Thủ tục phân tích trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán (AASC)” - Pdf 87

Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Chú giải
AASC Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn Tài chính, kế toán và kiểm toán
(AASC)
BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
BCTC Báo cáo tài chính
BCKT Báo cáo kiểm toán
CBCNV Cán bộ công nhân viên
HTK Hàng tồn kho
KHKT Kế hoạch kiểm toán
KSNB Kiểm soát nội bộ
KTV Kiểm toán viên
NN Nhà nước
QLDN Quản lý doanh nghiệp
SXKD Sản xuất kinh doanh
TK Tài khoản
TTPT Thủ tục phân tích
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định
TSDH Tài sản dài hạn
TSNH Tài sản ngắn hạn
VNĐ Việt Nam Đồng
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU

BCTC tại Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán (AASC)
Em xin trân trọng cảm ơn đến thầy cô giáo trong khoa kế toán đặc biệt là thầy
giáo Ths. Đinh Thế Hùng và các anh chị trong phòng Kiểm toán II của công ty
TNHH Dịch vụ tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán (AASC) đã giúp em hoàn
thành khóa luận này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Hoàng Thị Mai Lan
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
4
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM TOÁN BCTC
1.1 Bản chất của thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về thủ tục phân tích
1.1.1.1 Khái niệm
Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật hiện tượng trong
mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tượng đó. Trong kinh
doanh, phân tích là việc chia nhỏ các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh
doanh thành nhiều bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó, bằng các phương pháp liên hệ
so sánh đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triển của
các hiện tượng nghiên cứu. Chính vì vậy trong kiểm toán phân tích đã trở thành một
công cụ hữu hiệu được KTV áp dụng để thấy được thực trạng hoạt động tài chính,
xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố cũng như nhận dạng được rủi ro kiểm toán. Thủ tục phân tích ngày càng trở nên
quan trọng đối với các công ty kiểm toán và được xem là một phần không thể thiếu
trong quy trình kiểm toán.
Theo VSA chuẩn mực số 520: “Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu,
thông tin, các tỷ xuất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra
những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chệnh
lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”

phí thấp và đòi hỏi KTV phải có trình độ, sự hiểu biết về ngành nghề và hoạt động
kinh doanh của khách hàng. Thủ tục phân tích có những vai trò sau:
- Hiểu được công việc kinh doanh của khách hàng: KTV xem xét kiến
thức và kinh nghiệm thu thập được về công ty khách hàng trong những
năm trước để lập kế hoạch cho cuộc kiểm toán năm hiện hành. Bằng cách
tiến hành các thể thức phân tích mà qua đó các thông tin chưa được kiểm
toán ở năm hiện hành được so sánh với các thông tin ở năm trước. Từ đó
thấy được các biến động, những biến động này có thể đại diện cho những
xu hướng quan trọng hoặc các hiện tượng đặc biệt mà tất cả đều ảnh
hưởng đến việc lập KHKT. Nếu có sự sụt giảm về các tỷ lệ tổng số dư
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
6
Khóa luận tốt nghiệp
qua thời gian có thể chỉ ra rằng cạnh tranh đang tăng lên trong khu vực
thị trường của công ty và nhu cầu cần phải xem xét kỹ lưỡng hơn cách
định giá HTK khi kiểm toán.
- Đánh giá khả năng hoạt động kinh doanh của công ty khách hàng:
TTPT giúp KTV nhìn nhận công ty khách hàng có đứng trước những khó
khăn khắc nghiệt về mặt tài chính hay không. Ví dụ nếu tỷ lệ nợ dài hạn so
với tổng giá trị tài sản ròng cao hơn bình thường được kết hợp với một tỷ lệ
dưới mức trung bình của lợi nhuận so với tổng tài sản thì có thể chỉ ra mức
rủi ro tương đối cao của sự thiếu hụt tài chính. Những điều kiện đó không
chỉ ảnh hưởng đến KHKT mà còn chỉ ra những nghi ngờ đáng kế về khả
năng công ty tiếp tục là doanh nghiệp hoạt động phát đạt.
- Dấu hiệu của sự hiện diện các sai số trọng yếu trên các báo cáo tài
chính: Những chênh lệch đáng kể ngoài dự kiến giữa số liệu cần kiểm toán
vớ số liệu khác được xem là những dao động bất thường. Những dao động
bất thường xảy ra khi những chênh lệch đáng để không được dự kiến nhưng
lại tồn tại hoặc khi những chênh lệch đáng kể có được dự kiến nhưng không
xảy ra. Trong cả hai trường hợp, một trong những lý do là sự hiện diện của

