữa chúng.
Khóa luận tốt nghiệp Trang 22
Ví dụ : Đối chiếu giữa chi phí tiền lương và số lượng công nhân để xem mức
lương trung bình có hợp lý hay không…
Việc phân tích những biến động trong số dư các tài khoản có thể chỉ ra những
khác biệt giữa số liệu đơn vị cung cấp và ước tính của kiểm toán viên dựa trên
những hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị được kiểm toán.
 Xem xét tính độc lập và mức độ tin cậy của thông tin
Sự độc lập và mức độ tin cậy của các thông tin thu thập ảnh hưởng trực tiếp đến
tính chính xác trong dự đoán các khoản mục cần kiểm tra.
Một số vấn đề kiểm toán viên thường lưu ý khi đánh giá tính độc lập và mức độ
tin cậy của thông tin thu thập được:
- Kiểm soát nội bộ liên quan đến những thông tin thu thập có thực sự hữu hiệu
hay không ?
- Các số liệu do khách hàng cung cấp có độc lập với người chịu trách nhiệm về
các số liệu này không ?
Sau khi xem xét và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và các số liệu do khách
hàng cung cấp mà câu trả lời là “có” thì thủ tục phân tích mà kiểm toán viên áp
dụng sẽ cho kết quả đáng tin cậy, còn nếu câu trả lời là “ không “ thì kiểm toán

toán ( có 3 mức độ : Mức độ đảm bảo cơ bản – Rủi ro thấp, Mức độ đảm bảo cơ
bản – Rủi ro bình thường, Mức độ đảm bảo vừa phải ). Dựa vào 3 mức độ khác
nhau mà mỗi mức độ sẽ có 2 tỷ lệ phần trăm tương ứng. Kiểm toán viên sẽ tính
toán mức độ Threshold bằng cách lấy độ lớn của khoản mục và MP nhân với 2 tỷ
Khóa luận tốt nghiệp Trang 24
lệ phần trăm nói trên. Sau đó kiểm toán viên sẽ chọn giá trị nhỏ nhất trong hai
tích số vừa tính.
 Phân tích các kết quả
Kiểm toán viên xem xét lại kết quả của những so sánh ban đầu, xem chúng có
phù hợp với những dự đoán của mình không. Nếu thấy xuất hiện những chênh
lệch lớn, có tính quan trọng so với những ước tính của kiểm toán viên thì trước
hết kiểm toán viên phải kiểm tra lại xem mô hình phân tích của mình có sai sót
hay không ( công thức ước tính chưa phù hợp, thông tin để phân tích chưa đầy
đủ, có sai sót trong tính toán…), sau đó, kiểm toán viên phải thảo luận với Ban
giám đốc đơn vị được kiểm toán, xem xét lời giải thích của Ban giám đốc đối với
chênh lệch đó có hợp lý hay không. Những lời giải thích phải phù hợp với những
hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động của đơn vị.
Ngoài ra, kiểm toán viên còn lưu ý đến những tài liệu làm bằng chứng hỗ trợ cho
quá trình phân tích như : Biên bản họp Hội đồng quản trị, biên bản các cuộc họp,
biên bản giải trình của Ban giám đốc…
Tiếp theo những so sánh ban đầu, kiểm toán viên tiến hành phân tích sâu hơn
những thông tin tài chính. Quá trình phân tích này thường giúp kiểm toán viên
thu hẹp lại nguyên nhân gây nên chênh lệch ở số dư một tài khoản cụ thể hoặc số
dư của một nhóm tài khoản.
Từ đó, kiểm toán viên đánh giá được rủi ro, xác định chính xác sai sót trong số
dư tài khoản và những sai sót tiềm tàng có liên quan, giúp kiểm toán viên xây
dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp.
Việc đi tìm lời giải thích hợp lý cho chênh lệch không phải lúc nào cũng mang
lại kết quả như mong muốn: điều chỉnh được chênh lệch và phù hợp với mức sai
sót cho phép.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status