phân tích.
Biểu 1.1: Các trắc nghiệm kiểm toán
Trắc
nghiệm
công
việc
Trắc nghiệm
đạt yêu cầu
Trắc nghiệm
độ vững trãi
Trắc
nghiệm
trực tiếp
số dư
Trắc nghiệm
độ vững trãi
Trắc nghiệm
đạt yêu cầu
Trắc
nghiệm
phân
tích
Trắc
nghiệm
độ vững
trãi
Bằng chứng đầy đủ, có hiệu lực với chi phí kiểm toán thấp
( Nguồn Giáo trình kiểm toán tài chính, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2006)
Trắc nghiệm công việc là cách thức rà soát các nghiệp vụ hay hoạt động cụ thể
trong quan hệ với sự tồn tại và hiệu lực của hệ thống KSNB. Trắc nghiệm công việc

Bước 2: Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các trắc nghiệm cơ bản vào
việc xác minh thông tin trên báo cáo tài chính.
Bước 3: Kết thúc kiểm toán – trong giai đoạn này KTV tiến hành xem xét kết
quả các trắc nghiệm trên trong quan hệ hợp lý chung và trong quan hệ với các sự
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
9
Khóa luận tốt nghiệp
việc bất thường sau ngày lập BCTC. Trên cơ sở đó đưa ra kết luận cuối cùng và lập
báo cáo kiểm toán.
Như vậy TTPT được sử dụng trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán và trong
mỗi giai đoạn TTPT lại đóng vai trò khác nhau. Trắc nghiệm phân tích hay quy trình
phân tích là trắc nghiệm không thể thiếu trong một cuộc kiểm toán, nó có ý nghĩa đăc
biệt lớn trong đánh giá khái quát tính hợp lý chung của các xu hướng biến động và
xác định quan hệ kinh tế đồng thời xác định phạm vi và mức độ áp dụng trắc nghiệm
khác.
1.1.2 Các loại thủ tục phân tích
1.1.2.1 Đánh giá tính hợp lý
Đánh giá tính hợp lý là phân tích tổng quát trên cơ sở những so sánh cơ bản sau:
- So sánh giữa thực tế với kế hoạch của đơn vị: ví dụ kế hoạch sản xuất, kế
hoạch bán hàng, kế hoạch mua hàng hóa…
- So sánh giữa thực tế với ước tính của KTV: ước tính về chi phí khấu hao, về
chi phí lãi vay, về chi phí lưu kho…KTV ước tính số dư của một tài khoản
nào đó bằng cách liên hệ nó với một vài tài khoản khác trên BCTC (ví dụ để
tính chi phí lãi vay bằng cách nhân lãi suất bình quân tháng với số dư tài
khoản nợ vay) hoặc dự đoán trên xu hướng lịch sử nào đó (ví dụ để tính chi
phí khấu hao của năm nay có thể dựa trên chi phí khấu hao của năm trước)
- So sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị trong cùng ngành có cùng
quy mô hoạt động, với số liệu thống kê định mức cùng ngành nghề: ví dụ tỷ
suất đầu tư, tỷ lệ lãi gộp…Việc nghiên cứu những khác biệt lớn giữa chỉ
tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân ngành có thể sẽ cho biết các sai lệch

hay sai số trong vật tư HTK. Hoặc nếu số tổng cộng giảm xuống thì cần xem xét
nguyên nhân có phải do sự biến động về điều kiện kinh tế hay là sai số trong các
BCTC như vi phạm tính đúng kỳ, phi phạm tính định giá… Phương pháp này dễ sử
dụng nhưng không cho thấy được sự biến thiên của các chi tiêu qua thời gian và xu
hướng biến động thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chỉ tiêu.
Phương pháp hồi quy tương quan được vận dụng để biểu hiện và đánh giá
mối liên hệ tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế qua thời gian. Tương quan là việc
quan sát mối liên hệ giữa một tiêu thức kết quả với một hoặc nhiều tiêu thức nguyên
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
11
Khóa luận tốt nghiệp
nhân. Hồi quy là việc xác định độ biến tiên của tiêu thức kết quả theo sự biến thiên
của tiêu thức nguyên nhân. Phương pháp này phức tạp hơn nhưng giúp KTV dễ dạng
nhận dạng được nguyên nhân của những biến động bất thường.
1.1.2.3 Phân tích tỷ suất
Phân tích tỷ suất là sự so sánh giữa các thương số cũng được tính ra trên cơ sở
của hai chỉ tiêu có liên quan. Phân tích tỷ suất giúp KTV có sự hiểu biết về các sự
kiện mới nhất và tình trạng tài chính của doanh nghiệp và cho phép việc xem xét các
báo cáo từ quan điểm của người sử dụng
Biểu 1.2: Các quá trình so xánh và các mối quan hệ nội bộ
Tỷ số hoặc quá trình so sánh Sai sót khả dĩ trên báo cáo
Hệ số quay vòng nguyên liệu đối với một
công ty sản xuất
Sai phạm về HTK hoặc giá vốn hàng bán
hoặc tính lỗi thời của nguyên vật liệu tồn
kho
Hoa hồng bán hàng được chia theo doanh
thu thuần
Sai phạm về hoa hồng bán hàng
Doanh thu bị trả lại và dự phòng, giảm

này, cần phải đánh giá khả năng thanh toán trong một giai đoạn dài và cần phải so
sánh với mức trung bình của ngành, đồng thời cũng rất cần phải xem xét các yếu tố
cấu thành hệ số này. Bảng cân đối kế toán được lập vào một ngày xác định, và số
lượng tài sản lưu động có thể thay đổi đáng kể tại thời điểm phân tích so với thời
điểm được ghi trên bảng cân đối kế toán. Hơn nữa, tài khoản các khoản phải thu và
HTK có thể không thực sự có khả năng thanh toán.
Ví dụ, một công ty nào đó có thể có hệ số khả năng thanh toán hiện thời tương
đối cao nhưng chưa chắc công ty đó đã đáp ứng được các yêu cầu về tiền bởi vì tài
khoản các khoản phải thu thường thuộc dạng có tính thanh khoản thấp, hay tài khoản
hàng trong kho chỉ có thể bán được bằng cách giảm giá. Do vậy, chúng ta cần xem
xét các yếu tố khác, các biện pháp tính toán để xác định khả năng thanh toán của từng
nhóm tài sản cụ thể.
Tỷ suất thanh
toán nhanh
=
Tiền + Khoản phải thu + Khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Tỷ suất thanh toán nhanh là cách tính khả năng thanh toán nợ ngắn hạn chính
xác hơn so với hệ số khả năng thanh toán hiện thời bởi vì tử số đã bị loại bỏ bớt
khoản mục HTK. Tuy nhiên, hệ số này cũng cần được xem xét trong mối tương quan
với chiều hướng phát triển của chính công ty và của các công ty khác trong ngành. Tỷ
suất này bằng 1 là thỏa đáng, doanh nghiệp có thể đáp ứng yêu cầu thanh toán nhanh.
Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 1 và càng nhỏ hơn 1 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn. Song tỷ lệ này quá cao lại là điều không tốt vì gây tình trạng
vòng quay của vốn chậm, hiệu quả sử dụng vốn không cao.
Tỷ suất thanh
toán tức thời
=
Vốn bằng tiền
Nợ ngắn hạn

của doanh nghiệp đối với các chủ nợ hoặc những khó khăn tài chính mà doanh
nghiệp phải đương đầu. Tỷ suất tài trợ càng lớn càng chứng tỏ đơn vị có nhiều vốn tự
có và hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn chủ sở hữu.
Tỷ suất tự
tài trợ
=
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tỷ suất tự tài trợ cho biết nguồn vốn chủ sở hữu đã dùng vào TSCĐ và các
khoản đầu tư dài hạn là bao nhiêu. Nếu doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt thì
nguồn vốn chủ sở hữu phải đủ đầu tư TSCĐ và các khoản đầu tư dài hạn để hoạt
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
14
Khóa luận tốt nghiệp
động. Mặt khác nếu vốn chủ sở hữu đầu tư quá nhiều vào TSCĐ sẽ bất lợi vì lợi
nhuận trong kinh doanh thu được chủ yếu là do chu chuyển các TSCĐ.
Ngoài ra xét về cấu trúc tài chính KTV còn sử dụng tỷ suất nợ, tỷ suất này được
trình bày ở nhóm tỷ suất đánh giá rủi ro trong kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
c. Nhóm tỷ suất về khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lợi liên quan đến lượng thu nhập đạt được với các nguồn lực sử
dụng để tạo ra chúng. Những tỷ suất lợi nhuận KTV quan tâm là: tỷ lệ lợi nhuận trên
tổng tài sản (ROA - return on assets), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE - return
on equity), tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS - return on sales)
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản liên quan đến thu nhập ròng và tổng tài sản
của công ty, được tính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
theo vốn chủ sở hữu (ROA)
=
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
Tổng tài sản

lý kiểm soát chi phí tốt, hoặc cả hai. Trái lại, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu giảm có
thể báo hiệu chi phí đang vượt tầm kiểm soát của cấp quản lý, hoặc công ty đó đang
phải chiết khấu để bán sản phẩm hay dịch vụ của mình.
KTV có thể sử dụng phân tích tỷ suất sinh lợi để đánh giá khả năng thu nhập
trong tương lai của một công ty và để xác định những lĩnh vực mà hiệu suất hoạt
động bị hạn chế để tiến hành điều chỉnh..
d. Nhóm tỷ suất đánh giá rủi ro kinh doanh trong kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ số nợ trên tổng
tài sản
=
Tổng số nợ
Tổng tài sản
Tỷ suất này phản ánh trong tổng số tài sản hiện có của công ty thì có bao nhiêu
đồng do vay nợ mà có. Nếu hệ số này càng tăng thì rủi to về tài chính của công ty
càng lớn.
Hệ số nợ ngắn hạn trên
tổng tài sản ngắn hạn
=
Tổng số nợ ngắn hạn
Tổng tài sản ngắn hạn
Tỷ suất này cho rằng trong tổng tài sản ngắn hạn của công ty đang sử dụng vào
quá trình sản xuất kinh doanh có bao nhiêu đồng do vay nợ mà có. Nếu hệ số này
càng tăng thì rủi ro và tài chính của công ty càng lớn và ngược lại.
Hệ số thu
hồi nợ
=
Doanh thu thuần (giá vốn – bán hàng trả chậm)
Tổng số các khoản nợ phải thu
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
16

Hệ số quay vòng HTK
Hệ số thanh toán lãi vay
Hệ số thanh
toán lãi vay
=
Lãi thuần từ hoạt động SXKD (trước thuế) + chi phí lãi vay
Lãi vay phải trả
Chỉ tiêu trên phản ánh cứ một đồng lãi vay phải trả của công ty thì thu được bao
nhiêu đồng lãi trước thuế từ doạt động SXKD và chi phí lãi vay. Hệ số này có thể sảy
ra một trong các trường hợp sau:
- Nếu hệ số thanh toán lãi vay = 1 thì công ty không có lãi
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
17
Khóa luận tốt nghiệp
- Nếu hệ số thanh toán lãi vay > 1 và càng lớn hơn 1 bao nhiêu thì hoạt động
SXKD của công ty càng có hiệu quả bấy nhiêu. Công ty không những hoàn
trả được vốn vay mà còn trả được cả lãi vay.
- Nếu hệ số thanh toán < 1 và càng nhỏ hơn 1 bao nhiêu thì rủi ro về tài chính
của công ty càng lớn, công ty cần có biện pháp khắc phục ngay, nếu không
sẽ có nguy cơ phá sản.
1.1.3 Phương pháp tiến hành các kỹ thuật phân tích
Mức độ tin cậy của bằng chứng thu thập được khi kiểm tra tính hợp lý được
xem là cao nhất vì kiểm tra tính hợp lý kết hợp các dữ liệu hoạt động, dữ liệu tài
chính và được lập để kiểm tra sự tương quan giữa hai loại dữ liệu này. Phân tích tỷ
suất dựa trên mối quan hệ giữa các báo cáo khác khau có mỗi liên quan nên phân tích
tỷ suất cũng cung cấp bằng chứng có giá trị. Phân tích xu hướng cung cấp thông tin
có độ tin cậy thấp nhất vì kỹ thuật này chủ yếu dựa trên dữ liệu của các năm trước.
Các bước sử dụng kỹ thuật phân tích như sau:
1.1.3.1 Chọn loại hình phân tích phù hợp
Khi chọn lọai hình phân tích , KTV có thể dựa theo hướng dẫn sau

tồn kho đặc trưng yêu cầu bảo quản đặc biệt thì biến hoạt động là số lượng
HTK bình quân trong tháng. Ngược lại KTV sẽ sử dụng biến hoạt động là
thời gian lưu kho bình quân của từng loại HTK.
- Thu thập số liệu cơ sở: KTV thu thập số liệu của các biến thông qua các tất
cả các phòng ban trong đơn vị khách hàng
- Xem xét tính độc lập và độ tin cậy của những số liệu cơ sở về hoật động và
về tài chính.
- Đưa ra dự đoán sử dụng mô hình mà KTV đã triển khai.
1.1.3.3 Dự đoán và so sánh dự đoán của kiểm toán viên với số liệu của đơn
vị được kiểm toán
Sau khi so sánh nếu có chênh lệch, KTV cần tìm hiểu nguyên nhân, nguyên
nhân có thể do sai sót trong mô hình của KTV hoặc có thể sai sót trong số dư tài
khoản. Để tìm hiểu nguyên nhân KTV phỏng vấn các nhà quản lý về hoạt động của
công ty để hoàn thiện mô hình. Đồng thời, KTV cần theo giõi và kiểm tra những
thông tin này.
1.1.3.4 Sử dụng đánh giá chuyên môn để rút ra kết luận về bằng chứng kiểm
toán thu thập được
Nếu KTV không thu được bằng chứng kiểm toán như dự tính tức là mức chênh
lệch giữa số liệu của KTV và số liệu của thực tế lớn hơn rất nhiều mức chênh lệch cho
phép thì KTV cần điều tra tính chất và nguyên nhân của chênh lệch đồng thời xem xét
ảnh hưởng của nó tới hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
19
Khóa luận tốt nghiệp
Nếu chênh lệch thấp hơn đáng kể so với mức chênh lệch cho phép thì KTV đã
đạt được mục tiêu kiểm toán. Nhưng để đảm bảo mức rủi ro thấp KTV cần xem xét
những phát hiện của KTV thu được có đáng tin cậy hay không.
Nếu chênh lệch này xấp xỉ độ chênh lệch cho phép thì KTV sẽ sử dụng các
đánh giá của mình để xem xét có nên thực hiện:
- Chấp nhận chênh lệch này là chênh lệch kiểm toán và chuyển nó vào bảng

đáng tin cậy.
1.1.4.3 Số liệu của nhiều năm
Để xác định xu hướng có ý nghĩa phân tích thì nên so sánh các tỷ số, các tỷ lệ
và các lượng tuyệt đối của nhiều kỳ với nhau thay vì chỉ so sánh với kỳ trước đó. Để
tạo điều kiện cho việc này các bảng kê tỷ số và các quá trình tính toán xu hướng phải
được đưa vào hồ sơ thường xuyên.
1.1.4.4 Số liệu được chia nhỏ
Sự phân tích trong các thể thức phân tích là việc KTV thực hiện khảo sát dựa
trên việc chia nhỏ các số liệu tạo thành các BCTC. Khi điều này được làm một các
hợp lý, thể thức phân tích đối với các số liệu được chia nhỏ có hiệu quả hơn với các
số liệu tổng hợp. Có hai cách chủ yếu để chia nhỏ số liệu: chia theo các đơn vị nhỏ
hơn hoặc theo các kỳ thời gian ngắn hơn. Sự chia nhỏ này làm tăng khả năng nhận
diện các sai số bù đắp và các sai số có thể bị bỏ qua trong quá trình khảo sát số liệu
tổng hợp.
1.1.4.5 Kỹ thuật thống kê
Một số kỹ thuật thống kê giúp việc diễn giải kết quả có thể được áp dụng cho
các thể thức phân tích. Ưu điểm của việc sử dụng kỹ thuật thống kê là khả năng làm
được các tính toán tinh vi hơn và có tính khách quan của chúng. Kỹ thuật thống kê
thông dụng nhất của các TTPT là phân tích hồi quy. Phân tích hồi quy được sử dụng
để đánh giá tính hợp lý của một số dư ghi sổ bằng cách liên hệ hồi quy số tổng cộng
với các thông tin thích hợp khác.
1.1.4.6 Phần mềm máy vi tính của Kiểm toán viên
Phần mềm kiểm toán dựa trên máy vi tính có thể được sử dụng để thực hiện các
thể thức phân tích sâu rộng như một sản phẩm phụ của việc khảo sát kiểm toán khác.
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
21
Khóa luận tốt nghiệp
Lợi ích của các thể thức phân tích sử lý bằng máy vi tính là sự việc cập nhật hóa các
tính toán dễ dàng khi thực hiện các bút toán điều chỉnh cho các báo cáo của khách
hàng. Nếu có một vài bút toán điều chỉnh cho các sổ sách của khách hàng các tính

kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra kể từ kiểm
toán lần trước.
- Tăng cường sự hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của khách hàng
và giúp KTV xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động liên tục
của công ty khách hàng.
Qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán, KTV có thể xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán BCTC. Mức độ phạm
vi và thời gian áp dụng các TTPT thay đổi tùy thuộc vào quy mô và tính phức tạp
trong hoạt động kinh doanh của khác hàng.
1.2.1.2 Phương pháp tiến hành thủ tục phân tích
Quy trình phân tích trong giai đoạn lập KHKT bao gồm các bước công việc sau:
Bước 1: Thu thập thông tin tài chính và phi tài chính
Thông tin tài chính và phi tài chính đều có tác động ảnh hưởng tới BCTC vì vậy
KTV cần phải thu thập đầy đủ các thông tin tài chính và phi tài chính của năm hiện
hành và những năm trước đó. Các thông tin này bao gồm:
- Các thông tin về nghĩa vụ pháp lý
- Các thông tin về tình hình kinh doanh: Các BCTC, các thông tin liên quan
đến môi trường kinh doanh, pháp luật, công nghệ ảnh hưởng tới SXKD…
- Các thông tin về hệ thống KSNB: Điều lệ, quy chế hoạt động, Sơ đồ tổ chức
bộ máy quản lý, Biên bản họp hội đồng quản trị và ban giám đốc…
- Các thông tin về thuế, về nhân sự, về kế toán
- Các chính sách tài chính của công ty: chính sách tài chính, giá cả. tín
dụng…
Bước 2: So sánh thông tin thu được
Kiểm toán viên tiến hành so sánh các thông tin đã thu thập được nhằm mục đích
khoanh vùng có thể xảy ra sai sót. Thường chú ý đến các vấn đề sau:
- Những biến động bất thường, những số dư tài khoản không thường xuyên.
Thí dụ: Thông tin về tiêu thụ hàng hóa bán ra trong năm lớn nhưng doanh
SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
23

SV: Hoàng Thị Mai Lan Lớp: Kiểm toán 46A
24
Khóa luận tốt nghiệp
Qua kết quả của TTPT sơ bộ, KTV xó thể xác định rủi ro kiểm toán cho từng
khoản mục trên BCTC từ đó lựa chọn các khoản mục chứa đựng rủi ro nhất để tập
trung nhiều hơn trong quá trình thực hiện kiểm toán.
1.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán
1.2.2.1 Mục tiêu của thủ tục phân tích
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 đoạn 11: “ Trong quá trình kiểm
toán, nhằm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính,
KTV phải thực hiện quy trình phân tích hoặc kiểm tra chi tiết hoặc kết hợp cả hai.
Nhằm xác định thủ tục kiểm toán thích hợp cho một mục tiêu kiểm toán cụ thể, KTV
phải xét đoán hiệu quả của từng thủ tục kiểm toán”
1.2.2.2 Phương pháp tiến hành thủ tục phân tích
Quy trình phân tích trong giai đoạn thực hiện kiểm toán thông thường trải qua
các giai đoạn sau:
Bước 1: Phát triển một mô hình - Kết hợp với các biến tài chính và hoạt động
Khi phát triển một mô hình KTV xác định các biến tài chính và mối quan hệ
giữa chúng. Ví dụ Chi phí bán hàng có thể là sản phẩm của các biến như số lượng
nhân viên bán hàng và doanh số bán bình quân của mỗi nhân viên.
Căn cứ vào mục đích cụ thể của việc áp dụng TTPT và thông tin các dữ liệu,
KTV tiến hành lựa chọn các biến cụ thể để xây dựng mô hình. Hay nói cách khác với
từng mô hình là nhằm mục đích dể sự đoán số dư tài khoản hiện tại hay để dự đoán
thay đổi so với số dư của năm trước. Khi số dư của năm trước đã được kiểm toán thì
việc dự đoán thay đổi của năm hiện hành so với năm trước là có hiệu lực. Khi đó có
thể loại ra khỏi mô hình những biến độc lập không đổi so với năm trước.Ví dụ một
hãng cho thuê ôtô để ước tính doanh thu năm nay thì sử dụng tỉ lệ thuê ôtô trong năm,
tổng số ôtô và giá cho thuê. Cũng có thể tính doanh thu hiện tại dựa trên doanh thu
năm trước và những thay dổi về tỷ lệ thuê ôtô trong suốt năm hiện tại so với năm
trước nếu giá thuê không đổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status